LUẬN VĂN: Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt
Nam hiện nay A. Phần mở đầu

chất của sở hữu tư sản hiện đại, về thực chất của mô hình XHCN kiểu cũ dựa trên
chế độ công hữu thuần nhất, và về con đường tất yếu chuyển đổi nó sang thị trường.
Đương nhiên sở hữu như một phạm trù kinh tế, khác sở hữu như một phạm trù
của luật học và các khoa học xã hội khác, không phải là quan hệ chủ thể - khách thể,
tuy rằng quan hệ chủ thể - khách thể "Vật liệu xây dựng" cho sở hữu kinh tế và là
xuất phát điểm cho mọi quá trình kinh tế. Hơn nữa, đã có sự chuyển hoá sở hữu
thực tế thành sở hữu kinh tế được gây ra bởi quá trình phản ứng kinh tế - xã hội,
trong điều kiện phân công lao động xã hội và có sự trao đổi sản phẩm lao động (Mà
điều kiện trao đổi là: chiếm hữu tư nhân về các sản phẩm khác nhau và sự trao đổi
là tương đương).
Vậy các quan hệ kinh tế trong những điều kiện lịch sử nhất định đã bắt buộc
sự chiếm hữu riêng rẽ của những người khác nhau về các điều kiện và kết quả sản
xuất khác nhau, nói cách khác, bắt buộc xuất hiện hình thái đối kháng của sự thống
nhất xã hội, xuất hiện mâu thuẫn kinh tế giữa những đại diện các yếu tố sản xuất
tức là các quan hệ sở hữu. Từ đây, có thể rút ra các kết luận chính về vấn đề sở hữu,
trước khi chúng ta đi phân tích cụ thể sự tồn tại, vận hành của nó trong "Nền kinh tế
thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam":
Thứ nhất, Bản chất sở hữu như một phạm trù kinh tế bộc lộ ra ở chỗ nó chứa
đựng các chất lượng xã hội đặc biệt, gây ra bởi sự phân cực kinh tế giữa các vật
khác nhau và những người khác đại diện cho vật, do đó bắt buộc phải cần đến nhau.
Thứ hai, sở hữu luôn giả định (bắt buộc) các cơ sở tư nhân của mình, nó đảm
bảo sự quan tâm kinh tế của người sản xuất hàng hoá - động lực thực sự của sản
xuất, đảm bảo hoạt động bình thường và hiệu quả của phân công lao động xã hội. D.
Ricado nói đại ý: Sở hữu tư nhân như là kết quả của phân công lao động xã hội.
Thứ ba, nhưng sở hữu tư nhân như là hình thái lịch sử chung, là điều kiện xã
hội chung của sản xuất, luôn tồn tại dưới những hình thái cụ thể, đặc thù của sở
hữu.
Thứ tư, quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội trìu tượng, chỉ bộc lộ khi ta phân

nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, phấn đấu cho mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh.

B. Phần nội dung

I. Những vấn đề lý luận về phạm trù sở hữu
1. Một số khái niệm liên quan
a. Chiếm hữu là gì?
Để tồn tại và phát triển con người phải dựa vào tự nhiên, chiếm hữu là phạm
trù khách quan, tất yếu, vĩnh viễn, là điều kiện trước tiên của hoạt động lao động
sản xuất. Chủ thể chiếm hữu là cá nhân, tập thể và xã hội. Đối tượng của chiếm
hữu từ buổi ban đầu của loài người là cái có sẵn trong tự nhiên cùng với sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Các chủ thể chiếm hữu không chỉ chiếm hữu tự nhiên
mà cả xã hội, tư duy, thân thể, cả các vô hình và cái hữu hình. Trong kinh tế, chiếm
hữu cả sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng.
b. Sở hữu là gì?
Theo quan điểm của Mác xít khái niệm gốc của sở hữu là "Sự chiếm hữu".
Theo đó: Sở hữu là hình thức xã hội - lịch sử nhất định của sự chiếm hữu, cho nên
có thể nói: Sở hữu là phương thức chiếm hữu mang tính chất lịch sử cụ thể của con
người, những đối tượng dùng vào mục đích sản xuất và phi sản xuất. Sở hữu luôn
luôn gắn liền với vật dụng - đối tượng của sự chiếm hữu. Đồng thời sở hữu không
chỉ đơn thuần là vật dụng, nó còn là quan hệ giữa con người với nhau về vật dụng.
Quan hệ sở hữu có thể là những quan hệ về kinh tế và pháp lý. Nói cách khác,
quan hệ sở hữu về kinh tế là hiện diện của bộ mặt pháp lý, theo nghĩa rộng quan hệ
sở hữu kinh tế là tổng hoà các quan hệ sản xuất - xã hội, tức là các quan hệ của các
giai đoạn tái sản xuất xã hội. Những phương tiện sống, bao gồm những quan hệ sản
xuất trực tiếp, phân phối, trao đổi, lưu thông và tiêu dụng được xét trong tổng thể

quá trình chiếm hữu, mà khi xem xét dưới góc độ pháp lý nó bao gồm 3 bộ
phận cấu thành chủ thể, khách thể và nội dung.
d. Các hình thức sở hữu: Hình thức đầu tiên, là công hữu, sau đó do sự phát
triển của lực lượng sản xuất, có sản phẩm dư thừa, có kẻ chiếm làm của riêng xuất
hiện tư hữu. Đó là hai hình thức sở hữu cơ bản thể hiện ở nước đó, quy mô và
phạm vi sở hữu khác nhau, phụ thuộc vào trình độ lực lượng sản xuất và lợi ích của
chủ sở hữu chi phối. Chẳng hạn, công hữu thể hiện thông qua sở hữu nhà nước, sở
hữu toàn dân. Ngoài ra còn có hình thức sở hữu hỗn hợp. Nó xuất hiện tất yếu do
yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất và quy trình xã hội hoá nói chung đòi hỏi. Sở
hữu hỗn hợp hình thành thông qua hợp tác liên doanh liên kết tự nguyện phát hành
mua bán cổ phiếu v.v
Tựu trung lại, khái quát lại thì có hai hình thức cơ bản: Công hữu và tư hữu.
Còn lại là kết quả của sự kết hợp giữa chúng với nhau.
e. Quyền sở hữu là gì?
Vì cơ sở kinh tế đảm bảo cho sự thống trị về chính trị - tư tưởng là các quan hệ
sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị dùng từ một bộ phận của
công cụ pháp luật quy định về chế độ sở hữu để thể chế hoá ý chí của giai cấp hình
thành hệ thống các quy phạm pháp luật các quy phạm pháp luật này quy định, củng
cố và duy trì dự tính và địa vị thống trị giai cấp. Vì vậy quyền sở hữu là một phạm
trù pháp lý. Nó có nhiệm vụ xác lập và bảo vệ quyền của chủ sở hữu trong việc
chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối tượng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Với tư cách là một chế định pháp luật, quyền sở hữu chỉ ra đời khi xã hội có phân
chia giai cấp và có Nhà nước. Còn theo nghĩa hẹp, quyền sở hữu được hiểu là mức
độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt trong những điều kiện nhất định (quyền năng dân sự). Ngoài ra
theo một phương diện khác quyền sở hữu là một quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu
(có ba yếu tố: Chủ thể, khách thể, nội dung).


Qua sơ đồ trên cho ta thấy sở hữu tư nhân trong các phương thức sản xuất
khác nhau của lịch sử phát triển của loài người với tính chất và mức độ thể hiện
khác nhau:
* Trong chế độ chiếm hữu nô lệ: Pháp luật của nhà nứơc chủ nô duy trì và bảo
vệ chế độ sở hữu của chủ nô đối với tất cả các tư liệu sản xuất của xã hội ngay cả sở
hữu bản thân người nô lệ (nô lệ là công cụ biết nói không được xem là người). ở
Người sở hữu A
(Người sản xuất
hàng hoá) Người sở hữu B
(Người sản xuất
hàng hoá)

IV. hình thái nhà nước của sở hữu tư
nhân TBCN

S
ở hữu thực tế

III. hình thái nhà nước của sở hữu tư
nhân đơn gi
ản

S
ở hữu thực tế

S
ở hữu thực tế

II.Hình thái s
ở hữu t
ư nh
ân TBCN

S
ở hữu thực tế

S
ở hữu thực tế

Người sở hữu B
(Người sản xuất
hàng hoá)

Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở
h
ữu

S
ở hữu kinh tế

Các quan hệ phân công
lao động xã hội
Các quan hệ sở
h
ữu

S
ở hữu kinh tế

đây, trình độ tư hữu của còn thấp nhưng tính chất khắc nghiệt và bất bình đẳng là
tuyệt đối.
* Trong xã hội phong kiến: Sở hữu đẳng cấp phong kiến thể hiện rõ ở chế
độ"phong tước, cấp điền" của các vua chúa phong kiến. Nhà nước và pháp luật
phong kiến bảo vệ, duy trì chế độ sở hữu của địa chủ lãnh chúa phong kiến đối với
ruộng đất và duy trì tình trạng nửa phong kiến của nông dân và giai cấp phong kiến.
* Trong chế độ tư bản chủ nghĩa: Trên cơ sở tan rã dần của sở hữu phong kiến
đã xuất hiện và phát triển quan hệ sở hữu tư sản. Đó là chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư (do công nhân làm thuê

khác (những người không phải là chủ sở hữu) được coi là chế độ sở hữu. Tùy thuộc
vào khả năng chiếm đoạt lao động của mình hay của người khác mà phân ra 2 kiểu
chế độ sở hữu: chế độ tư hữu mang tính bóc lột dựa trên lao động của người khác
và chế độ tư hữu lao động dựa trên lao động của chính bản thân mình. Kiểu chế độ
tư hữu thứ hai, chẳng hạn như các điền chủ hiện nay không sử dụng hoặc hầu như
không sử dụng lao động làm thuê, ngày nay có thể liên kết vào các hệ thống kinh tế
cả TBCN và XHCN. Trên phương diện chủ thể, chế độ tư hữu phân chia thành tư
hữu cá nhân và tư hữu tập thể bao gồm cả sở hữu tập thể cổ phần - sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể lao động.
Chế độ tư hữu được đem so sánh với chế độ công hữu. Thực chất của sự so
sánh là ở chỗ: Sở hữu nhà nước không phải mọi lúc mọi nơi đều có nghĩa là sở hữu
công cộng. Vấn đề không chỉ ở chỗ chế độ công hữu có thể có hình thức. Sở hữu
nhà nứơc và sở hữu tập thể, mà còn ở trong bản chất của chính các quan hệ xã hội.
Quốc hữu hoá được coi là phương thức, biện pháp cải tạo chế độ tư hữu thành sở
hữu nhà nước, là việc làm mang tính chất chính trị pháp lý. Việc làm này có ý
nghĩa xã hội hoá sản xuất một cách hình thức, nghĩa là chỉ làm thay đổi các quan hệ
sản xuất về mặt pháp lý sao cho phù hợp ý chí của Nhà nước làm luật. Vì vậy ngày
nay quan hệ sở hữu XHCN và quan hệ sở hữu TBCN đều có sở hữu nhà nước. Sở
hữu nhà nước trở thành chế độ công hữu XHCN chỉ khi thực hiện được xã hội hoá
sản xuất thực sự. Sẽ diễn ra một sự cải tiến tận gốc các quan hệ sở hữu mà bản chất
XHCN của chế độ sở hữu, được thẻ hiện thông qua lợi ích của những người lao
động (công dân, nông dân tri thức). Có thể nói rằng các mối quan hệ xã hội được
hình thành trên cơ sở xoá bỏ lao động làm thuê là biểu hiện trực tiếp không chỉ
riêng của chế độ sở hữu XHCN.
Qua phân tích trên ta có thể nhận xét như sau:
*Thứ nhất, cần phân biệt chế độ có tính chất bóc lột với chế độ sở hữu lao
động không mang tính bóc lột.

mạnh) phát triển, trong đó kỹ năng, lao động của con người là quyết định. Con
người là nhân tố trung tâm là mục đích của nền sản xuất xã hội. Trong điều kiện
ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ rất phát triển, vị trí trung
tâm củ con người càng được nhấn mạnh. Do vậy, việc nâng cao dân trí là nhu cầu
bức bách. Nó vừa là đòi hỏi của nền sản xuất xã hội, vừa là điều kiện để thúc đẩy
nền sản xuất xã hội phát triển nhanh hơn.
- Quan hệ sản xuất: Là quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình
sản xuất và tái sản xuất xã hội: Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ kinh tế - xã hội
và quan hệ kinh tế - tổ chức. Trong đó quan hệ kinh tế - xã hội biểu hiện ở 3 mặt (3
yếu tố cấu thành).
Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức - quản lý và quan hệ phân
phối sản phẩm. Trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định chi phối, theo
C.Mác:"Sở hữu với tư cách là hình thái hiện thực của quan hệ sản xuất".
Giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối quan hệ biện chứng, trong
đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của sản xuất, còn quan hệ sản xuất (quan
hệ sở hữu trong đó) là hình thức xã hội - pháp lý của sản xuất. Lực lượng sản xuất
không ngừng vận động, biến đổi và phát triển qua các giai đoạn lịch sử, qua các
hình thái kinh tế - xã hội với tính chất và trình độ xã hội hoá ngày càng cao Đòi
hỏi tất yếu là quan hệ sở hữu xác lập tương ứng với nó phải phù hợp để mở đường
thúc đẩy cho lực lượng sản xuất phát triển đi lên (trái lại là kìm hãm lực lượng sản
xuất, ngay cả trường hợp quan hệ sở hữu đi quá xa so với trình độ của lực lượng sản
xuất). ở nước ta, trước khi tiến hành đổi mới toàn diện đã có thời kỳ quá nhấn
mạnh quan hệ sản xuất, nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, mà không xuất
phát từ thực trạng của lực lượng sản xuất, dẫn đến nôn nóng, chủ quan duy ý chí
muốn xoá bỏ ngay các hình thức sở hữu phi XHCN, xây dựng và thúc đẩy cao sở
hữu XHCN (sở hữu toàn diện, và sở hữu tập thể) bằng việc tập trung cao độ, hợp
tác cao độ, thậm chí cả bằng quốc hữu hoá cưỡng bức trong điều kiện lực lượng sản
xuất thấp kém nó đã làm kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển, làm cho năng suất
lao động thấp, kinh tế không tăng trưởng, và khủng hoảng kinh tế - xã hội.


dân dẫn đến trao đổi phát triển Nói chung sản xuất phong kiến chủ yếu dựa vào
lao động thủ công của nông dân và thợ thủ công.
Những đặc điểm trên đã quyết định tính chất của quan hệ sản xuất phong kiến
mà trực tiếp nhất ở đây là quan hệ sở hữu phong kiến; Đó là việc: Bọn địa chủ bóc
lột nông dân, tá điền trên cơ sở chiếm hữu ruộng đất và duy trì họ trong tình trạng
lệ thuộc vào chúng. Địa chủ, chúa đất nằm tập trung phần lớn tư liệu sản xuất
(Ruộng đất) còn nông dân là người sản xuất trực tiếp không có hoặc có rất ít ruộng
đất (và là giai cấp bị bóc lột nặng nề). Như vậy có thể nói rằng, sở hữu phong kiến
về ruộng đất là cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến. Nó quyết định địa vị của con
người trong quá trình sản xuất, quyết định cơ cấu xã hội - giai cấp và chế độ phân
phối (bất bình đẳng).
Trong xã hội phong kiến, bên cạnh sở hữu của địa chủ phong kiến, còn có sở
hữu cá thể của người lao động(nông dân, thợ thủ công) về công cụ lao động, nhà
cửa để ở và một số vật dụng khác (họ không có quyền sở hữu tư liệu sản xuất mà
chỉ "sử dụng" ruộng đất của địa chủ để làm thuê lấy công duy trì cuộc sống cá nhân
và gia đình họ); và còn có sở hữu của tiểu nông độc lập và thợ thủ công tự do. Bản
thân các chủ sở hữu nhỏ này cũng bị nhà nước phong kiến và địa chủ phong kiến áp
bức, bóc lột nặng nề (tuy cuộc sống có dễ chịu hơn so với nông nô).
Một nét đặc trưng khác nữa là giai cấp phong kiến cưỡng bức siêu kinh tế
nhằm cột chặt nông dân vào ruộng đất và bóc lột phần lớn lao động của nông dân
(toàn bộ cả lao động sản phẩm thặng dư).
* CNTB với phương thức thủ đoạn bóc lột gia trị thặng dư tinh vi hơn, xảo
quyệt hơn các giai cấp bóc lột trước đó (chủ nô và phong kiến, địa chủ). Giai cấp tư
sản trong thời kỳ đầu áp dụng phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối (kéo
dài thời gian lao động), sau này do vấp phải sự đấu tranh quyết liệt của giai cấp
công nhân chúng chủ yếu áp dụng phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối
(tăng cường độ lao động). Theo chủ nghĩa Mác - Lênin xã hội TBCN là xã hội

Nội dung của quyền sở hữu: Là các quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự mà
pháp luật qui định cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Đó là ba quyền
năng: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong đó: Quyền chiếm hữu là tự mình
nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu. Đó cũng là quyền kiểm soát, làm chủ, chi
phối vật theo ý mình; Quyền sử dụng là việc khai thác công dụng của đối tượng sở
hữu; quyền định đoạt là sự quyết định "Số phần pháp lý" của vật như bán, tặng,
cho
Việc phân biệt ba quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong quyền sở hữu có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Đặc biệt trong qúa trình giải quyết các tranh
chấp trong tố tụng dân sự.
II. Cơ cấu sở hữu trong qúa trình hình thành và phát triển kinh tế thị
trường ở Việt Nam.
1. Cơ cấu sở hữu của Việt Nam trước khi tiến hành đổi mới (trước 1986)
a. Giai đoạn 1945 - 1959
Cách mạn4g tháng tám thành công ngày 02/9/1945 nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà, một nhà nước công - nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam á ra đời với
mục tiêu xây dựng một chế độ xã hội mới theo con đường phát triển của chủ nghĩa
cộng sản. Hiến pháp 1946 đã tạo cơ sở pháp lý và từ đây quyền sở hữu tài sản riêng
của công dân trở thành quyền hiến định. Nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt
Nam lúc đó phải xoá bỏ quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất quan trọng của thực
dân Pháp, của các đế quốc khác, các thế lực phản động và thù nghịch, của giai cấp
địa chủ phong kiến Pháp luật giai đoạn 1945 - 1959 đã tạo ra những tiền đề quan
trọng trong việc xác lập quan hệ sở hữu mới dưới chính quyền dân chủ nhân dân.
Từ đó xây dựng cơ sở vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của chế độ mới.
Trong giai đoạn này ta đã dùng chính quyền vô sản làm công cụ cải tạo xã hội thiết
lập quan hệ sản xuất XHCN, chúng ta coi công hữu là mục tiêu.
b. Giai đoạn 1959 - 1960

kinh tế - xã hội để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chiến thắng trong đấu tranh
giành chính quyền (1945) và trong kháng chiến chống đế quốc Pháp, và Mỹ Tuy
nhiên, xét về thực tế nước ta quá độ lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu,
trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, năng suất lao động thấp, dân trí thấp vv Còn
về chủ quan, do quá nhiệt tình, cộng với sự thiếu hiểu biết nhận thức không đúng
nhiều luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nên đã tuyệt đối hoá tính hơn hẳn của
sở hữu XHCN. Một thời gian dài chúng ta đã định kiến với sở hữu cá nhân của
người lao động, thậm chí coi nó là hình thức đối lập với XHCN, là mầm mống khôi
phục chế độ bóc lột. Thật ra, sở hữu cá nhân không biến thành tư bản, không biến
thành công cụ để bóc lột người lao động. Sở hữu cá nhân chủ yếu đối với các vật
phẩm tiêu dùng, nhằm thỏa mãn các nhu cầu của người lao động phụ thuộc vào
trình độ của sở hữu xã hội. Trong "tuyên ngôn Đảng cộng sản" đã chỉ ra "Chúng tôi
cần gì phải xoá bỏ sở hữu ấy, sự tiến bộ của công nghiệp đã xoá bỏ và hàng ngày
vẫn tiếp tục xoá bỏ cái đó rồi".
Do nhấn mạnh đề cao, tuyệt đối hoá vai trò và tính ưu việt của kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể (HTX) nên đến một thực tế: Năng suất lao động thấp kém,
hàng hoá khan hiếm thiếu lương thực, khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Trước tình hình đó Đảng ta đã nhìn nhận lại, nhận thức lại và thừa nhận sai
lầm khuyết điểm do chủ quan nóng vội muốn có ngay CNXH và vận dụng quy luật
kinh tế sai (đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất - lực lượng sản xuất). Từ đây,
đường lối đổi mới toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam được tập trung trong văn
kiện Đại hội VI (1986) và tiếp tục sau này được các Đại hội VII, VIII khẳng định là:
Chúng ta xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
2. Cơ cấu sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay:
Chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, tiến hành hoàn thiện quan hệ sản xuất
XHCN, trước hết là điều chỉnh các hình thức sở hữu vốn có, là kết hợp một cách

biến đổi của các hình thức sở hữu, ở nước ta hiện nay.
a. Sở hữu toàn dân: ở nứơc ta hiện nay, hiến pháp 1992 và luật đất đai đã quy
định rõ:"Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn
lợi ở vùng biên, thềm lục địa và vùng trời Các tài sản khác mà pháp luật quy định
là của nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân". Xét về mặt kinh tế, đất đai là phương
tiện tồn tại cơ bản của một cộng đồng người. Xét về mặt xã hội, đất đai là lãnh thổ.
Nhưng xét cả hai phương diện, có thể nói đất đai không thể là đối tượng sở hữu của
riêng ai.
Việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện sở hữu và
quản lý không hề mâu thuẫn với việc trao quyền cho các hộ nông dân, kể cả các
quyền được chuyển nhượng, quyền sử dụng đất đai lâu dài ổn định. Việc tách hết
quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai này nếu biết giải quyết sẽ đem lại sức bật
cho lực lượng sản xuất phát triển.
Văn kiện đại hội III của Đảng ta đã chỉ rõ:"Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân
về đất đai, ruộng đất thu được giao cho nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước qui
định bằng pháp luật, các vấn đề thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất ". Như vậy, sở
hữu toàn dân ở nước ta hiện nay đã được xác định theo nội dung mới, có nhiều khả
năng để trở thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội.
b. Về sở hữu nhà nước: Trong thời kỳ bao cấp trước đây chúng ta đã đồng nhất
sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân. Do nhầm lẫn như vậy, có thời gian dài người
ta bỏ quên hình thức sở hữu nhà nước, chỉ quan tâm đặc biệt tới hình thức sở hữu
toàn dân với chế độ công hữu tồn tại dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể.
Và cũng bởi vì sở hữu toàn dân gắn kết với sự phát triển của kinh tế quốc doanh. Vì
vậy mà chúng ta đã ra sức quốc doanh hoá nền kinh tế với niềm tin cho rằng có như
vậy mới có CNXH nhiều hơn.
Trong một xã hội mà nhà nước còn tồn tại thì sở hữu toàn dân chưa có
điều kiện vận động trên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu

cấp, tự túc, lại bị trói buộc bởi cơ chế quản lý. Hiện náy nó đang được khuyến khích
phát triển và đang có xu hướng phát triển thuận lợi . kinh tế cá thể có mối quan hệ
chặt chẽ với kinh tế hợp tác xã, vì thế hình thức sỡ hữu cá thể cũng có quan hệ
khăng khít với hình thức sở hữu hợp tác. kinh tế cá thể, tiểu chủ có điều kiện phát
huy nhanh và có hiệu quả tiềm năng về vốn, Sức lao động, tay nghề của từng nhóm,
từng người dân. Tại đai hội VIII , Đảng ta đã nêu rõ: Kinh tế cá thể ,tiểu chủ có vị
trí quan trọng, lâu dầi. Giúp đỡ kinh tế chính trị, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về
vốn, khoa học và công nghệ, về thương trường tiêu thụ sản phẩm. Hoặc làm vệ tinh
cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã.
Chúng ta đều biết kinh tế cá thể, tiểu chủ về thực chất là thành phần kinh tế
sản xuất nhỏ. Nó dựa trên sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và về lao động của bản
thân và cho đén nay nó vẫn được coi là sở hữu cá nhân. Thứ sở hữu có nhân đó
không phải là một chế độ sở hữu độc lập. Bởi thế, nó không thể tạo ra quan hệ sản
xuất, hoặc đại diện cho 1 quan hệ sản xuất mà chỉ là kết quả tất yếu của quan hệ sản
xuất đâng tồn tại thành phần kinh tế này cũng luôn chịu sự tác động trên nhưng quy
luật kinh doanh và luôn bị phân tán vì thế cần phải có biện pháp kinh tế để tại đây
phóng dần và các biến nó theo dịnh hướng xã hội chủ nghĩa.
e, Sở hữu tư bản tư nhân:
ở nước ta kinh tế tư bản tư nhân đang hình thành phát triển. Đây là thành
phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tự nhân TBCN về tư liệu sản xuất. Trong điều
kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, sở hữu tư bản tư nhân, bao gồm cả
doanh nghiệp của các nhà tư sản và các đơn vị kinh tế mà phần lớn. Vốn do một
hoặc một số tư nhân góp lại, thuê lao động sản xuất- kinh doanh dưới hình thức xí
nghiệp tư doanh hay công ty cổ phần tư nhân. Nó cũng bao gồm cả hình thức kinh
tế tư bản tư nhân nước ngoài đầu tư 100% vốn hoặc nắm giữ tỷ lệ vốn khống chế.
Trong thời kỳ quá độ phát triển sản xuất TBCN không còn nguyên vẹn nữa. Bởi
thế, kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta chỉ hoạt động với tư cách là một thành phần

Việc nắm vững vấn đề sở hữu, đặc biệt là luận điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin sẽ là cơ sở lý luận nền tảng tư tưởng cho việc hoạch định, định hướng phát
triển cho đất nước.
Đó là căn cứ để đấu tranh chống các t ư tưởng phản động. Chống đối, xuyên
tạc như quan điểm tư sản cho rằng chế độ SHTNTNCN là bất diệt.
2. ý nghĩa thực tiễn:
Chế độ sở hữu với các hình thức sỡ hữu đa dạng tương ứng với các thành
phần kinh tế khác nhau hiện nay ở nước ta đang có quá trình hoà nghuyện, dám xem
, bổ xung cho nhau đẻ phát triển trong một hành lang định hướng XHXHCN.
Đây là việc lựa chọn hợ quy luật và có hiệu quả, phát huy được vai trò của các
hình thức sở hữu.
IV. Một Số Giải Pháp Chính Sách Của Đảng Và Nhà Nước
Để vận hành có hiệu quả cơ cấu sở hữu đồng thời thực hiện đa dạng hoá các
hình thức sở hữu và phát huy vai trò của các thành phàn kinh tế;
1. Nhóm giải pháp chính trị pháp lý: Đảng cộng sản Việt Nam ban hành các
chủ trương, chính sách sở hữu đúng đắn, kịp thời, phù hợp Nhà nước kịp thời thể
chế hoá chúng thành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ sở hữu xã hội vận hành
tốt. Với các chính sách tập trung như: chính sách sở hữu; chính sách đối với việc sử
dụng, quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước của các cơ quan, tổ chức cá nhân; hoàn
thiện pháp luật về sở hữu, chính sách đối với các thành phần kinh tế vv
2. Các giải pháp kinh tế - xã hội
Nhằm tạo ra cơ sở kinh tế - vật chất - kỹ thuật để bảo đảm, cũng như tạo ra
môi trường kinh tế - xã hội ổn định, lành mạnh cho các quan hệ sở hữu tự do vận
hành trong khuôn khổ pháp luật trong đó:
- Các thành phần kinh tế nhà nước, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong thị
trường, có sự quản lý của nhà nước.
- Giáo dục ý thức pháp luật, trách nhiệm xã hội giáo dục truyền thống lịch sử
và các kiến thức hiểu biết về sở hữu cho mọi công dân. Để từ đó có thái độ xử sự
đúng đắn, hợp pháp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status