Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở việt nam hiện nay - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------

TRẦN HUY TẠO

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XHCN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------

TRẦN HUY TẠO

GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XHCN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60220301
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Ngô Đình Xây

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ..................................................... 9
8. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 9
B. NỘI DUNG ................................................................................................ 10
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA, BẢN SẮC
VĂN HÓA VÀ KINH TẾ THỊ TRƢỜNG .................................................. 10
1.1. Văn hóa và bản sắc văn hóa ..................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm văn hóa .......................................................................... 10
1.1.2. Khái niệm bản sắc văn hóa ............................................................. 16
1.1.3. Biểu hiện của bản sắc văn hóa Việt Nam và việc giữ gìn phát huy
nó............................................................................................................... 20
1.2. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam .................. 28
1.2.1. Quan niệm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam ................................................................................................... 28
1.2.2. Đặc điểm của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam ........................................................................................................... 36
1.2.3. Tác động của kinh tế thị trường tới vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc ....................................................................................................... 44
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 53

1


Chƣơng 2: HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN
SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ
TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM ......... 54
2.1. Hiện trạng giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ............................. 54
2.1.1. Kết quả của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam hiện nay ............................................................................................ 55
2.1.2. Hạn chế của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

đất nước phát triển bền vững. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành xây dựng
và phát triển kinh tế cũng như quá trình xây dựng nền văn hóa mới dường như
chúng ta vẫn còn quá đề cao vai trò của kinh tế và chưa thấy được sự tác động
to lớn của văn hóa đối với kinh tế. Chúng ta đã quá ưu tiên cho phát triển kinh
tế mà chưa nhận thức rõ được sự tác động trở lại của văn hóa đối với kinh tế
và quả thật trong quá trình phát triển vừa qua bên cạnh những mặt đạt được về
tốc độ tăng trưởng kinh tế chúng ta đang phải đối mặt với những tác động tiêu
cực về các vấn đề xã hội trong đó có vấn đề văn hóa. Đặc biệt, trong nền kinh
tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là chân, thiện, mỹ
(cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không
ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất hàng
hóa với số lượng ngày càng nhiều với chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu
cầu không ngừng tăng lên của xã hội; mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh
của các giá trị truyền thống, của đạo lý, dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái
hàng hóa, sùng bái tiền tệ, nghĩa là hạn chế xu hướng tiêu cực của hàng hóa
và đồng tiền “xuất hiện với tính cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản
chất con người, cũng như những mối liên hệ khác”. Hạn chế những tiêu cực
này chỉ có thể là văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa.

3


Cho đến nay, vấn đề mối quan hệ giữa văn hóa với sự phát triển đất
nước không phải một đề tài đã cũ. Bởi vì, với mỗi một vấn đề, tùy thuộc vào
từng thời điểm khác nhau, ở các lĩnh vực khác nhau chúng ta phải có cách tiếp
cận và đánh giá cụ thể. Thực tế chứng minh rằng vấn đề này đang được tiếp
tục nghiên cứu một cách sâu sắc, song hiện nay chưa có nhiều công trình
nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống từ góc nhìn của triết học văn
hóa và giá trị học. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định

- “Kỷ yếu hội thảo khoa học “Giá trị truyền thống trước những thách
thức của toàn cầu hoá” được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2001. Các bài
tham luận đều tập trung làm rõ thực chất của toàn cầu hoá và những thách
thức cũng như cơ hội của toàn cầu hoá đối với việc giữ gìn và phát huy những
giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam đồng thời bước đầu đề xuất một số
giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống đó trong bối
cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
- “Bước đầu tìm hiểu sự biến đổi giá trị truyền thống Việt Nam trong
bối cảnh toàn cầu hóa”, Hoàng Thị Ngát, Khóa luận tốt nghiệp, năm 2006,
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội. Khóa luận đề cập đến
một số vấn đề lý luận về giá trị truyền thống Việt Nam, về toàn cầu hóa. Bước
đầu khảo sát sự biến đổi một số giá trị truyền thống Việt Nam dưới tác động
của toàn cầu hóa. Sau cùng là đưa ra những giải pháp về kinh tế - xã hội, giáo
dục, pháp luật nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống trong giai
đoạn hiện nay.
- “Những cơ hội và thách thức đối với các giá trị truyền thống Việt
Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Võ Hoàng Anh, Luận văn thạc sỹ triết

5


học, năm 2007, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội. Luận
văn khắc họa rõ toàn cầu hóa và ảnh hưởng của nó đến các giá trị truyền
thống, cũng như giá trị truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
với những nội dung khá đặc sắc, sâu rộng, thiết thực.
- “Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn
cầu hóa”, Mai Thị Qúy, Tạp chí triết học (số 6).
- “Vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong
quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta”, Nguyễn Văn Lý, năm
1999, Tạp trí triết học (số 24).

hóa Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày một số vấn đề lý luận về văn hóa, bản sắc văn hóa và những
biểu hiện của bản sắc văn hóa Việt Nam
- Trình bày một số vấn đề lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và những tác động của kinh tế thị trường tới việc giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc.
- Phân tích thực trạng việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay và xác định một số vấn đề đặt ra trong quá trình này.
- Từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

7


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn tập trung phân tích và làm rõ sự cần thiết phải giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
- Luận văn đã lựa chọn và chỉ tập trung nghiên cứu một số giá trị văn
hóa cơ bản làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam như: chủ nghĩa yêu nước, tinh
thần nhân ái, ý thức cố kết cộng đồng, truyền thống hiếu học, kho tàng văn
hóa dân gian đặc sắc.
- Phạm vi thời gian: luận văn khảo cứu, xem xét việc giữ gìn và phát

Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, học tập các văn kiện Đảng, các
chuyên đề về chủ nghĩa xã hội và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Đóng góp thêm ý kiến cho việc tiếp tục đổi mới tư duy lý luận của Đảng trong
quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được trình bày trong 2 chương với 6 tiết.

9


B. NỘI DUNG
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA, BẢN SẮC
VĂN HÓA VÀ KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
1.1. Văn hóa và bản sắc văn hóa
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Lịch sử phát triển của văn hóa gắn liền với lịch sử phát triển của loài
người. Khi con người xuất hiện thì lịch sử văn hóa cũng bắt đầu. So với lịch
sử hình thành và phát triển của văn hóa, thuật ngữ văn hóa xuất hiện muộn
hơn. Đến thời cận đại từ “Văn hóa” mới trở thành một thuật ngữ khoa học.
Văn hóa là khái niệm được dùng phổ biến trong đời sống xã hội, thuật ngữ
này không những có nhiều nghĩa trong ngôn ngữ hàng ngày mà còn trong
các ngành khoa học khác nhau. Việc xác định nội hàm khái niệm này còn
nhiều ý kiến, vì trên thế giới hiện nay, có hàng trăm định nghĩa khác nhau
về văn hóa. Song, về cơ bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con
người sáng tạo để hình thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong
quá trình lao động, hoạt động thực tiễn. Các giá trị chuẩn mực đó tác động,
chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động
trên mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con người.

Sang thế kỷ XIX, từ nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau các nhà
khoa học hướng tới xác định văn hóa như đối tượng nghiên cứu của một
ngành khoa học độc lập. Năm 1871, E.B.Tylor công bố công trình văn hóa
nguyên thủy, coi văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cùng với những khả năng và tập
quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.
Những quan niệm sau C.Mác, của các nhà khoa học về văn hóa đề cập
đến rất nhiều định nghĩa văn hóa. Chẳng hạn, theo nhà ngôn ngữ học người

11


Pháp Jacques Derida: Văn hóa chính là cái tên chúng ta đặt cho điều bí ẩn
không cùng với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó… Năm
1982, tại Mêhicô, Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa vì sự phát triển đã
nêu ra định nghĩa: “Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể được coi là
toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm được
đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ bao gồm nghệ
thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ
thống giá trị truyền thống và tín ngưỡng”[35, Tr.23] .Trong định nghĩa này,
văn hóa được quan niệm là toàn bộ các giá trị tinh thần nhưng nhấn mạnh đến
đặc điểm có khả năng đặc trưng cho một xã hội hoặc một cộng đồng người.
Điều đó có nghĩa là trong quan hệ xã hội, trong phát triển phải tôn trọng bảo
tồn và phát huy những đặc điểm có tính riêng biệt đó.
Về căn bản, có thể liệt kê dưới đây ba định nghĩa nổi bật nhất, đó là
định nghĩa của chủ nghĩa Mác- Lênin, của UNESSCO và của Hồ Chí Minh.
Trong thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hóa (1988 – 1997),
Phederico Mayo – Tổng giám đốc UNESSCO lúc đó đưa ra quan niệm: “Văn
hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện
tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các

hóa là hành vi quan trọng trong quá trình sản xuất vật chất, là cái để con
người phân biệt với con vật. “Con vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu
cầu của loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước của bất
cứ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối
tượng; do đó con người cũng xây dựng theo quy luật của cái đẹp”[36, Tr 137].
Bàn đến văn hoá và sự phát triển của văn hoá, chủ nghĩa Mác còn thừa
nhận, với tư cách là một hệ giá trị, văn hoá bị chi phối bởi những điều kiện lịch
sử, bởi năng lực thực hiện “ lực lượng bản chất người”. Mỗi bước tiến của lịch
sử là một bước tiến tương ứng của văn hoá. Như vậy có thể nói việc con người
tạo ra “thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cái đẹp là cái thuộc tính bản

13


chất, quy định cái văn hoá trong hoạt động của con người. Nếu tự nhiên là cái
nôi đầu tiên của sự hình thành và phát triển con người thì văn hoá là cái nôi
thứ hai. Nếu tự nhiên là cái quyết định sự tồn tại của con người với tư cách là
một thực thể sinh vật thì văn hoá là phương thức bộc lộ, phát huy những năng
lực bản chất người gắn liền với các hoạt động sống của con người. Con người
là thước đo của mỗi giá trị, còn văn hóa là thước đo nhân tính, sự sáng tạo và
thái độ của con người trước hiện thực. Quan niệm của Mác, Ănghen về văn
hóa đã được Lênin kế thừa và phát triển. Ông đề ra nguyên tắc quan trọng
trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới: tính đảng, tính nhân dân, tính dân
tộc và tính nhân loại trong văn hoá; xác định sự nghiệp văn hoá là một bộ
phận trong guồng máy cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản. Xác định tính kế thừa biện chứng của sự phát triển văn hóa, giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong văn hóa. Ở đây, Lênin đã
hiểu văn hóa theo nghĩa rộng, là những giá trị chung nhất, tồn tại và phát triển
qua nhiều chế độ xã hội, nhiều giá trị có ý nghĩa vĩnh hằng, văn hóa luôn gắn
liền với sự phát triển và toàn diện con người, hoàn thiện xã hội.

tộc được coi là thuộc tính cơ bản của văn hoá, phản ánh mối quan hệ giữa dân
tộc và văn hoá trong điều kiện dân tộc đã hình thành”. Do đó, khái niệm văn
hóa bao hàm trong nó tính chất nhân văn. Văn hóa có ý nghĩa quan trọng
trong cải tạo xã hội, hòa nhập với tự nhiên, xây dựng cuộc sống hợp lý của
con người. Đồng thời văn hóa có một cơ chế vận hành được quy định từ sự
tồn tại của con người trong các vùng địa văn hóa với các hoạt động sáng tạo
lâu đời của họ để duy trì, phát triển và tạo nên truyền thống.
Ở đây chúng ta cần tránh nhầm lẫn giữa các khái niệm: văn hiến, văn
minh, văn hóa. Văn hiến: “văn” trong văn hiến là (cái đẹp) về tư liệu, điển
chương, chế độ… “hiền” là người hiền tài, là người thông thạo điển chương,
chế độ… Theo GS. Đào Duy Anh: “văn hiến là sách vở” và “nhân vật tốt
trong một đời”. Văn hiến: là truyền thống tinh thần lâu đời và tốt đẹp, là giá

15


trị tinh thần do những người có đức, có tài chuyển tải, là một xã hội đạt tới
một trình độ nhất định về mặt tinh thần. Văn hiến thể hiện tính dân tộc và tính
lịch sử. Văn minh : “văn” là vẻ đẹp, “minh” là sáng, văn minh có nghĩa chỉ tia
sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp độ, văn học, nghệ thuật. Văn
minh được xem là một khái niệm đặc trưng cho trình độ của con người, mặt
kỹ thuật của hoạt động người trong việc chiếm lĩnh thế giới nói chung. Trong
khi đó, cái được coi là cốt lõi của văn hóa, là phẩm chất nhân đạo trong sự
phát triển, theo V.M.Roodin thì “văn hóa…là các giá trị vật chất và xã hội của
bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập quán, tâm thế, phản ứng trong ứng
xử), không phụ thuộc vào việc đó là người man rợ hay người văn minh”. Bởi
vậy, văn minh thường mang tính khách quan, phổ biến hơn, đặc trưng cho
một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại (mang màu sắc phân
chia, phản ánh sự biến động trong hoạt động người), còn văn hóa là nói đến
tính chủ thể, tính độc đáo (mang màu sắc trung tính và phản ánh cái ổn định,

Như vậy, bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào
cũng được xếp vào bản sắc. Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp
phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một công đồng văn hóa khác là bản
sắc. Theo tác giả Phạm Thái Việt, khái niệm bản sắc có hai quan hệ cơ bản:
thứ nhất, nó là dấu hiệu để phân biệt các cộng động với nhau (quan hệ bên
ngoài) và thứ hai, nó chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong một cộng đồng
văn hóa phải có (quan hệ bên trong).
Nội hàm khái niệm bản sắc bao hàm một số biểu hiện cơ bản sau:
- Bản sắc luôn gắn với quá trình hình thành, vận động và phát triển của
đối tượng.
- Bản sắc được thể hiện thông qua sự đồng nhất, lặp lại ở hàng loạt đối
tượng, sự vật, hiện tượng cùng hệ thống.

17


- Bản sắc bao chứa trong nó những nét riêng biệt làm nên cái đặc trưng
của bản thân hệ thống.
- Bản sắc là một thuộc tính, dấu hiệu có xu hướng đồng nhất hóa, do
vậy mà muốn tìm hiểu, tiếp cận bản sắc thì phải khái quát hóa.
- Bản sắc được hiểu thiên về nét đặc trưng tốt, tích cực của đối tượng.
Bản sắc văn hóa cả một cộng đồng sẽ thay đổi khi phương thức cả cộng
đồng đó thay đổi căn bản. Bản sắc văn hóa không phải là khép kín theo kiểu
bảo tồn nguyên dạng cái ban đầu. Sẽ có những cái được xem là bản sắc ở giai
đoạn trước nhưng đến giai đoạn sau đã không còn vị trí trong chỉnh thể văn
hóa, và ngược lại. Bản sắc văn hóa chính là diện mạo văn hóa mang tính ổn
định nhất định, đồng thời chính là căn tính của cộng đồng.
Khi nói tới bản sắc văn hóa, đồng nghĩa với nói tới bản sắc riêng của
dân tộc ấy, hay nói cách khác, đó là cái cốt lõi của văn hóa dân tộc. Bản sắc
văn hóa có hai mặt giá trị: giá trị tinh thần bên trong và biểu hiện bên ngoài có

được chắt lọc, cô đúc nên từ tất cả di sản truyền thống trong suốt quá trình
hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc. Toàn bộ giá trị truyền thống dân
tộc là cái thể hiện cô đọng nhất, độc đáo nhất, rõ nét nhất bản sắc dân tộc.
Chính vì vậy, không thể đồng nhất cũng không thể tách rời giá trị văn hóa
truyền thống với văn hóa dân tộc mà giá trị văn hóa truyền thống là một bộ
phận của văn hóa, hơn thế là bộ phận cốt lõi nhất làm nên sức mạnh nội sinh
của một nền văn hóa. Trong khi bản sắc là cái trừu tượng, bền vững thì các
hình thái biểu hiện của nó tương đối cụ thể. Những nét đặc trưng của một nền
văn hóa được biểu lộ thông qua các giá trị văn hóa truyền thống, đó là hệ
thống những giá trị được đánh giá bởi cộng đồng. Để những giá trị văn hóa
truyền thống trở thành bản sắc thì bên cạnh tính đặc thù, nó còn phải có giá
trị. Tuy rằng không phải mọi giá trị đều là bản sắc, mà giá trị văn hóa truyền
thống là một trong những yếu tố cấu thành bản sắc văn hóa, nhưng nhiều khi

19


chúng cũng mang nghĩa tương đương nhau bởi cùng có điểm chung xác định.
Hiểu là bản sắc khi coi nó như là căn cước, đặc thù của mỗi cộng đồng, dùng
để phân biệt cộng đồng, dân tộc này với cộng đồng, dân tộc khác. Hiểu là giá
trị khi muốn nhấn mạnh tới tính ích dụng của văn hóa trước nhu cầu của xã
hội. Như vậy, giá trị văn hóa truyền thống là cái mang trong nó bản sắc, còn
bản sắc làm nên cốt lõi, đặc thù của giá trị văn hóa truyền thống. Bởi vậy,
muốn tìm hiểu bản sắc văn hóa không thể không tìm hiểu giá trị văn hóa
truyền thống. Hiện nay, nhất là trong thời kỳ xung đột văn hóa trong mối quan
hệ giữa truyền thống và hiện đại, ở mức độ nào đó, trong đời sống hiện thực
và trong lý luận, người ta càng cần có nhận thức tránh lẫn lộn giữa cái truyền
thống và cái bản sắc, cũng như giữa cái hiện đại và cái ngoại lai.
1.1.3. Biểu hiện của bản sắc văn hóa Việt Nam và việc giữ gìn phát huy nó
1.1.3.1. Biểu hiện của bản sắc văn hóa Việt Nam

Nhưng nếu dựa trên duy vật luận: "Từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện
chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”,
chúng ta có thể nhìn thấy được bản sắc văn hoá dân tộc Việt gồm: thứ nhất là,
bản sắc đặc thù văn hoá dân tộc Việt hình thành do quá trình lịch sử; thứ hai
là, bản sắc văn văn hoá dân tộc Việt do ảnh hưởng của sự giao thoa văn hoá
thông qua lịch sử dân tộc Việt. Ở phần thứ nhất, nét đặc thù đầu tiên của bản
sắc văn hoá dân tộc Việt là tư duy giữ nước và mở cõi, thứ hai là thờ cúng tổ
tiên, thứ ba là văn hoá ẩm thực. Ở phần còn lại, những bản sắc văn hoá dân
tộc khác do sự giao lưu văn hoá mà thành: tư tưởng triết lý có màu sắc Nho Phật - Đạo…Trước đây, việc xác định bản sắc văn hóa dân tộc thường tập
trung trong việc khẳng định một số nét thuộc về tính cách dân tộc mà trong
những điều kiện lịch sử nhất định được thể hiện rõ nét: tình yêu nước, tinh
thần dũng cảm chống ngoại xâm, tình yêu lao động...

21


Bản sắc văn hóa Việt Nam được hình thành trong suốt hàng ngàn năm
lịch sử dựng nước và giữ nước, trong sự giao lưu và tiếp thu những tinh hoa
cả các nền văn hóa khác. Kế thừa có chọn lọc những quan điểm trên, và trong
phạm vi giới hạn luận văn cũng như năng lực, kiến thức của bản thân, luận
văn chỉ xin đề cập một số nội dung cơ bản thuộc bản sắc văn hóa dân tộc, bao
gồm: Chủ nghĩa yêu nước; tinh thần nhân ái, tôn trọng tình nghĩa, tâm lý
trọng đạo đức; ý thức đoàn kết cộng đồng; truyền thống hiếu học:
Thứ nhất, chủ nghĩa yêu nước
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tình cảm, ý chí của dân tộc Việt Nam,
có chiều sâu trong tâm linh, trong tâm tưởng của dân tộc. Tình cảm, ý chí ấy
hết sức mãnh liệt, được kết tinh lại trở thành những làn sóng ngầm và được
biểu hiện rõ nhất trong những thời kỳ dân tộc gặp nguy nan. Dân tộc nào cũng
có tinh thần yêu nước nhưng mức độ sâu đậm là khác nhau do hoàn cảnh lịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status