LUẬN VĂN:
Quy luật tích luỹ tư bản - ý nghĩa và vai trò
của nó trong việc huy động vốn ở các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay đặt vấn đề
A. Lý luận chung về tích luỹ tư bản
I. Mặt chất của tích luỹ tư bản.
1. Thực chất và động cơ của tích luỹ tư bản.
Để làm rõ khái niệm thế nào là tích luỹ tư bản?
Chúng ta cần phân biệt tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp đi
lặp lại và đổi mới không ngừng theo một qui mô không đổi năm sau bằng năm
trước, còn tái sản xuất mở rộng cũng là quá trình sản xuất và đổi mới không ngừng
với qui mô năm sau lớn hơn năm trước. Đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa tư bản là
tái sản xuất mở rộng (mở rộng sản xuất) muốn thực hiện điều đó thì số giá trị thặng
dư mà nhà tư bản bóc lột của công nhân không được đem hết cho tiêu dùng mà phải
giành một phần cho tích luỹ để mua thêm tư bản khả biến và tư bản bất biến cho
đầu vào của quá trình sản suất. Như vậy tích luỹ tư bản bằng cách tư bản hoá giá trị
thặng dư.
Ví dụ: Có một nhà tư bản cá biệt có lượng tư bản là 100(đv) trong đó gồm
80c và 20v. Nếu m’=100% thì sẽ thu được 20m. Giả sử trong 20m đó một nửa dành
cho tiêu dùng cá nhân và một nửa cho tích luỹ (10m) số 10m này 8m cho c phụ
thêm và 2m cho v phụ thêm. Như vậy đầu năm sau lượng tư bản sẽ là 110(đv) trong
đó 88c và 22v.
ở đây hưởng thụ của nhà tư bản và ý muốn làm giàu của họ về cơ bản là
thống nhất với nhau vì ý muốn làm giàu tuy trước mắt có thể ảnh hưởn tới hưởng
thụ của nhà tư bản nhưng về lâu dài nó lại tăng hưởng thụ của nhà tư bản do đó ý
muốn chủ quan của nhà tư bản phù hợp với qui luật khách quan của nền sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Ngày nay tư bản tích luỹ chiếm một tỷ trọng ngày càng lớn trong
toàn tư bản, lúc đầu bằng một lượng tư bản nhỏ và tài khéo léo của mình mà nhà tư
bản đã làm cho qui mô và lợi nhuận không ngừng lớn mạnh. Các-mac đã nói “Tư
bản ứng trước chỉ là một giọt nước trong dòng sông của sự tích luỹ mà thôi”.
Động cơ của TLTB và tái sản xuất mở rộng TBCN. Mục đích của sản xuất tư
trị thặng dư tăng lên và đã làm tăng tích luỹ. Việc tăng cường độ lao động và kéo
dài ngày lao động còn mang lại thuận lợi nữa đó là nhà tư bản được nhiềusản phẩm
lao động hơn trong khi không cần tăng thêm tư bản bất biến mà chỉ cần tăng thêm
nguyên vật liệu.
Hai là trình độ năng xuất xã hội, việc nâng cao năng xuất xã hội làm tăng
thêm giá trị thặng dư và tăng thêm yếu tố vật chất cho qúa trình tích luỹ khoa học kĩ
thuật phát triển thì qui mô của tích luỹ càng lớn và do đó ảnh hưởng đến qui mô của
tư bản xã hội.
Ba là sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Trong quá trình
sản xuất các bộ phận cấu thành nên máy móc đều hoạt động tức là nó tham gia hết
vào quá trình sản xuất nhưng chúng chỉ hao mòn dần do đó giá trị được chuyển từng
sản phẩm do vậy có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Những
máy móc khi đã khấu hao hết nhưng vẫn thể dùng cho sản xuất chẳng khác nào lực
lượng tư bản.
Bốn là qui mô của tư bản ứng trước; với một trình độ bóc lột không đổi thì
khối lượng gía trị thặng dư phụ thuộc vào tư bản ứng trước, do vậy tư bản ứng trước
càng nhiều thì khối lượng giá trị thặng dư càng lớn.
Xuất phát từ công thức
v
m
m '
Khi m’ không đổi thì v càng lớn thì khối lượng giá trị thặng dư càng nhiều
tạo điều kiện để tăng qui mô của tích luỹ TB. Ngày nay do cấu tạo hữu cơ tư bản
c/m tăng lên mới nhìn ta tưởng rằng người lao động ngày càng được nghỉ ngơi thế
nhưng thực tế ngược lại họ càng phải làm việc căng thẳng bị vắt kiệt sức bởi cường
độ lao động và sự tập trung cao độ trong lao động.
3. Mối quan hệ giữa tích luỹ, tích luỹ tập trung tư bản.
hơn trong tương lai.ở các nước đang trong giai đoạn phát triển thì vấn đề đặt ra là
những khó khăn về kĩ thuật, công nghệ quản lý tiến tiến trình độ chuyên môn, đặc
biệt là vốn yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển. Họ phải khắc phục những
khó khăn đó, trước mắt điều quan trọng nhất họ phải huy động vốn đầu tư cho phát
triển sản xuất. Vấn đề là phải huy động vốn ở đâu và như thế nào để đạt được hiệu
quả tối ưu phải chăng là từ nội lực: thông qua tiết kiệm trong mọi tầng lớp dân cư
mọi tổ chức xã hội, mọi cấp mọi ngành để đẩy mạnh tích luỹ, và huy động từ nước
ngoài qua các chương trình viện trợ, cho vay, liên doanh liên kết. Việt Nam hiện
nay cũng gặp nhiều vấn đề tồn tại trong việc huy động và sử dụng vốn cho quá trình
tích luỹ và tái sản xuất mở rộng đó là bài toán khó đặt ra đòi hỏi sừ nỗ lực của các
doanh nghiệp các thành phần kinh tế.
Tóm lại việc nghiên cứu mặt chất và mặt lượng TLTB có ý nghĩa thực hiện
đối với nước ta. Nếu ta trìu tượng hoá quan hệ TBCN thì các doanh nghiệp của
chúng ta cùng phải tích luỹ để mở rộng sản xuất hiện đại hoá sản xuất. Nguồn gốc
của sự tích luỹ cũng là sản phẩm thặng dư do người lao động tạo ra tạo thành vốn
cho các doanh nghiệp vì vậy các doanh nghiệp cần tăng qui mô tích luỹ mở rộng
sản xuất làm ăn hiệu quả. Quy luật chung của sự tích luỹ tư bản.
Tích luỹ tư bản là nguyên nhân dẫn đến phân cực trong xã hội, xã hội sẽ xuất
hiện hai giai cấp đối lập nhau về quyền lợi một giai cấp gồm một số ít người với số
lượng của cải khổng lồ. Một giai cấp nghèo làm công ăn lương. Đó là biểu hiện của
sự mâu thuẫn trong xã hội tư bản “sự đối lập giữa tính xã hội hoá sản xuất với tính
chất chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa”. Sự mâu thuẫn sẽ ngày càng trở nên gay
gắt đòi hỏi giai cấp tư bản tự điều chỉnh để cho người lao động có cuộc sống đầy đủ
hơn.
II. Làm rõ hơn khái niệm về doanh nghiệp, vốn doanh nghiệp trong nền
KTTT định hướng XHCN.
Đảng toàn dân, mọi cá nhân mọi tổ chức trong nền kinh tế đặc biệt phải nhấn mạnh
vai trò chủ đạo của doanh nghiệp vấn đề đặt ra là phải sử dụng nguồn vốn sao cho
đạt hiệu quả cao nhất nhiều yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp phải đổi mới công
nghệ tạo ra sản phẩm nới có sức cạnh tranh cao không những thế vốn còn để tăng
cường để mở rộng sản xuất kinh doanh để đầu tư cho lĩnh vực mới vào công nghệ
mũi nhọn để mở rộng ảnh hưởng trên thị trường của doanh nghiệp. Thực tế đặt ra
cho các doanh nghiệp là phải huy động vón việc này phụ thuộc vào chính sách huy
đoọng vốn của nhà nước và khả năng của từng doanh nghiệp. vì vậy doanh nghiệp
cần phải thực hiện tiết kiệm dồn tiền cho mở rộng sản xuất ở kì tiếp theo.
Ngày nay hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh thật đa dạng họ chủ động
sản xuất kinh doanh trên môi trường ngày càng hoàn thiện họ hoạt động vì quyền
lợi thiết thực của bản thân họ. Doanh nghiệp muốn phát triển sản xuất ngoài việc
đưa vào nguồn vốn tự có họ phải dựa vào nguồn lực từ nội bộ và từ bên ngoài
doanh nghiệp.
III. ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu.
1. Thực trạng của doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.
Quá trình hội nhập kinh tế buộc doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn và thách thức. Điều cần thiết nhất là gắn liền với việc thực hiện lộ
trình hội nhập cần phải xây dựng và thực hiện cho được một lộ trình nâng cao khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế xác định các công việc cụ thể cho từng ngành, từng
giai đoạn đồng thời khẩn trương ban hành các chính sách biện pháp cụ thể và tổ
chức thực hiện triệt để kiên quyết nhằm thực hiện lộ trình đó. Nền kinh tế thị trường
hiện nay đã tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp đồng thời có thêm một
nợ đầu tư. Đã đến lúc chúng ta cần có một sự nhìn nhận đi vào thực chất hoạt động
và hiệu quả.
Qua những con số điều tra cho thấy số doanh nghiệp nhà nước mới thành lập
tăng lên đánh kể, tổng doanh thu hàng năm làm ra sấp xỉ 300 tỷ đồng, sự phân bổ
doanh nghiệp theo ngành hợp lý hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh
nghiệp nhà nước 11,7% gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế.
Số doanh nghiệp làm ăn có lãi chiếm 11,3% tổng doanh nghiệp trong đó 11,3% số
doanh nghiệp nhà nước 69,0% số doanh nghiệp địa phương. Lãi thực hiện năm
1999 là 15.271 tỷ đồng. Đối với khu vực tư nhân khi nhà nước ban hành luật công
ty và luật doanh nghiệp thì đến năm 1995 đã có 15.276 doanh nghiệp và đến năm
1999 số doanh nghiệp được thành lập đã lên đến 30.500 tăng gấp 74 lần so với năm
1991. Tổng vốn đầu tư năm 1991 là 6.430 tỷ đồng đến năm 2000 đã lên đến xấp xỉ
160.000 tỷ đồng. Khu vực kinh tế tư nhân có mặt trong hầu hết các ngành kinh tế
quốc dân tỷ trọng % của khu vực tư nhân chiếm 22,44% khu vực đầu tư nhà nước
35,4% khu vực doanh nghiệp nhà nước 42,16%. Tuy nhiên vẫn còn nhiều những tồn
tại cần phải khắc phục. Số lượng doanh nghiệp nhà nước còn nhiều, qui mô còn
nhỏ, chồng chéo về ngành nghề và tổ chức quản lý, sự phân bổ doanh nghiệp theo
vùng lãnh thổ còn chưa hợp lý. Còn tồn tại nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải
giải thể hoặc sát nhập với những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Hiện nay có 1.822
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chiếm 30,8% tổng số doanh nghiệp với số lãi luỹ kế là
5.079 tỷ đồng. Doanh nghiệp còn bị ràng buộc bởi chế độ bảo toàn và phát triển với
điều kiện đi vay ngân hàng, chế độ tiền lương, tiền thưởng và các quyền lợi thiết
thực khác của người lao động.
Đại hội Đảng IX đã khẳng định phải chú trọng phát triển các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, tập trung đầu tư cho các mặt hàng có lợi
thì xuất khẩu chủ lực, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự do cạnh tran tìm kiếm thị
trường chuẩn bị cho việc tham gia AFTA, APEC các giải pháp đề ra cho doanh
vào tay Nhà nước để phân phối theo kế hoạch cho từng dự án đầu tư và từng doanh
nghiệp. Những năm đổi mới đã đem lại hậu quả rõ rệt. Trong năm năm 1991 - 1995
ước tính huy động vốn đầu tư cho phát triển toàn xã hội khoảng 15 đến 16 tỷ USD,
trong đó phần của Nhà nước chiếm gần 43% bao gồm cả đầu tư từ ngân sách Nhà
nước, tín dụng đầu tư Nhà nước. Doanh nghiệp Nhà nước tự đầu tư, phần vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài chiếm 37% đầu tư của tư nhân chiếm 20%. Đầu tư của các
doanh nghiệp được hình thành và hoạt động hiệu quả, phần lớn ở dạng quy mô vừa
và nhỏ nhưng có một số doanh nghiệp tư nhân ở quy mô lớn. Thực tế, nguồn vốn
mà các doanh nghiệp đã tích luỹ và huy động là khá đa doanh nghiệpạg và phong
phú. Việc bản thân doanh nghiệp làm ăn phát đạt đã tạo cho tình hình tài chính của
họ trở nên mạnh mẽ là tiền đề cho việc tích luỹ cho mở rộng sản xuất. Mặt khác đáp
ứng cho nhu cầu phát triển của doanh nghiệp đã sử dụng các công cụ huy động đạt
hiệu quả đó là việc các doanh nghiệp vay lẫn nhau song tỷ lệ này chỉ chiếm một tỷ
lệ nhỏ. Thị trường tín dụng qua hệ thống ngân hàng là thị trường vốn chủ yếu cho
tình hình hiện nay và có ý nghĩa đặc biệt đối với các doanh nghiệp. Hệ thống ngân
hàng huy dodọng tiền gửi của các tổ chức kinh tế và tiền gửi của dân cư thông qua
hệ hống các quỹ tiết kiệm và các hợp tác xã tín dụng. Thị trường trái phiếu và cổ
phiếu là hiện tượng mới ở Việt Nam. Đây cũng là bước khởi đầy mới cho việc lập
thị trường chứng khoán. Công cụ này cũng được doanh nghiệp sử dụng trong việc
huy động vốn đầu tư. Các doanh nghiệp Nhà nước còn tiến hành phát hành trái
phiếu lãi suất 21%/năm một số doanh nghiệp khác thuộc các ngành điện, xi măng,
giao thông, xây dựng đang lập đề án để phát hành trái phiếu. Trái phiếu và cổ phiếu
Công ty do các doanh nghiệp được cổ phần hoá phát hành. Hiện nay đã có khoảng
100 Công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu song các Công ty này có số vốn nhỏ số
vốn nhỏ, số lượng cổ động vì hạn chế còn loại cổ phiếu do các doanh nghiệp phát
hành gắn với hai hình thức cổ phần hoá. Một hình thức tư nhân hoá một phần vốn
của doanh nghiệp bằng cách phát hành và bán cổ phiếu, hình thức khác là giữ
tạo cán bộ kỹ thuật cán bộ quản lý và công nhân lành nghề. Đạt được những kết quả
đó không phải không còn nhiều hạn chế. Việc vay vốn đầu tư ngân hàng của doanh
nghiệp đòi hỏi quá nhiều giấy tờ thậm chí nhiều ngân hàng còn từ chối việc cho vay
với lý do là khách hàng mới. Chính vì vậy doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn
vốn khác ngoài ngân hàng có tính rủi ro cao, lãi suất lớn, hoặc gian dối với cán bộ
ngân hàng để vay vốn hậu quả là doanh nghiệp đầu tư trong tình trạng bất ổn định,
thiếu chắc chắn, kém hiệu quả thậm chí đã xảy ra một số vị đổ bế gây thiệt hại cho
xã hội. Từ chính sách đến thực tế còn một khoảng cách lớn và các biện pháp đầu tư,
các cam kết về đổi mới thủ tục hành chính trong lĩnh vực này vẫn chưa được thực
hiện là bao nhiêu. khu vực quốc doanh vẫn được khuyến khích đầu tư hơn khu vực
dân doanh đầu tư mới vẫn được khuyến khích hơn đầu tư mở rộng mặc dù về mặt
kinh tế, đầu tư mở rộng có tác dụng trực tiếp tăng hiệu quả nền kinh tế, tăng qui mô
vốn cá biệt. Thị trường chứng khoán ở giai đoạn hiện nay đã được hình thành và
hoạt động được một thời gian nhưng hầu hết các Công ty sử dụng việc phát hành
chứng khoán để huy động vốn nguyên nhân là do các doanh nghiệp chỉ huy động
vốn dưới hình thức này khi mà họ cần mở rộng qui mô lớn, việc phát hành chứng
khoán phải qua nhiều thủ tục giấy tờ. Trong nội bộ Công ty họ vẫn không muốn
chia sẻ quyền sở hữu và quyền kiểm soát cho các cổ đông. Về vốn để huy động vốn
nước ngoài thực sự chưa đem lại hiệu quả. Trước hết khối lượng vốn đầu tư thực
hiện của FDF trong năm 2001 có biểu hiện chững lại theo ước tính của Bộ kế hoạch
và đầu tư con số này chỉ đạt 2,2 tỷ USD tăng khoảng 3,2% so với năm 2000, khá
thấp kể từ khi năm 1994 trở lại đây. ước tính trong năm 2001 chỉ có khoảng 40 dự
án quy mô vừa và nhỏ hoàn thành xây dựng cơ bản, bắt đầu đi vào sản xuất kinh
doanh. Trong hình thức đầu tư BOT nơi tập trung khá nhiều dự án lớn mới đạt 3%.
Đặc biệt tình trạng không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ thống kê báo cáo các tình
hình cơ sở và những ách tắc trong việc triển khai thực hiện dự án do còn nhiều
vướng mắc trong kinh doanh. Với phát triển ODA việc công tác quản lý và sử dụng
doanh nghiệp đổi mới công nghệ thúc cho phát triển sản xuất, doanh nghiệp tự tìm
tòi nghiên cứu đầu tư tài lực, trí lực để nghiên cứu tạo ra những tư liệu lao động kỹ
thuật hiện đại có khả năng tạo ra năng suất cao. Hơn nữa thông qua chuyển giao mà
công nghệ có thể di chuyển giữa các quốc gia ngày nay xu hướng hội nhập tạo điều
kiện cho hoạt động này trở nên thuận lợi và dễ dàng. Để thuận lợi cho quá trình
đầu tư doanh nghiệp nên tiến hành các loại quỹ tiết kiệm nguồn vốn này cho doanh
nghiệp có thể sử dụng ngay khi cần thiết hoặc để dùng góp vốn kinh doanh mua cổ
phần hoặc trái phiếu của các Công ty cổ phần khác.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, các doanh nghiệp phải tìm biện pháp tích
cực để có thể dựa vào sử dụng hoặc bán số tài sản, vật tư hiện ứ đọng, chậm luân
chuyển. Đối với những tài sản, vật tư kém hoặc mất phẩm chất, kỹ thuật lạc lậu tồn
động nhiều năm, nhưng không thể sử dụng được nữa thì doanh nghiệp thực hiện
thanh lý, nhưng phải thực hiện đúng các nguyên tắc quản lý tài chính, bảo vệ môi
trường không để thất thoát. các khoản chênh lệch do thanh lý tài sản hạch toán
doanh nghiệp theo chế độ hiện hành. Trường hợp doanh nghiệp thanh lý tài sản mà
bị lỗ không có kảh năng tự bù đắp thì Bộ tài chính xem xét để hạch toán giảm vốn.
Bộ tài chính hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện thanh lý tài sản hiện vật của doanh
nghiệp đảm bảo tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, vừa quản lý được chống thất
thoát vốn và tài sản. Các khoản nợ khó đòi của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần tiến
hành bù đắp bằng dự trữ quỹ đồng thời tiến hành rút kinh nghiệm khắc phục những
sai phạm này. Khâu mà doanh nghiệp quan tâm là quản lý các vốn lưu động vốn cố
định sao cho đạt hiệu quả tránh sử dụng lãng phí và gây thất thoát muốn vậy doanh
nghiệp cần tiến hành đối với vốn cố định là vốn do tính chất lớn sử dụng trong thời
gian dài nên cần phaỉ thực hiện nguyên tắc khấu hao. Doanh nghiệp phải xem xét
tình hình tiêu thụ sản phẩm do tài sản cố định đó chế tạoa ra xem xét hao mòn vô
hình của tài sản cố định, xem xét nhiệm vụ đầu tư cho tài sản cố định tới việc trích
lập khấu hao tài sản cố đinh. Vốn lưu động doanh nghiệp sử dụng các biện pháp
đây có thể hiện đại hoá thanh toán tín dụng điện tử. Tạo môi trường đầu tư thông
thoáng thực hiện quy định của pháp luật để tăng lượng vỗn đầu tư. Cụ thể khuyến
khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư trực tiếp để sản xuất kinh doanh nhất
là đầu tư trong các lĩnh vực và các vùng ưu tiên bổ sung sưa đối chính sách đầu tư
đơn giản hoá quy chế đầu tư trong nước theo hình thức kinh tế chuyển giao tạo
khuôn khổ pháp lý cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế góp vốn đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế và các điều
kiện thuận lợi khi thực hiện các dự án xây dựng kinh doanh chuyển giao BOT. Mở
rộng nhiều hình thức huy động vốn chuyển tiền về quỹ đầu tư. Tiếp tục phát hành
công trái, công trình đối với một số công trình có khả năng hồi vốn và tập trung cho
sản xuất. Xúc tiến thành lập các cơ sở chứng khoán với quy mô phù hợp. Ban hành
các văn bản cụ thể quy định hình thức huy động vốn và sử dụng nguồn vốn hợp lý
để có hiệu quả tránh lãng phí.
Huy động vốn nước ngoài mục tiêu chú trọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp ở
nước ngoài đồng thời mở rộng các hình thức tín dụng tài trợ với lãi suất ưu tiên dài
cho các lĩnh vực đầu tư có hiệu quả, quản lý và sử dụng vốn đúng hiệu quả đúng
mục đích sử dụng nhằm đưa uy tín của Việt Nam trên thị trường quốc tế các giải
pháp bao gồm: Nhận thức đúng vai trò thực tế của vốn và công nghệ nước ngoài đối
với công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo môi trường ổn định và thuận lợi để đầu tư từ
nguồn vốn FDI và ODA. Phát hành trái phiếu của Chính phủ và doanh nghiệp Nhà
nước ra thị trường thế giới. đa dạng hoá các nguồn vốn tài trợ phát triển cho nhiều
ngành. Giải quyết chấm dứt nợ cũ để vay thêm đầu tư cho cơ sở vật chất. Đối với
các nguồn vốn cần khắc phục sự yếu kém chậm trễ trong việc thẩm định dự án, đấu
thầu nhằm đẩy nhanh quá trình giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đối
với đầu tư trực tiếp FDI cần khẩn trương thực hiện luật đầu tư nước ngoài hết sức
quan tâm cải thiện môi trường cả về công cụ vĩ mô và xoá trở ngại cho các nhà đầu
tư nước ngoài.
nghiệp cần phải hoàn chỉnh giấy tờ về mặt pháp lý để việc huy động trở nên đơn
giản hơn, một điều cần thiết nữa là doanh nghiệp phải làm ăn hiệu quả phù hợp với
quy định của luật pháp, chứng minh công việc kinh doanh của mình là có lãi và dự
báo thực tiễn về nhu cầu và biến động thị trường. Xu hướng hiện nay các doanh
nghiệp cần phải hoàn thành các thủ tục giấy tờ để tham gia vào thị trường chứng
khoán, có thể nói dưới hình thức này có thể đem lại cho doanh nghiệp khả năng thu
hút vốn cao và nhanh chóng.
Kết thúc vấn đề
Doanh nghiệp có vốn trở thành một bộ phận quan trọng trong chiến lược đầu
tư phát triển của nước ta. Góp phần phát huy nội lực và nội thế so sánh nó còn tác
động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả
của nền kinh tế. ý thức được vấn đề này đòi hỏi Nhà nước phải có những chính
sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả tích luỹ và sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
Thông qua các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư trong nước là quyết
định, đầu tư nước ngoài là quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Về phần
doanh nghiệp “Bộ phận chiến lược trong đầu tư và phát triển” cần phải luôn coi
trọng vấn đề tích luỹ vốn và tìm các biện pháp sử dụng. Nguồn tích luỹ, ngoài việc
huy động với từ tác động của chính sách đầu tư Nhà nước bản thân họ cần phải tự
thực hành tiết kiệm trong nội bộ, phân bổ và quản lý vốn chặt chẽ tạo tiền đề cho
quá trình tích luỹ vốn đồng thời họ phải thu hút vốn đầu tư qua các bộ phận dân cư,
qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu tạo nguồn lực tài chính dồi dào
đáp ứng cho nhu cầu mở rộng sản xuất. Nghiên cứu vấn đề tích lũy tư bản không
những làm chúng ta hiểu rõ phương thức làm giàu chủ nghĩa tư bản mà còn có ý
nghĩa thực tiễn đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay,
giúp chúng ta có cái nhìn hoàn thiện hơn để thu hút vốn sao cho đạt hiệu quả cao
nhất. Thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, văn minh” đưa