ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
W X NGUYỄN ĐÌNH QUỐC CƯỜNG Chuyên ngành: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 62 22 80 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013
sinh trên đất nước ta những tâm lý, tình cảm, những quan niệm và lối
sống xa lạ, thậm chí đối lập với các giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc
cũng như định hướng xây dựng và phát triển xã hội ta hiện nay. Những
yếu tố xa lạ ấy thẩm thấu đến đâu, dẫn đến hậu quả như thế nào,… đều
tùy thuộc vào sức mạnh nội sinh của xã hội ta, tức của nền văn hóa dân
tộc. Sự vững mạnh đó sẽ tạo ra sức đề kháng, đẩy lùi những độc tố mới
nảy sinh, đồng thời có khả năng hấp thụ những nhân tố mới lành mạnh,
bổ ích.
Nhận thức sâu sắc tình hình đó, Đảng ta đã đặt nhiệm vụ giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc vào vị trí cần quan tâm đặc biệt
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế
2
cần đặc biệt quan tâm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và
luôn coi đó vừa là một nhiệm vụ văn hóa, vừa là một nhiệm vụ chính trị,
là điều kiện tất yếu để hội nhập thành công vào thế giới, xây dựng và
bảo vệ thành công một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh vì lợi ích
chân chính và phẩm giá con người trên đất nước ta.
Ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay, trên đại thể, cũng tương tự như các địa
phương khác trên đất nước ta, đang trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.
Vì thế, nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Đắk
Lắk cũng có những thuận lợi và khó khăn chung như cả nước; nhưng
đồng thời, do điều kiện tự nhiên, lịch sử và văn hóa có tính đặc thù của
địa phương quy định, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở
tỉnh Đắk Lắk có những thuận lợi và khó khăn của riêng mình.
Trong những năm qua, nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân
dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam là rất lớn và đã đạt được những thành tựu
quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ về mọi mặt của
tỉnh nhà nói riêng, của khu vực Tây Nguyên và cả nước nói chung. Tuy
tộc đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều chuyên gia, học giả, các
nhà hoạch định chính sách, các tổ chức quốc tế, và có nhiều công trình
khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về đề tài này đã được
công bố. Tiêu biểu trong số đó có các công trình sau:
“Bản sắc dân tộc” được xuất bản bởi Ben-gơn Búc-óp Luân Đôn
(Penguin Books of London), Anh, vào năm 1991 và “Bản sắc dân tộc và
ý tưởng thống nhất châu Âu” đăng trên Tạp chí Các vấn đề quốc tế của
Học viện Hoàng gia, Vol. 68, số 1 (tháng Giêng, 1992) của An-thô-ny D.
Sơ-mit (Anthony D. Smith); “Bản sắc văn hoá và quá trình toàn cầu”
của Dôn-na-than Phơ-rít-man (Jonathan Friedman), được xuất bản bởi
Khoa Nhân học, Đại học Tét-su-đơ (Teessude), 1994; “Các câu hỏi về
bản sắc văn hóa” của Sơ-tu Hao (Stuart Hall) và Pao-Đu-Gay (Paul Du
Gay), Nxb. SAGE, Anh, 1996; “Chính trị, bản sắc văn hoá: Công dân
và quốc gia trong một kỷ nguyên toàn cầu”, của Pi-tơ Quay-lét Pơ-rét-
tơn (Peter Wallace Preston), Nxb. Biu-đơ-lét (Biddles), Anh, 1997;“Một
vài khác biệt giữa chính trị và bản sắc văn hóa dân tộc ở Canada” của
Ê-va Mác-cây (Eva MacKey), được xuất bản bởi Đại học Tô-rôn-tô Pơ-
rét In-co-pô-ra-tít (Toronto Press Incorporated), 2002; “Sự va chạm của
các nền văn minh”, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2003, của Sa-mu-lơ Hung-
tin-tơn (Samuel Hungtington); “Chinh phục các làn sóng văn hóa”,
Nxb. Tri thức, 2006, của Phôn Trôm-pen-nát (Fons Trompenaars) và
Chắc-lơ Ham-đen Tu-nơ (Charles Hampden-Turner),…
Ở Việt Nam, bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đề tài bản
sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã thu hút sự
quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, các tổ chức chính trị, xã hội,
văn hóa và khoa học trên cả nước. Và, cho đến hiện nay, nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về đề tài này đã được công bố. Có thể khái
quát các công trình tiêu biểu trong số đó theo các chủ đề chính như sau:
Thứ nhất, lý luận chung về bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn
Khoa học xã hội, 2010;“Văn hoá và con người Việt Nam trong đổi mới
và hội nhập quốc tế” của GS,TS. Hoàng Chí Bảo, Nxb. Chính trị quốc
gia, 2010; “Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển văn hoá và
con người Việt Nam” do GS,TS. Dương Phú Hiệ
p (chủ biên), Nxb.
Chính trị quốc gia, 2010; “Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập” do GS,TS. Ngô
Đức Thịnh (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, 2010. Ngoài ra, còn
nhiều công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã
được công bố trong các hội thảo khoa học, trên các tạp chí khoa học,…
Như vậy, cho đến nay, khối lượng các công trình nghiên cứu về bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới của đất nước là khá đồ sộ, có giá
5
trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam trong những năm qua. Tuy nhiên, chưa có
công trình khoa học độc lập nào nghiên cứu một cách trực tiếp, có hệ
thống về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Do đó, tôi chọn vấn đề: “Giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu và viết công trình luận án tiến sĩ của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án: Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk;
xác định một số phương hướng và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án: Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung
giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc và
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam; những biểu hiện đặc thù của bản sắc
ở Trung ương và tỉnh Đắk Lắk; các số liệu, tài liệu do tác giả điều tra,
khảo sát thực tế.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án được thực hiện trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, đồng thời luận án có sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp lôgích, lịch sử, phân tích, tổng hợp,
so sánh, đối chiếu, diễn dịch, quy nạp, thống kê, loại suy, nghiên cứu
định tính, nghiên cứu định lượng, điều tra xã hội học,… để nghiên cứu
và trình bày luận án.
6. Cái mới của luận án
Thứ nhất, từ những tư tưởng mang tính gợi mở, đặt vấn đề của các
nhà khoa học về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và những giá trị văn
hóa đặc trưng của nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk, luận án làm rõ
tính đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk;
Thứ hai, luận án đã vạch ra, phân tích và đánh giá được thực trạng
giữ gìn và phát huy hệ giá trị tổng quát và những giá trị bộ phận của bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua;
Thứ ba, luận án đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm
giữ gìn và phát huy hệ giá trị tổng quát và những giá trị bộ phận của bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa lý luận, luận án làm sáng tỏ hệ giá trị của bản sắc văn
hóa dân tộc Việt Nam và những biểu hiện đặc thù của bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk, qua đó góp phần bảo vệ, phát triển
văn hóa Việt Nam – nền văn hóa thống nhất trong đa dạng.
Về ý nghĩa thực tiễn, từ những kết quả nghiên cứu lý luận và thực
tiễn của luận án về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam ở tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua, luận án cung cấp thêm
nguồn tư liệu cho các hoạch định, chính sách nhằm giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk trong quá trình đẩy
Latinh: Colo-Colere-Cultura nghĩa là cày cấy, vun trồng, liên quan đến
hoạt động tích cực cải tạo của con ng
ười. Về sau này từ này chuyển
nghĩa nói về tính chất khai trí, tính chất có giáo dục, có học vấn của bản
thân con người.
Trong thời kỳ cận đại, ở phương Tây, do nhu cầu phản ánh các hoạt
động xã hội ngày càng đa dạng, phong phú, nhiều định nghĩa văn hóa đã
được đề xuất và lưu hành. Trong đó, định nghĩa của TayLơ (E.B.Tylo)
trong cuốn Văn hóa nguyên thủy, xuất bản ở Luân Đ
ôn năm 1871, được
xem là định nghĩa đầu tiên có tính kinh điển về văn hóa. Định nghĩa này
nêu: “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao
gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và
những khả năng và tập quán khác mà con người đạt được với tư cách là
thành viên xã hội”
2
.
1
Phan Bội Châu, Chu Dịch, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1996, tr.347.
2
Đại học quốc gia Hà Nội, Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1996, tr.52.
8
Trong sinh hoạt học thuật ở các nước thuộc hệ thống xã hội chủ
nghĩa trước đây, thuật ngữ văn hóa được sử dụng phổ biến theo nghĩa là
“Toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
trong quá trình thực tiễn xã hội – lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt
được trong lịch sử phát triển xã hội”
và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn, xã hội -
lịch sử của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh
thần.
Văn hóa là một hiện tượng xã hội. Và, cũng như mọi hiện tượng xã
hội khác, văn hóa luôn nằm trong quá trình phát triển và biến đổi không
ngừng theo những quy luật của bản thân nó. Có thể khái quát về những
quy luật phát triển cơ bản của văn hóa đó là: Quy luật về sự phù hợp
3
Từ điển triết học, Nxb. Tiến bộ, Mátxítcơva, 1986, tr.656.
4
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.431.
9
giữa phát triển văn hóa với cơ sở kinh tế, chính trị; quy luật kế thừa
trong quá trình phát triển của văn hóa; quy luật giao lưu và tiếp biến
trong sự vận động, phát triển của văn hóa.
Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc
Bản sắc văn hóa dân tộc là một khái niệm cho đến nay vẫn còn
nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau. Tác giả cuốn Về bản lĩnh văn
hóa Việt Nam, Hồ Sỹ Vịnh lý giải rằng: “Bản sắc văn hóa dân tộc là một
phạm trù rộng, bao quát một cách uyển chuyển, linh hoạt nhiều đặc điểm
của một dân tộc để tạo nên một bộ mặt, hình dáng, cốt cách của dân tộc
ấy không đồng nhất với các dân tộc khác trong khu vực và trên thế
giới”
5
. Trong cuốn sách Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam,
tác giả Ngô Đức Thịnh đã đề xuất quan niệm cho rằng: “Bản sắc văn hóa
dân tộc là một tổng thể các đặc trưng của văn hóa, được hình thành, tồn
Ngô Đức Thịnh (2010), Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.29.
10
nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế
trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc dân tộc còn đậm nét
trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”
7
.
Từ quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nêu trên, chúng
tôi thấy, trong các yếu tố thuộc về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, có
thể coi: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần
đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ
quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần
cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối
sống” là hệ giá trị tổng quát, nó bao quát, bao trùm ở mọi con người,
mọi gia đình, mọi cộng đồng và cả dân tộc Việt Nam; Còn: “các hình
thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” là những giá trị bộ phận, biểu
hiện trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống, của mỗi dân tộc, mỗi địa
phương, tập trung nhất là ở di sản văn hóa dân tộc. Trong luận án này,
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được xem xét theo cả hai phương
diện: Hệ giá trị tổng quát và những giá trị bộ phận.
1.2. TÍNH ĐẶC THÙ CỦA BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
VIỆT NAM Ở TỈNH ĐẮK LẮK
1.2.1. Khái quát về tỉnh Đắk Lắk
Điều kiện địa lý tự nhiên của tỉnh Đắk Lắk
Vị trí địa lý, tỉnh Đắk Lắk nằm trên địa bàn Tây Nguyên, có diện
tích tự nhiên 13.085 km
2
, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh
Lâm Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh Đắk Nông, phía Đông giáp hai tỉnh
ngược lại.
Mạng lưới Bưu chính viễn thông đang được hiện đại hoá đáp, ứng
nhu cầu của nhân dân trong các nghiệp vụ bưu chính, bưu phẩm, điện
báo, điện thoại, fax thư từ, báo chí,
Mạng điện lưới quốc gia, đã hoà mạng ở 100% số huyện; 76% số
xã, phường có điện; 46% số hộ được dùng điện.
Về tốc độ tăng trưởng kinh tế, những năm qua, tốc độ tăng trưởng
kinh tế của tỉnh Đắk Lắk đạt khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng
hướng, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại
hóa nông nghiệp và nông thôn.
Về giáo dục – đào tạo, trong những năm qua, ngành giáo dục đào
tạo được tỉnh Đắk Lắk quan tâm đầu tư thích đáng và đã đạt được nhiều
thành tựu, góp phần nâng cao trình độ dân trí ở địa phương.
Về y tế, tại Đắk Lắk, mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được quan
tâm củng cố, cán bộ y tế cơ sở được tăng cường.
1.2.2. Những biểu hiện đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam ở tỉnh Đắk Lắk
Thứ nhất, nét đặc thù của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường
dân tộc biểu hiện trong các hoạt động bảo vệ buôn làng và bảo vệ những
giá trị văn hóa truyền thống có tính đặc trưng của nhân dân các dân tộc
bản địa ở tỉnh Đắk Lắk;
Thứ hai, nét đặc thù về tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết
cá nhân - làng xã - Tổ quốc biểu hiện trong tổ chức đời sống cộng đồng
của nhân dân các dân tộc bản địa ở tỉnh Đắk Lắk;
Thứ ba, nét đặc thù về lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình,
đạo lý biểu hiện ở quan hệ ứng xử của nhân dân các dân tộc bản địa ở
tỉnh Đắk Lắk;
Thứ tư, nét đặc thù về đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động biểu
hiện trong các hoạt động xây dựng nhà cửa và chế tác trang phục, trang
sức;
đó tiềm ẩn trong tâm thức, trong cốt cách của con người và được thể
hiện ra trong mọi mặt đời sống, trong mọi hoạt động và quan hệ của con
người và trong di sản văn hóa của mỗi dân tộc.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên
qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Lòng yêu
nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng
đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái,
khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao
động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc dân
13
tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc
đáo.
Do những nét đặc thù của môi trường tự nhiên, lịch sử mà tỉnh Đắk
Lắk ra đời và tồn tại, của các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, của các
quan hệ cụ thể trong tiếp xúc, giao lưu văn hóa mà cộng đồng cư dân ở
đây đã trải qua trong lịch sử của mình đã tạo ra những nét đặc thù của
văn hóa Đắk Lắk, của con người Đắk Lắk, biểu hiện tập trung và nổi bật
nhất ở các cộng đồng dân tộc bản địa trong các hoạt động: bảo vệ buôn
làng và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống; tổ chức đời sống
cộng đồng; quan hệ ứng xử; xây dựng nhà cửa và chế tác trang phục,
trang sức; lối sống và trong tiếng nói – chữ viết, nhạc cụ dân gian, văn
học dân gian, luật tục, trang phục, nghi lễ - lễ hội, kiến trúc nhà ở và
nhà sinh hoạt động đồng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam nói chung, sự
nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam nói riêng, Đảng
ta luôn quan tâm thích đáng đến vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc, đặc biệt là trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Chương 2
giá trị có tính đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk
Lắk.
Về tác động tiêu cực
Thứ nhất, cùng với mặt tiêu cực của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa những cái xấu, cái phản giá trị có điều kiện thâm nhập vào
đời sống nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk; Thứ hai, mặt trái của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang làm phá vỡ những giá trị có tính đặc
thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk.
2.1.3. Tác động của hội nhập quốc tế đối với việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk
Về tác động tích cực
Thứ nhất, hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho nhân dân các dân tộc ở
tỉnh Đắk Lắk mở rộng giao lưu văn hóa với thế giới, chọn lọc, tiếp thu
các giá trị văn hoá của nhân loại, làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc của
mình; Thứ hai, hội nhập quốc tế là cơ hội để khẳng định những giá trị có
tính đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk và
sức sống của nó trên thế giới; Thứ ba, hội nhập quốc tế là cơ hội để tỉnh
Đắk Lắk tranh thủ các nguồn lực vật chất, công nghệ, tài chính, của thế
giới để góp vào việc giữ gìn, phát huy và phát triển những giá trị có tính
đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk.
Về tác động tiêu cực
Thứ nhất, dưới tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế có thể làm
phai mờ những giá trị có tính đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam ở tỉnh Đắk Lắk; Thứ hai, dưới tác động tiêu cực của hội nhập quốc
tế, những giá trị có tính đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở
tỉnh Đắk Lắk đang bị biến đổi; Thứ ba, mặt trái của hội nhập quốc tế
đang làm nảy sinh những lệch lạc trong nhận thức và trong hoạt động
15
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở tỉnh
Đắk Lắk; Thứ tư, lợi dụng hội nhập quốc tế các thế lực thù địch với chế
huy,…
Tuy nhiên, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam ở tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua, bên cạnh những kết quả khả
quan, vẫn còn một số hạn chế. Đó là tình trạng tinh thần đoàn kết, ý thức
cộng đồng gắn kết cá nhân – làng xã – Tổ quốc có phần bị phai nhạt; bị
lu mờ trong một bộ phận không nhỏ nhân dân, nhất là trong giới trẻ ở địa
phương,
16
Về giữ gìn và phát huy lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình,
đạo lý
Trong những năm qua, nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk cũng
đã giành được những thành tựu quan trọng trong việc giữ gìn và phát
huy lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, như đa phần
nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk vẫn giữ được “tấm lòng vàng”,
không quên những mảnh đời còn khó khăn vất vả,…
Tuy nhiên, trong những năm qua, dưới tác động tiêu cực của của
kinh tế thị trường, tình trạng “sùng bái” đồng tiền đã phần nào len lỏi
vào đời sống nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk như bất chấp những
giá trị văn hóa truyền thống của người Việt Nam để chạy theo đồng tiền,
đánh mất đi lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, ảnh hưởng đến lòng nhân ái,
khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý của người Việt Nam,
Về giữ gìn và phát huy đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động
Ngày nay, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì những phẩm chất ấy
vẫn được lưu giữ trong nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk,
Tuy nhiên, trong những năm qua còn một bộ phận cá nhân trong
nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk chạy theo lối sống xa hoa thực
dụng, đua đòi vật chất, ăn chơi sa đọa, tiêu xài phung phí không lo lao
động học hành,
Về giữ gìn và phát huy sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối
hệ giữa kinh tế với văn hóa – xã hội; hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị
của di sản văn hóa dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk chưa hiệu quả.
2.3. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN
CHẾ TRONG VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC VIỆT NAM Ở TỈNH ĐẮK LẮK
2.3.1. Nguyên nhân của những thành tựu
Những thành tựu của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua có nhiều nguyên
nhân, nhưng có thể khái quát thành những nguyên nhân chính như sau:
Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, công tác giữ gìn, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam nói chung và những giá trị văn hóa đặc thù của nhân
dân các dân tộc thiểu số nói riêng được Đảng và Nhà nước ta rất quan
tâm; Thứ hai, tỉnh Đắk Lắk đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các quá trình
này đã phát huy các nguồn lực của tỉnh Đắk Lắk nên các cấp chính
quyền tỉnh Đắk Lắk có điều kiện hỗ trợ kinh phí để bảo tồn và phát huy
những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nơi đây.
Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, các nội dung của nhiệm vụ giữ gìn, phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk đã được lồng ghép và cụ thể hóa
vào các phong trào thi đua yêu nước; Thứ hai, có sự phối hợp thường
xuyên, chặt chẽ, thống nhất chỉ đạo và hướng dẫn, tổ chức thực hiện
giữa các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, cùng với đó là sự hưởng ứng
tích cực của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Đắk Lắk; Thứ ba, công tác
tuyên truyền, giáo dục những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc Việt
Nam ở tỉnh Đắk Lắk được các cấp chính quyền, đoàn thể nhân dân ở tỉnh
Đắk Lắk quan tâm đẩy mạnh, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục rộng rãi
trong nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk.
18
đúng, chưa rõ về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, về nhiệm vụ giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở địa phương; Thứ hai,
mức đầu tư ngân sách cho việc giữ gìn và phát huy bả
n sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk còn thấp; Thứ ba, các phong trào, các cuộc
vận động quần chúng nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk trong việc xây dựng nếp
sống văn minh, bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh
Đắk Lắk chưa được đẩy mạnh và duy trì một cách thường xuyên, liên
tục; Thứ tư, công tác nghiên cứu, sưu tầm về bản sắc văn hóa tộc Việt
Nam và những giá trị văn hóa có tính đặc trưng của nhân dân các dân tộc
ở tỉnh Đắk Lắk còn rất hạn chế, thiếu khả năng dự báo và định hướng;
19
Thứ năm, đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở tỉnh Đắk Lắk vừa thiếu
về số lượng, vừa yếu về chất lượng, phân bố không đồng đều, nhiều
vùng trong tỉnh.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh
Đắk Lắk hiện nay chịu tác động của nhiều nhân tố. Tuy nhiên, trong
những năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và các tầng lớp nhân dân các
dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk, trong khi tập trung phát triển kinh tế, cũng đã
đồng thời có sự quan tâm và những nỗ lực rất lớn và đạt được những
thành tựu quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk trên cả hai phương diện: Hệ giá trị tổng
quát và những giá trị bộ phận.
Về hệ giá trị tổng quát, trong những năm qua, hệ giá trị tổng quát
của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm: Lòng yêu nước nồng
nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết
cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng
nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế
trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống cơ bản được nhân dân các dân
quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là nguyên nhân chủ quan.
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
VIỆT NAM Ở TỈNH ĐẮK LẮK HIỆN NAY
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM Ở TỈNH ĐẮK LẮK
3.1.1. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh
Đắk Lắk để làm nền tảng tinh thần và động lực cho sự phát triển nhanh
và bền vững của địa phương
3.1.2. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh
Đắk Lắk phải chú trọng những giá trị văn hóa có tính đặc thù của địa
phương
3.1.3. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh
Đắk Lắk là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành và nhân dân các dân
tộc trên địa bàn tỉnh
3.1.4. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh
Đắk Lắk phải có ý chí quyết tâm và tinh thần sáng tạo
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM GIỮ GÌN VÀ PHÁT
HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM Ở TỈNH ĐẮK
LẮK HIỆN NAY
3.2.1. Nhóm giải pháp về giữ gìn và phát huy hệ giá trị tổng
quát của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk
Lắk;
Thứ hai, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh tại địa phương
Thứ ba, xây dựng nhân cách, đạo đức, lối sống văn hóa trong nhân
dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk;
Thứ tư, xây dựng một nền văn hóa thống nhất – đa dạng tại địa
phương.
tạo nguồn lực cán bộ quản lý văn hóa có tâm huyết và trình độ chuyên
môn phù hợp; phát huy sức dân, vai trò của những người có uy tín trong
các dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk.
KẾT LUẬN CHUNG
Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn, xã hội - lịch sử của mình trên cả hai
lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần.
Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể các giá trị đặc trưng, tiêu biểu,
phản ánh tính chất, tính cách, phẩm chất của mỗi dân tộc, là dân hiệu cơ
bản để phân biệt văn hoá của dân tộc này với dân tộc khác. Những giá trị
22
đó tiềm ẩn trong tâm thức, trong cốt cách của con người và được thể
hiện ra trong mọi mặt đời sống, trong mọi hoạt động và quan hệ của con
người và trong di sản văn hóa của mỗi dân tộc.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên
qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Lòng yêu
nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng
đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái,
khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao
động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc dân
tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc
đáo.
Do những nét đặc thù của môi trường tự nhiên, lịch sử mà tỉnh Đắk
Lắk ra đời và tồn tại, của các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, của các
quan hệ cụ thể trong tiếp xúc, giao lưu văn hóa mà cộng đồng cư dân ở
đây đã trải qua trong lịch sử của mình đã tạo ra những nét đặc thù của
văn hóa Đắk Lắk, của con người Đắk Lắk, biểu hiện tập trung và nổi bật
nhất ở các cộng đồng dân tộc bản địa trong các hoạt động: Bảo vệ buôn
làng và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống; tổ chức đời sống
tộc ở tỉnh Đắk Lắk bảo tồn, tăng cường củng cố, nâng cao, phát huy và
phát triển.
Về những giá trị bộ phận của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam,
biểu hiện tập trung nhất là ở di sản văn hóa dân tộc. Trong những năm
qua, công tác giữ gìn và phát huy những giá trị bộ phận của bản sắc văn
hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk biểu hiện tập trung nhất là ở di sản
văn hóa dân tộc cơ bản được chính quyền và nhân dân các dân tộc tại địa
phương quan tâm, đầu tư, có bước phát triển về quy mô cũng như chiều
sâu và đã đạt được những kết quả khả quan.
Những thành tựu trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk trên cả hai phương diện: Hệ giá trị
tổng quát và những giá trị bộ phận trong những năm qua đã góp phần
quan trọng vào việc củng cố sức mạnh nội sinh thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, tăng
cường sự đoàn kết giữa các dân tộc cũng như tạo cơ sở cho việc thực
hiện bình đẳng dân tộc ở địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng, việc giữ gìn và
phát huy hệ giá trị tổng quát và những giá trị bộ phận b
ản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua vẫn còn không ít
những hạn chế, bất cập cần khắc phục. Đối với hệ giá trị tổng quát, đó là
tình trạng suy giảm lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc; tình trạng
phai nhạt, lu mờ tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái,
trọng nghĩa tình; tình trạng chạy theo lối sống xa hoa, thự
c dụng, đua đòi
vật chất, ăn chơi sa đọa, tiêu xài phung phí,… Đối với những giá trị bộ
phận, đó là xu hướng biến dạng, mai một, đánh mất các giá trị di sản văn
hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk trong những