Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÝ THỊ PHƢƠNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


Tác giả luận văn

Lý Thị Phƣơng MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. 6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
6. Đóng góp của luận văn 6
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7
8. Kết cấu 7
NỘI DUNG 8
Chƣơng 1: BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU - NỘI DUNG VÀ
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI
CẢNH HIỆN NAY 8
1.1. Khái niệm về văn hóa, bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc 8
1.1.1. Khái niệm văn hóa 8
1.1.2. Bản sắc văn hóa 18
1.1.3. Bản sắc văn hóa dân tộc 20
1.2. Nội dung bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnhVĩnh Phúc 24
1.2.1. Đặc điểm dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam 24
1.2.2. Bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc 43
1.3. Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc Sán Dìu
ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay 51
Tiểu chƣơng 1 57


DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: So sánh ngôn ngữ [23,tr.12] 31
Bảng 1.2: So sánh ngôn ngữ Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Quảng Ninh 47
Bảng 1.3: So sánh ngôn ngữ Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Thái Nguyên 48
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta có 54 dân tộc anh em cùng cư trú trên dải hình chữ S, mỗi
dân tộc đều có bản sắc riêng của mình được kết tinh cùng với lịch sử trong
quá trình hình thành và phát triển. Cùng với dòng chảy thời gian và những
biến động của lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc cũng vận động và biến đổi
theo những quy luật nhất định, với sự đan xen giữa những yếu tố cũ và yếu tố
mới tạo nên những nét độc đáo riêng, đồng thời góp phần xây dựng nền văn
hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.
Ngày nay, đứng trước xu thế toàn cầu hóa vừa tạo ra những cơ hội lớn
cho sự phát triển mỗi dân tộc, đồng thời cũng xuất hiện không ít những thách
thức, khó khăn nguy cơ về sự đồng hóa văn hóa, sự đánh mất bản sắc văn hóa
và sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa. Do đó, việc khẳng định hệ giá
trị đang là một vấn đề có tính cấp thiết, vừa có tính thời sự, vừa có tính lâu
dài. Cần phải có chủ trương chính sách cụ thể trong việc giữa gìn và bảo
tồn các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc. Khẳng định tầm quan trọng
của vấn đề, tại Nghị quyết Trung ương V khóa VIII và Nghị quyết Trung
ương IX khóa XII, Đảng ta đã khẳng định xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam.

văn hóa Việt Nam trong quá trình tiếp biến văn hóa nhân loại. Qua đó,
khẳng định sự giao lưu văn hóa, cần phải có chính sách giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc.
Bên cạnh đó, cuốn“Văn hóa bản sắc văn hóa dân tộc” của tác giả Hồ
Bá Thâm (Nxb. Văn hóa thông tin. Hà Nội, 2012). Tác giả đã làm rõ bản chất,
đặc trưng của văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc và còn chỉ ra những thách 3
thức khó khăn trong điều kiện giữ gìn, phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay
trước sự tác động của kinh tế thị trường.
Ngoài ra, khi nghiên cứu về “Văn hóa Việt Nam trên con đường giải
phóng, đổi mới hội nhập và phát triển” tác giả Đỗ Huy, (Nxb. Thông tin -
Truyền thông, 2013). Được tác giả trình bày hành trình của quá trình giải
phóng, đổi mới và dự báo về bước phát triển mới của văn hóa Việt Nam trong
thời kỳ hội nhập và đưa ra những giải pháp cụ thể.
Nghiên cứu về bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số có“Bản sắc văn
hóa dân tộc Mông và giải pháp giữ gìn và phát huy các giá trị của nó ở Việt
Nam hiện nay” của Hoàng Xuân Lương. Luận án tiến sĩ Triết học, (Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2002). Tác giả đã tập trung vào khai thác
những đặc điểm hình thành và những đặc trưng của bản sắc dân tộc Mông và
đưa ra cái nhìn mới về bản sắc dân tộc Mông trước những tác động của kinh
tế thị trường.
Ngoài những nghiên cứu về bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số phải
kể đến “Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Mường ở tỉnh Phúc Thọ hiện nay” của Đinh Thị Hoa. Luận văn thạc sĩ
Triết học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006). Luận
văn đã phân tích rõ về khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Mường
qua các giá trị vật chất và giá trị tinh thần dước góc độ triết học.
Mặc dù, khai thách ở nhiều góc độ khác nhau, song các tác giả đều làm

tỉnh Vĩnh Phúc qua một số giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể dưới góc độ
dân tộc học. Tác giả hướng tới khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn
các giá trị của dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới.
Về cuốn “Văn hóa ẩm thực người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc” của Lâm
Quang Hùng (Nxb. Văn hóa dân tộc, 2013), được đề cập đến bởi những 5
phong ăn uống của người Sán Dìu trong đời sống hàng ngày và những đặc sản
của đồng bào.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc
khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa, văn hóa của dân tộc
Sán Dìu ở Việt Nam, khai thác trên phương diện phong tục tập quán, văn
hóa của đồng bào dân tộc dân tộc Sán Dìu nói chung, đồng bào dân tộc Sán
Dìu ở Vĩnh Phúc nói riêng chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu về bản sắc
văn hóa của dân tộc Sán Dìu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học.
Do đó, từ những hướng nghiên cứu trên
chưa có công trình nghiên
cứu, hội thảo khoa học nào bàn về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, đề tài
không trùng lặp với các đề tài, công trình nghiên cứu đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Sán Dìu, tầm quan trọng và thực
trạng giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc trong
bối cảnh hiện nay từ đó đề xuất một số giải pháp.
3.2. Nhiệm vụ
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc và tầm
quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở

hóa dân tộc Sán Dìu và phân tích thực trạng của những tác động của kinh tế
thị trường đến bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc. Qua đó
đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị tốt đẹp trong giai
đoạn hiện nay.
7
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả của cuộc nghiên cứu của đề tài có thể sử làm tài liệu tham khảo
trong giảng dạy bộ môn có liên quan như: Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác –Lênin, văn hóa học, dân tộc học, chính sách dân tộc, ở các nhà
trường, đồng thời làm tài liệu cho cán bộ hoạch định chính sách quản lý văn
hóa dân tộc trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
8. Kết cấu
Kết cấu luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương, 6 tiết, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1: Bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu – Nội dung và tầm quan
trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh
Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay.
Chương 2: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh
Vĩnh Phúc hiện nay- những nhân tố tác động, thực trạng và giải pháp. 9
văn đức rồi sau mới dùng vũ lực” văn hóa được dùng để đối lập với vũ lực.
Văn hóa phải được hình thành trong môi trường lành mạnh, ở đó con người
có những cách ứng xử văn minh, văn hóa mang tính giáo dục cao.
Quan niệm về văn hóa theo PGS.TS. Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là
một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích lũy qua quá trình hoạt động và thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội”[52,tr.10]. Văn hóa được đề cập khá
toàn diện và sâu sắc, văn hóa là một chỉnh thể, vừa mang tính đa dạng vừa là
sự thống nhất của nhiều thành tố, thông qua hoạt động thực tiễn của con
người những giá trị đó được kết tinh thành văn hóa. Tác giả khẳng định, văn
hóa trước hết phải có tính hệ thống để phân biệt với tính tập hợp. Từ đó, tạo
nên mối liên hệ giữa các hiện tượng thuộc về văn hóa, những quy luật về sự
hình thành và phát triển của nó.
Trong định nghĩa trên, tác giả còn cho ta thấy tính “giá trị” của văn hóa.
Tính giá trị được nhấn mạnh để phân biệt với phi giá trị. Sự phân biệt đó cho
phép ta có được cái nhìn biện chứng khách quan trong việc đánh giá tính giá
trị của sự vật hiện tượng, tránh được sự phủ định sạch trơn hay xu hướng cực
đoan trong việc tìm hiểu văn hóa.
Ở một khía cạnh khác, văn hóa với đặc trưng là tính nhân sinh, cho
phép phân biệt như một hiện tượng xã hội để văn hóa (vật chất do con người
sáng tạo ra) với các giá trị tự nhiên (nhân tạo).
Bàn về văn hóa, GS. Phan Ngọc khẳng định: “Văn hóa là mối quan hệ
giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế
giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo
cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối
quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một
kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các
11
hóa thông qua các phương thức sinh hoạt tức là các hoạt động sản xuất vật
chất và tinh thần, hoạt động nghệ thuậ. Văn hóa với tư cách là những giá
trị vật chất và giá trị tinh thần cho con người trong cuộc đấu tranh với tự
nhiên và trong cuộc đấu tranh xã hội. Chính nhờ có văn hóa mà con người
khác với động vật, không phải là động vật. Sự tiến bộ của văn hóa đánh
dấu sự trưởng thành của con người trên bước đường tiến hóa văn hóa đã
nâng người lên cao hơn động.
Qua những nghiên cứu về văn hóa các tác giả hầu hết đi khai thác văn hóa
theo chiều cạnh là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, nhưng mới chỉ
dừng lại ở góc độ văn hóa học chưa thực sự nêu bật được bản chất của văn hóa.
- Ở phương Tây: Văn hóa còn được quan niệm là những giá trị tinh
thần. Theo tiếng Latinh là Cultus animi là trồng trọt tinh thần. Do đó, văn hóa
được tìm hiểu bởi hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất: Văn hóa được hiểu
như là một sự “gieo trồng tư tưởng”. Khía cạnh thứ hai: Xem văn hoá như là
“tự nhiên thứ hai” do con người sáng tạo ra và đối lập với “tự nhiên thứ nhất”.
Đây là cách xem xét phổ biến trong quan niệm của các nhà tư tưởng thời kỳ
Phục Hưng và Cận Đại. Ở giai đoạn này, người ta đã nhận thấy văn hoá là kết
quả của sự phát triển của con người, đồng thời văn hoá là đặc trưng và cơ sở
để hình thành nên con người xã hội.
Có thể nói, trường phái triết học duy tâm cổ điển Đức đã có nhiều đóng
góp đáng kể trong việc xây dựng khái niệm văn hoá, tiêu biểu là I.Kant và
G.W.F.Hegel. Theo I.Kant: Văn hoá là giá trị của con người, hay đó là: Sự
phát triển những lực lượng tự nhiên của con người và là khả năng lấy mình
làm mục đích, bằng cách sử dụng tự nhiên làm phương tiện để đạt được mục
đích tự do và khả năng của con người có thể lấy mình với tư cách một tồn tại
tự do làm mục đích cuối cùng của sự tồn tại của mình. Ở đây I.Kant đã coi
con người là tồn tại tối cao, với quan niệm này đưa ông tới chỗ tuyệt đối hoá
13
Lao động là hoạt động mà ở đó xác lập và thể hiện mối quan hệ giữa
con người – tự nhiên, con người – xã hội và con người văn hóa, thông qua lao
động con người cải biến tự nhiên, tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của mình,
lao động là đặc thù của con người.
C.Mác khẳng định Mỗi bước tiến của lịch sử là một bước tiến của văn
hóa”, chủ nghĩa Mác thú nhận nó với tư cách là một hệ giá trị, bị chi phối
bởi các điều kiện lịch sử, năng lực thực hiện. Khi so sánh hoạt động của con
người và động vật, Trong Bản Thảo kinh tế triết học 1844. C.Mác cho rằng:
“Cố nhiên súc vật cũng sản xuất, nó xây dựng tổ, chỗ ở của nó như con ong,
con Hải Ly… nhưng súc vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó trực tiếp cần đến,
nó sản xuất một cách phiến diện; còn con người thì sản xuất một cách toàn
diện; con vật chỉ sản xuất và bị chi phối vởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con
người sản xuất ngay cả khi được giải phóng khỏi nhu cầu của thể xác và chỉ
khi giải phóng khỏi nhu cầu mới sản xuất chân chính của chữ đó, con vật mới
sản xuất ra bản thân nó, còn con người sản xuất ra toàn bộ thế giới tự
nhiên”[34,tr.136,137]. Con vật chỉ chế tạo theo kích thước và nhu cầu của loài
đó, còn con người có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loài nào ở đâu
cũng biết vận dụng cái bản chất có hữu của mình; Do đó con người cũng chế
tạo theo quy luật của cái đẹp.
Như vậy, có thể nói việc con người tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo
quy luật của cái đẹp là cái thuộc tính bản chất, quy định cái văn hóa trong
hoạt động của con người. Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành
và phát triển con người thì văn hóa là cái nôi thứ hai. Nếu tự nhiên là cái
quyết định sự tồn tại của con người với tư cách là một thực thể sinh vật thì
văn hóa là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực của bản chất người
gắn liền với các hoạt động sống của con người.



15
Theo quan niệm về Văn hoá giáo dục và Khoa học Liên hợp quốc
(UNESCO). Trong những hoạt động thúc đẩy phát triển văn hóa dân tộc ở các
quốc gia, UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay
có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc
cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã
hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những
quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín
ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, chính
văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý
tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con
người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án
chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi
không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt
trội lên bản thân” [61,tr.23,24]
Định nghĩa trên đã trình bày khái quát những nội dung, đặc trưng của
văn hóa. Văn hóa bao hàm hai lĩnh vực cơ bản là văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần. Đó là những cái tạo ra bản sắc riêng của cá nhân, cộng đồng
và xã hội.
- Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa.
Văn hóa sinh ra cùng với hoạt động của con người, do đó nó bao gồm
cả hoạt động sản xuất vật chất lẫn sản xuất tinh thần chính vì vậy, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan niệm mang tính khái quát cao:“Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích sống con người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo văn hóa nghệ thuật những
công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng, toàn
bộ những phát minh đó là văn hóa, văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh
hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. [36,tr.431]
17
Ngoài ra bàn về văn hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XI:về xây dựng và phát triển văn hóa, con người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Trong Nghị quyết
Đảng ta khẳng định mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam
phát triển toàn diện , hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân
tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học . Văn ho
́
a thực sự trở thành nền t ảng tinh
thần vững chắc của xa
̃

̣
i , là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát
triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đảng ta đã khẳng định tầm quan trọng của văn hóa, phản ánh toàn
bộ những giá trị do con người tạo đựng nên, văn hóa vừa là mục tiêu vừa
là nền tảng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đứng trên nền tảng
kiến trúc thượng tầng văn hóa, văn hóa được xem xét một cách toàn diện
trên chỉnh thể của nó.
Nhìn chung, tất cả các quan niệm về văn hóa như trên đều đưa đến cái
nhìn tổng thể, văn hóa là do con người sáng tạo ra, đó là toàn bộ những giá trị
vật chất và tinh thần.
Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, luận văn lựa chọn cách tiếp cận theo
quan niệm của tác giả Trần Ngọc Thêm, theo đó có thể hiểu: Văn hóa là toàn bộ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy trong quá
trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với tự nhiên và xã

nội sinh và ngoại sinh tạo thành linh hồn, sức sống bền vững của dân tộc, có
nét ưu trội đặc biệt hơn một số dân tộc khác, vừa mang tính ổn định tương
đối vừa biến đổi trong quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc
đó”.[50,tr.23] 19
Qua cách tiếp cận trên của các học giả Việt Nam: Bản sắc văn hóa biểu
hiện các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó
thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa. Đó là các giá trị được lưu giữ qua
các thời kỳ lịch sử nối tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác, hòa vào dòng chảy
liên tục của lịch sử văn hóa các dân tộc. Khi đã hình thành và trở thành truyền
thống của bản sắc văn hóa mang tính bền vững và có chức năng định hướng,
đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng. Song khái niệm bản
sắc văn hóa không phải là sự cố định, bất biến hoặc khép kín mà nó luôn vận
động và phát triển, bên cạnh sự phong phú và đa dạng, bản sắc văn hóa còn
mang tính lịch sử. Mọi sự vật hiện luôn tồn tại, vận động, bản sắc cũng vậy,
làm thích nghi với yêu cầu của thời đại. Trong tiến trình phát triển, yếu tố đặc
thù phù hợp với thực tiễn sẽ được phát huy, những yếu tố bảo thủ lạc hậu sẽ
bị bài trừ.
Như vậy, luận văn lựa chọn hướng tiếp cận bản sắc văn hóa theo quan
điểm của tác giả Hồ Bá Thâm: Bản sắc văn hóa là một kiểu tổng hợp, kết hợp
những phẩm chất, những giá trị văn hóa nội sinh và ngoại sinh tạo thành linh
hồn, sức sống bền vững của dân tộc, có nét ưu trội đặc biệt hơn một số dân
tộc khác, vừa mang tính ổn định tương đối vừa biến đổi trong quá trình lịch
sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc đó. Thật vậy, bản sắc văn hóa là nền
tảng tạo nên linh hồn của dân tộc, là những đường nét cụ thể biểu hiện sức
sống của mỗi tộc người trong tiến trình phát triển lịch sử.
Nếu như văn hóa là nội dung quan trọng trong kiến trúc thượng tầng,
bản sắc văn hóa luôn thể hiện nội dung bên trong có của văn hóa, đó là nét


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status