TIỂU LUẬN
"Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay" 1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Con người - với tư cách là một thực thể xã hội chỉ có thể tồn tại và phát
triển khi có những cơ sở vật chất nhất định. Ngay từ thời kỳ sơ khai của xã
hội loài người, ý thức về xã hội, về cộng đồng người còn hạn chế nhưng
người nguyên thuỷ đã biết chiếm giữ hao quả tự nhiên, chim thú săn bắt được,
những công cụ lao động giản đơn để phục vụ cho nhu cầu của mình. Hay nói
cách khác, con người sinh ra từ tự nhiên, để tồn tại và phát triển con người
phải dựa vào tự nhiên, chiếm hữu tự nhiên để thoả mãn nhu cầu nhất định. Sở
Đương nhiên sở hữu như một phạm trù kinh tế, khác sở hữu như một
phạm trù của luật học và các khoa học xã hội khác, không phải là quan hệ chủ
thể - khách thể, tuy rằng quan hệ chủ thể - khách thể "Vật liệu xây dựng" cho
sở hữu kinh tế và là xuất phát điểm cho mọi quá trình kinh tế. Hơn nữa, đã có
sự chuyển hoá sở hữu thực tế thành sở hữu kinh tế được gây ra bởi quá trình
phản ứng kinh tế - xã hội, trong điều kiện phân công lao động xã hội và có sự
trao đổi sản phẩm lao động (Mà điều kiện trao đổi là: chiếm hữu tư nhân về
các sản phẩm khác nhau và sự trao đổi là tương đương).
Vậy các quan hệ kinh tế trong những điều kiện lịch sử nhất định đã bắt
buộc sự chiếm hữu riêng rẽ của những người khác nhau về các điều kiện và
kết quả sản xuất khác nhau, nói cách khác, bắt buộc xuất hiện hình thái đối
kháng của sự thống nhất xã hội, xuất hiện mâu thuẫn kinh tế giữa những đại
diện các yếu tố sản xuất tức là các quan hệ sở hữu. Từ đây, có thể rút ra các
kết luận chính về vấn đề sở hữu, trước khi chúng ta đi phân tích cụ thể sự tồn
tại, vận hành của nó trong "Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở
Việt Nam":
Thứ nhất, Bản chất sở hữu như một phạm trù kinh tế bộc lộ ra ở chỗ nó
chứa đựng các chất lượng xã hội đặc biệt, gây ra bởi sự phân cực kinh tế giữa
các vật khác nhau và những người khác đại diện cho vật, do đó bắt buộc phải
cần đến nhau.
3
Thứ hai, sở hữu luôn giả định (bắt buộc) các cơ sở tư nhân của mình, nó
đảm bảo sự quan tâm kinh tế của người sản xuất hàng hoá - động lực thực sự
của sản xuất, đảm bảo hoạt động bình thường và hiệu quả của phân công lao
động xã hội. D. Ricado nói đại ý: Sở hữu tư nhân như là kết quả của phân
công lao động xã hội.
Thứ ba, nhưng sở hữu tư nhân như là hình thái lịch sử chung, là điều
kiện xã hội chung của sản xuất, luôn tồn tại dưới những hình thái cụ thể, đặc
kim chỉ nam cho hành động kinh tế của đất nước, mà còn góp phần giải quyết,
tháo gỡ vướng mắc, khắc phục sai lầm lệch lạc của thực tiễn quản lý điều
hành phát sinh vì sự hoàn thiện của chế độ sở hữu XHCN, từ đây tạo ra cái
nền vật chất pháp lý cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,
phấn đấu cho mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Trong tất cả sự hiểu biết còn hạn chế của mình em xin được trình bày
vấn đề đặt ra của đề án với lòng mong muốn được học hỏi hiểu biết dưới sự
chỉ bảo và hướng dẫn của thầy giáo Lê Việt. Để bài viết sau của em được
hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn! 5
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Những vấn đề lý luận về
phạm trù sở hữu
1. Một số khái niệm liên quan
a. Chiếm hữu là gì?
Để tồn tại và phát triển con người phải dựa vào tự nhiên, chiếm hữu là
phạm trù khách quan, tất yếu, vĩnh viễn, là điều kiện trước tiên của hoạt động
lao động sản xuất. Chủ thể chiếm hữu là cá nhân, tập thể và xã hội. Đối tượng
của chiếm hữu từ buổi ban đầu của loài người là cái có sẵn trong tự nhiên
cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Các chủ thể chiếm hữu không
chỉ chiếm hữu tự nhiên mà cả xã hội, tư duy, thân thể, cả các vô hình và cái
hữu hình. Trong kinh tế, chiếm hữu cả sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu
dùng.
b. Sở hữu là gì?
Theo quan điểm của Mác xít khái niệm gốc của sở hữu là "Sự chiếm
tự nhiên (hiện vật). Đến xã hội nô lệ, cùng với sở hữu vật là sở hữu người nô
lệ. Xã hội phong kiến đối tượng sở hữu là tư liệu sản xuất (đất đai, công cụ
lao động ) trong xã hội tư bản đối tượng sở hữu không chỉ về mặt hiện vật
mà quan trọng hơn về mặt giá trị, mặt tiền tệ.Ngày nay, cùng với sở hữu về
mặt hiện vật và giá trị của tư liệu sản xuất, người ta chú trọng nhiều đến sở
hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ, giáo dục
c. Quan hệ sở hữu là gì?
Mối quan hệ giữa người với người trong quá trình chiếm hữu và sản
xuất ra của cải vật chất trong xã hội là quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu phản
7
ánh sự chiếm giữ tư liệu sản xuất và các sản phẩm tiêu dùng, nó biểu hiện qua
mối quan hệ vật - vật. Quan hệ sở hữu là một loại quan hệ xã hội phát sinh,
tồn tại và phát triển trong quá trình chiếm hữu, mà khi xem xét dưới góc độ
pháp lý nó bao gồm 3 bộ phận cấu thành chủ thể, khách thể và nội dung.
d. Các hình thức sở hữu: Hình thức đầu tiên, là công hữu, sau đó do sự
phát triển của lực lượng sản xuất, có sản phẩm dư thừa, có kẻ chiếm làm của
riêng xuất hiện tư hữu. Đó là hai hình thức sở hữu cơ bản thể hiện ở nước đó,
quy mô và phạm vi sở hữu khác nhau, phụ thuộc vào trình độ lực lượng sản
xuất và lợi ích của chủ sở hữu chi phối. Chẳng hạn, công hữu thể hiện thông
qua sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân. Ngoài ra còn có hình thức sở hữu hỗn
hợp. Nó xuất hiện tất yếu do yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất và quy
trình xã hội hoá nói chung đòi hỏi. Sở hữu hỗn hợp hình thành thông qua hợp
tác liên doanh liên kết tự nguyện phát hành mua bán cổ phiếu v.v
Tựu trung lại, khái quát lại thì có hai hình thức cơ bản: Công hữu và tư
hữu. Còn lại là kết quả của sự kết hợp giữa chúng với nhau.
e. Quyền sở hữu là gì?
Vì cơ sở kinh tế đảm bảo cho sự thống trị về chính trị - tư tưởng là các
quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị dùng từ một bộ
yếu kém mà nghèo đói Tất cả đẩy nhanh quá trình phân hoá tầng lớp xã hội
và giai cấp xuất hiện. Có giai cấp thì tất yếu có đấu tranh giai cấp. Để cuộc
đấu tranh giai cấp nằm trong vòng trật tự nhất định không phá vỡ xã hội thì có
một tổ chức đặc biệt ra đời, tựa hồ như đứng trên xã hội và quản lý xã hội.
Đó là Nhà nứơc.
9
Sơ đồ vắn tắt: Sở hữu tư nhân và các hình thái chủ yếu của nó.
I. Hình thái sở hữu tư nhân đơn giản.
Qua sơ đồ trên cho ta thấy sở hữu tư nhân trong các phương thức sản
ộ
ng
Người sở hữu A
(Nhà nước - người SX hàng
hoá) Hàng hoá A
Người sở hữu A
(Nhà nước - nhà tư bản) Tư liệu SX và tư liệu SH
Sở hữu thực tế
IV. hình thái nhà n
ư
ớ
c c
ủ
a s
ở
h
ữ
u t
ư
nhân TBCN
Sở hữu thực tế
III. hình thái nhà nước của sở hữu tư nhân đơn giản
Người sở hữu B
(Người lao động làm
thuê) S
ứ
c lao
đ
ộ
ng
Sở hữu thực tế
Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở hữu
Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở hữu
Sở hữu kinh tế
Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở hữu
Sở hữu kinh tế
Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở hữu
Sở hữu kinh tế
10
11
tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo để định hướng cho sở hữu tư nhân nói
riêng và nền kinh tế nước ta nói chung đi theo đúng quĩ đạo.
Chính C.Mác và F. Ănghen trong tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng
sản, ông đã nhấn mạnh "chủ nghĩa cộng sản không xoá bỏ của ai quyền chiếm
hữu các của cải mà chỉ xoá bỏ việc dùng những của cải ấy để nô dịch lao
động của người khác".
b. Chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất.
Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: "Không thể xoá bỏ ngay tư hữu và thiết
lâp ngay chế độ công hữu về tư liệu sản xuất"
Sự bình đẳng về mặt xã hội của con người trong mối quan hệ qua lại của
họ đối với tư liệu sản xuất tức là sự chiếm hữu mà tiêu chí duy nhất của nó là
lao động sống. Sự khẳng định mình như là một chế độ sở hữu. Sự bất bình
đẳng xã hội cho phép một số người này (người chủ sở hữu) chiếm đoạt lao
động của những người khác (những người không phải là chủ sở hữu) được coi
là chế độ sở hữu. Tùy thuộc vào khả năng chiếm đoạt lao động của mình hay
của người khác mà phân ra 2 kiểu chế độ sở hữu: chế độ tư hữu mang tính bóc
lột dựa trên lao động của người khác và chế độ tư hữu lao động dựa trên lao
động của chính bản thân mình. Kiểu chế độ tư hữu thứ hai, chẳng hạn như
các điền chủ hiện nay không sử dụng hoặc hầu như không sử dụng lao động
làm thuê, ngày nay có thể liên kết vào các hệ thống kinh tế cả TBCN và
XHCN. Trên phương diện chủ thể, chế độ tư hữu phân chia thành tư hữu cá
nhân và tư hữu tập thể bao gồm cả sở hữu tập thể cổ phần - sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể lao động.
Chế độ tư hữu được đem so sánh với chế độ công hữu. Thực chất của sự
so sánh là ở chỗ: Sở hữu nhà nước không phải mọi lúc mọi nơi đều có nghĩa
là sở hữu công cộng. Vấn đề không chỉ ở chỗ chế độ công hữu có thể có hình
thức. Sở hữu nhà nứơc và sở hữu tập thể, mà còn ở trong bản chất của chính
các quan hệ xã hội. Quốc hữu hoá được coi là phương thức, biện pháp cải tạo
của chế độ sở hữu xã hội), với chế độ sở hữu công, công của tất cả các thành
13
viên xã hội trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ đối với mọi của cải xã hội
(không có sự phân biệt thành phần, không ai có đặc quyền đặc lợi, mọi người
đều bình đẳng, hành vi của mọi người do các quy phạm xã hội điều chỉnh ).
3. Sự hình thành phát triển và biến đổi của sở hữu là một quá trình
lịch sử tự nhiên gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
a. Hai mặt của nền sản xuất xã hội (Phương thức sản xuất xã hội).
Sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội.
+ Lực lượng sản xuất: Phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con
người, nó biểu hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tạo ra
của cải vật chất. Lực lượng sản xuất xã hôi bao gồm: Tư liệu sản xuất và
người lao động với những kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo, và thói
quen lao động của họ. Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất do công cụ
lao động và trình độ khoa học - kỹ thuật (ngày nay trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp là động lực phát triển nhanh, mạnh) phát triển, trong đó kỹ
năng, lao động của con người là quyết định. Con người là nhân tố trung tâm là
mục đích của nền sản xuất xã hội. Trong điều kiện ngày nay, cuộc cách mạng
khoa học - kỹ thuật - công nghệ rất phát triển, vị trí trung tâm củ con người
càng được nhấn mạnh. Do vậy, việc nâng cao dân trí là nhu cầu bức bách. Nó
vừa là đòi hỏi của nền sản xuất xã hội, vừa là điều kiện để thúc đẩy nền sản
xuất xã hội phát triển nhanh hơn.
- Quan hệ sản xuất: Là quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá
trình sản xuất và tái sản xuất xã hội: Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ kinh
tế - xã hội và quan hệ kinh tế - tổ chức. Trong đó quan hệ kinh tế - xã hội biểu
hiện ở 3 mặt (3 yếu tố cấu thành).
Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức - quản lý và quan hệ
phân phối sản phẩm. Trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định chi
Chính quá trình phát triển của nền kinh tế quốc tế mà trực tiếp nhất, sâu
xa nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất với các cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật là động lực thúc đẩy nhanh mạnh nhất, nó cho biết rằng các
15
quyền gắn liền với phạm trù sở hữu đã có sự biến đổi đáng kể. Thường ở thời
kỳ đầu (Như trong thời kỳ CNTB cạnh tranh tự do) thì 3 quyền trong quyền
sở hữu (quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền sử dụng)thống nhất trong một
chủ thể. Sự xuất hiện của tư bản cho vay đã làm cho quyền sở hữu và quyền
sử dụng tách rời nhau. Khi lực lượng sản xuất được xã hội hoá (trong điều
kiện của kinh tế thị trường) thì 3 quyền trên tách rời giữa các chủ thể (khi đó
lao động quản lý trở thành một nghề. Ví dụ trong công ty cổ phần, quyền sở
hữu nằm trong tay các cổ đông, quyền điều hành chung thuộc Hội đồng quản
trị, còn quyền quản lý trực tiếp thuộc về giám đốc(hoặc tổng giám đốc).
Trong đó quyền sở hữu vẫn giữ vai trò quyết định chi phối quyền quản lý, sử
dụng, phân phối.
Mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng có một loại hình sở hữu đặc
trưng, giữ vai trò chủ đạo, đồng thời còn tồn tại các loại hình sở hữu khác.
*Dưới chế độ phong kiến nông nghiệp giữ vai trò quyết định, tư liệu sản
xuất chủ yếu là ruộng đất lại bị kìm hãm của "Đặc quyền, đặc lợi" và "chế độ
đẳng cấp phong kiến" hết sức hà khắc. Trong thời kỳ đầu của chế độ phong
kiến, nông cụ rất thô sơ, về sau công cụ bằng sắt phổ biến dần, súc vật được
tận dụng làm sức kéo Trong các trang trại sau này hình thức hiệp tác lao
động giản đơn được áp dụng. Do yêu cầu cải tiến công cụ sản xuất nông
nghiệp mà thủ công phát triển cùng với nông dân dẫn đến trao đổi phát triển
Nói chung sản xuất phong kiến chủ yếu dựa vào lao động thủ công của nông
dân và thợ thủ công.
Những đặc điểm trên đã quyết định tính chất của quan hệ sản xuất phong
kiến mà trực tiếp nhất ở đây là quan hệ sở hữu phong kiến; Đó là việc: Bọn
đầy 1 thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực
lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước gộp lại"; Bởi vì trong XHTB: Giai
cấp tư sản (từng nhà tư bản hoặc nhóm, tập đoàn tư bản ở giai đoạn độc
quyền và độc quyền nhà nước sau này) chiếm giữ các tư liệu sản xuất chủ yếu
và là giai cấp bóc lột giai cấp công nhân, là người không có tư liệu sản xuất
17
gì ngoài "sở hữu" sức lao động và để kiếm sống họ buộc phải bán "cái mình
có" đó cho tư nhà tư bản. Công nhân chỉ là người làm thuê, quản lý nhỏ cho
"Khối tài sản khổng lồ" của nhà tư bản, chứ họ không được sở hữu gì ngoài
vật phẩm tiêu dùng, sinh hoạt và tiền công.
Trong XHTB ngoài sở hữu của giai cấp tư sản, còn có sở hữu nhà nước
tư sản, sở hữu của người sản xuất nhỏ - cá thể, sở hữu của tiểu chủ Song
đều do sở hữu TBCN chi phối, quyết định.
* Dưới góc độ pháp lý: Quyền sở hữu là quyền pháp luật dân sự gồm có
3 yếu tố cấu thành: chủ thể, khách thể và nội dung.
Chủ thể của quyền sở hữu là những người tham gia quan hệ pháp luật
dân sự về sở hữu về sở hữu. Chủ thể này đa dạng tương ứng với các hình thức
sở hữu, bao gồm: Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở
hữu toàn dân; các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, các tập thể, các
công dân, các tổ chức xã hội, tổ chức xãc hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế
tư nhân Tóm lại đó là chủ thể(cá nhân hoặc pháp nhân) mà điều 173 bộ
luật dân sự quy định:"Có đủ 3 quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng, quyền định đoạt tài sản".
Khách thể của quyền sở hữu có thể là đối tượng của thế giới vật chất
hoặc là kết quả những hoạt động sáng tạo tinh thần (trí tuệ). Hay có thể hiểu:
Khách thể là cái mà các bên tham gia quan hệ pháp luật hướng tới với các
hành vi của mình. VD: tài sản (động sản, hay bất động sản), quyền tác giả
Nội dung của quyền sở hữu: Là các quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự
b. Giai đoạn 1959 - 1960
Miền Bắc tiến lên CNXH, còn miền nam tiếp tục tiến hành cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong điều kiện mới để đi đến cuộc tổng tiến
công và nổi dậy ngày 30/4/1975 giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc, cả
nước đi lên CNXH.
Miền Bắc về cơ bản hoàn thành cải tạo XHCN đối với các thành phần
kinh tế phi XHCN. Nhiệm vụ chủ yếu thời kỳ này ta xác lập và hoàn thiện chế
19
độ sở hữu XHCN ở miền Bắc. Điều 12, hiến pháp 1959 khẳng định "Kinh tế
quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân giữ vai trò lãnh đạo nền kinh tế quốc dân".
Trong đó tồn tại các hình thức sở hữu là: Sở hữu nhà nước, sở hữu của các
nhà tư sản dân tộc, sở hữu của tiểu thương, thợ thủ công, hộ nông dân cá thể;
sở hữu tập thể của các HTX, được quy định tại điều 11 Hiến pháp 1959 thực
hiền các Nghị quyết Đại hội Đảng, lần thứ III, IV, là vừa xây dựng vừa cải
tạo, trong cải tạo có xây dựng sở hữu thời kỳ này tạo tiền đề quan trọng có ý
nghĩa to lớn cho thời kỳ tiếp theo.
c. Giai đoạn 1980 - 1986
Hiến pháp 1980 thay thế hiến pháp 1959 đã ghi nhận phạm vi và bản
chất của sở hữu toàn dân. Trong đó tại các điều 18, 19, 23, 24, 27 của hiến
pháp 1980 đã quy định các hình thức sở hữu cơ bản sau: Sở hữu toàn dân đối
với đất đai, hầm mỏ, rừng núi sông hồ (Điều 19); Sở hữu tập thể; sở hữu của
công dân. Trong đó ưu tiên sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể tại điều 18 hiến
pháp 1980 quy định:"Thiết lâp và củng cố chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản
xuất nhằm thực hiện một nền KTQD chủ yếu có hai thành phần: Thành phần
kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế HTX thuộc
"sở hữu tập thể của nông dân lao động".
Tóm lại, trước khi tiến hành đổi mới Đảng và Nhà nước ta chủ trương
xây dựng và hoàn thiện chế độ sở hữu XHCN với hai hình thức sở hữu toàn
thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng XHCN.
2. Cơ cấu sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay:
Chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, tiến hành hoàn thiện quan hệ sản
xuất XHCN, trước hết là điều chỉnh các hình thức sở hữu vốn có, là kết hợp
một cách tối ưu các lợi ích: Lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích của nhà
nước. Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu việc phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần không phải là"thụt lùi" không làm "Mất CNXH" như
một số người lầm tưởng mà chính là một chủ trương lớn để khai thác, phát
21
huy mọi tiềm năng của toàn xã hội cũng như tranh thủ các nước và các tổ
chức quốc tế. Cơ sở lý luận của việc xác lập tính đa dạng các hình thức sở
hữu thể hiện ở luận điểm của C.Mác và Ănghen cho rằng các hình thức sở
hữu đựơc xác lập bởi trình độ xã hội hoá sản xuất. Vì vậy, chủ trương phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đa dạng hoá sở hữu là một thành
tựu lớn cả về lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới.
Với những thành tựu đáng mừng về kinh tế - xã hội của đất nước ta sau
hơn 10 năm đổi mới đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn
đúng đắn, hợp lý. Thực tế cũng cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần
đương nhiên phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu để phù hợp với tính chất
đặc điểm của từng thành phần kinh tế và phù hợp cũng như khai thác, thúc
đẩy được các yếu tố của lực lượng sản xuất ở các trình độ khác nhau phát
triển. Khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nứơc ta đã ban hành
nhiều văn bản pháp luật thể chế hoá về sở hữu phản ánh trình độ xã hội hoá
của lực lượng sản xuất nước ta còn thấp không đồng đều. Vì thế ứng vói nó là
các hình thức sở hữu đa dạng. Bởi vì: phát triển nền kinh tế - xã hội, nâng cao
đời sống nhân dân, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
là mục đích cuối cùng của chế độ xã hội ta. Trong phạm vi hẹp có thể coi sở
b. Về sở hữu nhà nước: Trong thời kỳ bao cấp trước đây chúng ta đã
đồng nhất sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân. Do nhầm lẫn như vậy, có
thời gian dài người ta bỏ quên hình thức sở hữu nhà nước, chỉ quan tâm đặc
biệt tới hình thức sở hữu toàn dân với chế độ công hữu tồn tại dưới hai hình
thức sở hữu toàn dân và tập thể. Và cũng bởi vì sở hữu toàn dân gắn kết với
sự phát triển của kinh tế quốc doanh. Vì vậy mà chúng ta đã ra sức quốc
doanh hoá nền kinh tế với niềm tin cho rằng có như vậy mới có CNXH nhiều
hơn.
Trong một xã hội mà nhà nước còn tồn tại thì sở hữu toàn dân chưa
có điều kiện vận động trên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức
23
sở hữu nhà nước, xét về tổng thể mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu nhà
nước ở nước ta, có lẽ thể hiện chủ yếu ở khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực
của doanh nghiệp nhà nước.
c. Sở hữu hợp tác: ở nước ta trước đây, hình thức này chủ yếu tồn tại
dưới hình thức HTX, với nội dung là cả giá trị và giá trị sử dụng của đối
tượng sở hữu đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu. Chính vì vậy mà
với hình thức này quyền mua bán hoặc chuyển nhượng TLSX diễn ra rất phức
tạp. Quyền của các tập thể sản xuất thường hạn chế, song lại có tình trạng lạm
quyền. Sự không xác định, sự "nhập nhằng" với quyền sở hữu nhà nước và
với sở hữu tư nhân trá hình cũng phổ biến. Để hoạt động ra khỏi tình trạng đó,
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay thì phải định rõ quyền mua bán
chuyển nhượng tư liệu sản xuất đối với các tập thể sản xuất - kinh doanh. Chỉ
như vậy, sở hữu tập thể mới trở thành hình thức sở hữu có hiệu quả.
Hình thức sở hữu hợp tác là một hình thức tiến bộ trong thời kỳ quá độ
lên CNXH. Vì vậy, cần phải duy trì và phát triển hơn nữa hình thức này khi
xây dựng CNXH, như Lênin nói "chế độ của những xã viên HTX văn minh là
chế độ XHCN".
luôn chịu sự tác động trên nhưng quy luật kinh doanh và luôn bị phân tán vì
thế cần phải có biện pháp kinh tế để tại đây phóng dần và các biến nó theo
dịnh hướng xã hội chủ nghĩa.
e, Sở hữu tư bản tư nhân:
Ở nước ta kinh tế tư bản tư nhân đang hình thành phát triển. Đây là
thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tự nhân TBCN về tư liệu sản xuất.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, sở hữu tư bản tư
nhân, bao gồm cả doanh nghiệp của các nhà tư sản và các đơn vị kinh tế mà
phần lớn. Vốn do một hoặc một số tư nhân góp lại, thuê lao động sản xuất-
kinh doanh dưới hình thức xí nghiệp tư doanh hay công ty cổ phần tư nhân.
Nó cũng bao gồm cả hình thức kinh tế tư bản tư nhân nước ngoài đầu tư
100% vốn hoặc nắm giữ tỷ lệ vốn khống chế. Trong thời kỳ quá độ phát triển