LUẬN VĂN:
Kinh tế Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam
Đặt vấn đề.
Qua 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội. Có thể nói, nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã được xác lập và phát huy hiệu quả.
Trong những thành công này có đóng góp một phần không nhỏ của bộ phận kinh tế
trong khả năng có thể đưa một vài tham luận của cá nhân đóng góp vào các giải
pháp phát triển KTNN hiện nay.
Đề án tập trung giải quyết những vấn đề sau :
- Làm rõ khái niệm KTNN, cơ sở lý luận, sự cần thiết của vai trò chủ đạo của
KTNN.
- Mô tả thực trạng của KTNN, thực trạng sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà
nước, những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân.
- Đưa ra và phân tích các giải pháp, đóng góp ý kiến nhằm phát triển KTNN.
Phần thứ nhất: Kinh tế nhà nước và vai trò của nó trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
I. Khái quát lí luận về thời kì quá độ, Sự tồn tại khách quan nền kinh tế
nhiều thành phần trong thời kì quá độ.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc
trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất và tinh
thần cần thiết để hình thành một xã hội mà trong đó, những nguyên tắc cơ bản của
xã hội XHCN được thực hiện.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử bởi vì CNXH – giai đoạn
đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa không thể tự phát ra đời trong
lòng xã hội cũ. Hơn nữa, sự phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa
nhiều thành phần mới tạo động lực phát huy mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của các
thành phần kinh tế để phát triển, từ đó mà xây dựng cơ s
ở vật chất cho CNXH.
- Sự lãnh đạo của Nhà nước chuyên chính vô sản sẽ đảm bảo dẫn dắt xã hội
phát triển tiến lên CNXH. Trong hệ thống chuyên chính vô sản bộ phận quan trọng
nhất là Nhà nước. Giai cấp vô sản phải nắm lấy chính quyền, từng bước cải tạo xã
hội, chống các thế lực thù địch dù đã mất đi vị thế chính trị song vẫn còn rất mạnh,
từng bước xây dựng xã hội mới. Xét theo khía cạnh kinh tế, tầm quan trọng của
Nhà nước trong hệ thống chuyên chính vô sản biểu hiện ở vai trò và chức năng kinh
tế của Nhà nước. Trong xã hội tư bản, vai trò của Nhà nước không chỉ dừng lại ở
thuế khoá (nhằm nuôi sống bộ máy cai trị ), với sự xuất hiện sở hữu Nhà nước đã
làm cho nhà nước bắt đầu can thiệp vào quá trình sản xuất. Một mình thị trường
không làm nổi chức năng điều tiết nền kinh tế, cần phải có bàn tay của Nhà nước
đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc (Lí thuyết “hai bàn tay”của
P.Samuelson ). Vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước xã hội XHCN được Lê-
nin phát triển và áp dụng trong công cuộc xây dựng nhà nước Xô-viết. Lê-nin cho
rằng Nhà nước có chức năng tổ chức quản lí nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt trong hệ
thống chuyên chính vô sản hiện nay Nhà nước có vai trò bà đỡ-vai trò tạo điều kiện
cho sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Vậy, ta có thể tóm tắt công thức của thời kì quá độ là: nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần dưới sự lãnh đạo của Nhà nước vô sản. Sản xuất hàng hoá là tất
yếu nó không đối lập với tính kế hoạch XHCN, vấn đề là phải áp dụng tính trội của
mỗi tính về mặt tích cực mà xã hội mong muốn. Sản xuất hàng hoá và tính hàng hoá
với tư cách là kiểu sản xuất tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau
không những nhông mất đi mà còn cần phát triển cùng với tính kế hoạch định
1. Tài nguyên khoáng sản, đất đai, .v.v. là tài sản quốc gia do Nhà nước làm
chủ sở hữu.
2. Hệ thống các quỹ bảo hiểm do Nhà nước đảm nhiệm và các quỹ dự trữ
quốc gia.
3. Ngân hàng Nhà nước, kho bạc nhà nước, tài chính nhà nước.
4. Các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước ở tất cả các ngành, các lĩnh vực.
5. Phần vốn Nhà nước đầu tư vào các thành phần kinh tế khác dưới dạng
công ty cổ phần.
Xét về vị trí, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, KTNN giữ vai
trò chủ đạo.
Về hình thức thể hiện KTNN bao gồm hai hệ thống: hệ thống doanh nghiệp
và hệ thống phi doanh nghiệp. Hệ thống doanh nghiệp bao gồm các doanh nghiệp
thực hiện các hoạt động kinh doanh và các doanh nghiệp công ích. Hệ thống phi
doanh nghiệp bao gồm ngân sách Nhà nước, các quỹ quốc gia, tài nguyên thuộc sở
hữu nhà nước, v.v… III. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Vận dụng lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, ta có thể khái quát đặc điểm của
thời kì quá độ là: nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dưới sự lãnh đạo của nhà
- Thứ năm, KTNN dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện
đại, tiên tiến; do đó nó có nhịp độ phát triển nhanh đóng góp phần lớn cho ngân
sách Nhà nước và tích tụ để có thể không ngừng tái sản xuất mở rộng.
- Thứ sáu, KTNN là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh tế, đô
thị mới; là lực lượng có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí quan trọng
sống còn nhưng lại ít ai giám đầu tư vì nó đòi hỏi vốn quá nhiều mà thời gian thu
hồi vốn chậm.
Nghị quyết đại hội IX của Đảng ta đã chỉ rõ: KTNN phát huy vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định
hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. DNNN giữ những vị trí then chốt; đi đầu tiến
bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế –
xã hội và chấp hành pháp luật.
Phần thứ hai: Thực trạng phát triển
và đổi mới KTNN
I. Tổng quan sự phát triển của KTNN trong 15 năm đổi mới, phát triển.
Trong 15 năm qua, KTNN đã có những chuyển biến đáng kể: KTNN giữ vai
trò chủ đạo, DNNN giữ những vị trí then chốt nắm trong tay những nguồn lực cơ
bản của xã hội, là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế.Trong đó nổi bật có những nét đáng chú ý sau:
- Chúng ta đã chuyển đổi thành công từ chế độ quản lý quan liêu bao cấp
đất nước.
Thời gian qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1991 đến nay
Chính phủ đã đẩy mạnh công cuộc đổi mới và sắp xếp lại các DNNN. Đây là một
chủ trương lớn, còn nhiều vấn đề phải bàn đến, người viết xin đề cập chi tiết trong
những phần sau.
Nhìn chung, hiện nay các DNNN vẫn làm ăn thua lỗ, hiệu quả kinh tế đạt
thấp, tồn tại nhiều bất cập, mức tiết kiệm của DNNN còn hạn chế. Theo báo cáo của
tổng cục quản lí vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp năm 1998 chỉ có 37% số
DNNN làm ăn có hiệu quả, số còn lại thua lỗ nặng. Theo báo cáo của Bộ trưởng Tài
chính tại Quốc hội thì cuối năm 1999 chỉ có 20% số DNNN kinh doanh có hiệu quả.
Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của DNNN giảm dần năm 1996: 11,2%,
1997: 9,7%, 1998: 9,1%, 1999: 9,2%. Con số trên chứng tỏ khả năng sinh lợi của
các DNNN thấp và có xu hướng ngày càng giảm. ở các DNNN tình trạng phổ biến
là ứ đọng hàng hoá, khả năng mở rộng sản xuất và đổi mới công nghệ để sản xuất ra
các mặt hàng có giá trị cao hơn, có khả năng xuất khẩu hơn rất ít. Sản phẩm giá
thành còn cao, giá xuất xưởng của nhiều loại sản phẩm chủ yếu của ta cao hơn hẳn
giá sản phẩm nhập khẩu.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các DNNN sau một thời gian liên tục đạt 13% đến năm 1999đã giảm
xuống còn khoảng 8-9%. Hiệu quả sử dụng vốn giảm, năm 1995: 1 đồng vốn tạo ra
được 3,16 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận, đến năm 1998 chỉ tạo ra được
2,9 đồng doanh thu và 0,14 đồng lợi nhuận. Nợ nần trong các doanh nghiệp còn rất
cao, năm 1996 tổng số nợ của các DNNN là 174.797 tỉ đồng, năm 1999 đã lên tới
199.060 tỷ đồng, trong đó nợ phải trả bằng 109% vốn nhà nước trong các doanh
lại DNNN như là một bộ phận quan trọng trong đường lối đổi mới toàn diện đất
nước, đáp ứng yêu cầu thực hiện vai trò chủ đạo của KTNN. Từ đó đến nay qua các
thời kì chủ trương này lại được bổ xung và phát triển.
2.1. Sự cần thiết phải đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước.
Cải cách DNNN là quá trình tất yếu, khách quan. Nó xuất phát từ những yêu
cầu cấp thiết đặt ra ở trong nước cũng như trên thế giới.
Hiện nay, trong bối cảnh thế giới, xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh
mẽ. Đây là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Đây là
một cơ hội giúp chúng ta phát triển, đồng thời nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, mặt
tiêu cực như sự phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trường sinh thái. Điều này đặt ra
cho chúng ta những yêu cầu và thách thức phải đổi mới để hội nhập. Muốn vậy
phải cải cách nền kinh tế, tăng cường nội lực, để phát triển đón nhận những thời cơ
mà thời đại đem lại. Mà một trong những việc phải làm đầu tiên là cải cách hệ
thống DNNN làm cho nó thích nghi một cách toàn vện với cơ chế mới, tạo đòn bẩy
cho sự tăng trưởng. Điều này khẳng định tính tiên phong của thành phần kinh tế
XHCN.
Thời đại ngày nay ghi nhận những phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật
và công nghệ mà những ứng dụng của chúng đem lại những biến đổi lớn lao trong
đời sống xã hội. Thế giới đang chuyển sang nền kinh tế trí thức. Việt Nam cũng
chuyển mình đón nhận những thành tựu do khoa học kĩ thuật đem lại. Hệ thống các
DNNN phải đi đầu cải tiến, đổi mới sản xuất, áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại,
là tấm gương tiêu biểu trong sự nghiệp phát triển kinh tế.
2.2. Phương hướng chung, đường lối chỉ đạo, mục tiêu nguyên tắc
Trên tinh thần Đại hội IX, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp và ra
nghị quyết TW3 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu
quảDNNN. Nghị quyết nêu rõ :
* Quan điểm chỉ đạo.
- KTNN có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. DNNN (gồm
DNNN giữ 100% vốn và DNNN giữ cổ phần chi phối) phải không ngừng được đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công
cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lượng nòng
cốt, góp phần chủ yếu để KTNN thực hiên vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, là chủ lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc
xem xét, đánh giá hiệu quả của DNNN phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế,
chinh trị, xã hội; trong đó, lấy lãi suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu
chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực
hiện các chính sách xã hội làm kết quả chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh
nghiệp công ích.
- Kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để DNNN có cơ cấu hợp lý, tập trung vào
những nghành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đói
với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu; không nhất thiết phải giữ tỉ trong lớn trong tất
cả các ngành, lĩnh vực, sản phẩm của nền kinh tế. Đại bộ phận DNNN, cho phá sản
DNNN yếu kém, thua lỗ kéo dài mà Nhà nước không cần nắm giữ. Qua 3 đợt,
DNNN đã giảm từ 12 300 doanh nghiệp còn 5 571 ( giảm 55% về số lượng, chủ yếu
100% vốn để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển. Tính đến hết tháng 11/2001, cả nước đã có 771 doanh nghiệp được cổ
phần hoá và chuyển đổi sở hữu (trong đó có 698 doanh nghiệp được cổ phần hoá,
41 doanh nghiệp được giao và 32 doanh nghiệp được bán), bằng 13% số doanh
nghiệp hiện có, với số vốn gần 3.000tỷ đồng, bằng hơn 2% tổng vốn nhà nước trong
DNNN. Sau khi cổ phần hoá và chuyển đổi sở hữu, các doanh nghiệp đã huy động
được thêm hơn 2.000 tỷ đồng của các cá nhân pháp nhân, đồng thời thông qua bán
cổ phiếu, Nhà nước đã thu thêm hơn 1150 tỷ đồng để đầu tư và giải quyết chính
sách cho người lao động. Bên cạnh đó, phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp sau
khi chuyển đổi không mất đi mà lại tăng thêm từ 10 – 15% so với giá trị trên sổ
sách. Cùng với quá trình cổ phần hoá, Đảng, Chính phủ chủ trương để một số
DNNN đầu tư một phần vốn thành lập công ty cổ phần mới. Đến ngày 18-5-2000,
DNNN đã đầu tư vốn thành lập 279 công ty cổ phần mới với tổng số vốn Nhà nước
là 868,8 tỷ đồng, chiếm 46% vốn điều lệ. Kết quả sản xuất kinh doanh cho thấy :
267 công ty (96,4%) có lãi, 12 công ty còn lại (3,6%) hoà vốn.
Năm là, thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê những DNNN có
quy mô nhỏ, thua lỗ kéo dài để sử dụng có hiệu quả tài sản Nhà nước, bảo đảm việc
làm và thu nhập của người lao động. Theo báo cáo chưa đầy đủ, đến ngày
31/1/2001, số DNNN thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê theo Nghị
định 103/1999/NĐ-CP là 105 doanh nghiệp. Hình thức doanh nghiệp sau khi
chuyển đổi chủ yếu là công ty cổ phần, cổ đông chủ yếu là số lao động làm việc tại
doanh nghiệp, ngoài ra cũng có một số trường hợp bán cho người ngoài doanh
nghiệp. Phần lớn các địa phương và doanh nghiệp lựa chọn hình thức giao và bán
(chuyển đổi sở hữu), chiếm tương ứng 37% và 47,5%; thực hiện thuê và khoán kinh
doanh (chuyển đổi phương tức quản lý) chỉ chiếm tương ứng 2% và 15,2%. Đánh
giá một cách tổng quát, sau khi chuyển đổi, nhiều doanh nghiệp đã ổn định tổ chức,
nước; bảo đảm cân đối lớn và góp phần quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô; là
lượng chính trong việc bảo đảm các sản phẩm và dịch vụ công ích chủ yếu của xã
hội.
- Số DNNN giảm mạnh nhưng tốc độ tăng trưởng của khu vực DNNN vẫn duy
trì mức khá cao, bình quân tăng 11%/năm trong 10 năm (1991 –1999). Năm 2000
các DNNN đóng góp 39 % GDP.
II. Vấn đề đặt ra.
Như vậy, qua các phần phân tích ở trên, chúng ta đã hiểu phần nào về thực
trạng của các DNNN, bên cạnh đó còn rất nhiều tồn tại và vướng mắc cần giải
quyết. Trong phạm vi bài viết chỉ xin đưa ra những vấn đề cơ bản nhất:
Thứ nhất, về mặt nhận thức quan điểm, chưa có sự thống nhất cao trong nhận
thức về vai trò, vị trí của KTNN và DNNN, về yêu cầu và giải pháp sắp xếp, đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; nhiều vấn đề chưa rõ, còn nhiều ý kiến
khác nhau nhưng chưa được tổng kết thực tiễn để kết luận. Từ đó dẫn đến cơ chế
chính sách còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ.
Thứ hai, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của các DNNN còn
thấp, chưa tương xứng với điều kiện và lợi thế có được; tốc độ tăng trưởng của
DNNN có biểu hiện giảm dần; nợ khó đòi ngày càng lớn; tính năng động của một
bộ phận không nhỏ DNNN còn hạn chế. Theo đánh giá chung, năm 1998 số DNNN
thực sự kinh doanh có hiệu quả chỉ chiếm khoảng 40%, số doanh nghiệp kinh doanh
không có hiệu quả liên tục bị thua lỗ chiếm 20%, còn lại 40% doanh nghiệp kinh
doanh chưa hiệu quả khi lỗ khi lãi. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn nhà nước
của DNNN không cao và có xu hướng giảm dần (Năm 1996 là 11,2 %, năm 1997 là
9,3%, năm 1998 là 9,1%, năm 1999 là 9,2%). Không ít doanh nghiệp xây dựng dư
án, kế hoạch không phù hợp với định hướng phát triển chung của ngành, thiếu tính
những phần sau.
Thứ sáu, trình độ quản lý của DNNN phần lớn còn yếu kém chưa đáp ứng
yêu cầu của cơ chế thị trường; nhiều cán bộ quản lý chưa được đào tạo, đào tạo lại,
chưa đáp ứng được yêu cầu chuyên môn, còn lúng túng trước cơ chế thị trường.
Thứ bảy, cơ chế chính sách quản lý kinh tế, quản lý DNNN còn nhiều tồn tại
vướng mắc cần tháo gỡ.
- Chính sách tài chính, tín dụng tuy đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng vẫn còn
nhều điểm chưa phù hợp với loại hình DNNN hoạt động công ích và hoạt động kinh
doanh trong cơ chế thị trường. Nhà nước chưa đủ điều kiện và chưa đòi hỏi đúng
mức để DNNN tự chủ tự tạo trách nhiệm, năng độnh trong sản xuất kinh doanh, tích
tụ vốn đầu tư và đổi mới công nghệ; chưa xây dựng và phát triển được đồng bộ thị
trường vốn để tạo ra sự chu chuyển thông suốt vốn trong toàn xã hội, đáp ứng nhu
cầu vốn của doanh nghiệp. Chính sách thuế tuy đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng
vẫn còn nhiều bất hợp lý, chưa ổn định, chưa chú trọng đầy đủ đến việc nuôi dưỡng
nguồn thu và phát triển sản xuất kinh doanh , tạo điều kiện cho tích luỹ vốn. Chế độ
kế toán chưa tạo điều kiện và buộc DNNN hạch toán đúng kết quả kinh doanh; phân
phối thu nhập chưa tạo động lực mạnh mẽ cả đối với người quản lý và người lao
động. Chính sách tiền lương và phân phối lợi nhuận để lại doanh nghiệp chưa
gắnchặt với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhiều cơ chế, chính sách tài chính không
còn phù hợp với cơ chế thị trường nhưng chưa được sửa đổi chẳng hạn như : Quỹ
dự phòng rủi ro, Quỹ dự phòng thất nghiệp (lấy từ lợi nhuận để lại cho doanh
nghiệp), tiền thu sử dụng vốn…
- Về đầu tư , việc phân cấp giao quyền quyết định cho doanh nghiệp chưa rõ
của tổng giám đốc. Tổng giám đốc không có quyền bổ nhiệm giám đốc thành viên,
giám đốc có quyền tuyển dụng lao động không hạn chế, nhưng không có quyền sa
thải; tổng giám đốc, giám đốc, hội đồng quản trị không được chủ động bố trí bộ
máy doanh nghiệp. Việc quy định chức năng và nhiệm vụ của tổng giám đốc và của
hội đồng quản trị chưa rõ ràng; mối quan hệ của nhiều công ty với các đơn vị thành
viên vẫn là hành chính, chưa dựa trên quan hệ tài chính, trách nhiệm và quyền lợi;
quan hệ giữa các đơn vị thành viên với nhau còn mang tính ghép nối cơ học. Một
số tổng công ty vin vào độc quyền để bắt nghẹt người tiêu dùng. Nhiều tổng công ty
chưa làm tốt chức năng thị trường, phó mặc cho các đơn vị thành viên.
+ Thứ hai, quá trình cổ phần hoá hiện nay còn nhiều vướng mắc. Trước hết,
vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá, phưong pháp xác định chưa
thể hiện rõ xu thế phát triển của doanh nghiệp, còn bỏ sót yếu tố cấu thành quan
trọng là quyền sử dụng đất. Việc đánh giá còn mang tính cảm quan, thoả hiệp giữa
hội đồng doanh nghiệp và doanh nghiệp được định giá. Thủ tục còn rườm rà, phức
tạp. Khi tiến hành cổ phần hoá, vẫn chưa tách bạch được người đại diện chủ sở hữu
và người quản lý trực tiếp phần vốn tại doanh nghiệp cổ phần hoá, nên xảy ra tình
trạng doanh nghiệp vừa là người mua vừa là người bán, vừa tham gia định giá, vừa
tổ chức bán cổ phần của Nhà nước… dẫn đến tình trạng chỉ bán nội bộ, hoặc cố tình
không bán ra ngoài để giảm giá hoặc trì hoãn thực hiện cổ phần hoá. Chưa có cơ
chế xử lý những công nợ dây dưa và tài sản không cần dùng ở các doanh nghiệp cổ
phần hoá nên đã làm chậm tiến trình gây tổn thất cho Nhà nước. Một vấn đề nữa là
chính sách đối với người lao động chưa bình đẳng khi thực hiện khống chế tỷ lệ giá
trị ưu đãi trên vốn Nhà nước nên gây thiệt thòi cho người lao động có ít vốn nhà
nước . NGoài ra, việc giải quyết chính sách lao độnh mất việc, thôi việc còn mang
nặng tính bao cấp, dồn hết gánh nặng cho ngân sách nhà nước. CHủ trương là tạo
điều kiện cho người lao động làm chủ doanh nghiệp thông qua mua cổ phiếu nhưng
Để phân tích nguyên nhân hoạt động kém hiệu quả của DNNN hiện nay
chúng ta phải nhìn nhận toàn diện. Về đại thể có thể chia làm hai nhóm nguyên
nhân:
1. Nguyên nhân khách quan - Sự kìm hãm của những di sản lịch sử.
Các DNNN của nước ta hiện nay, trừ phần nhỏ được thành lập mới trong giai
đoạn cải cách, đa phần là doanh nghiệp cũ dế thừa từ thời bao cấp với các đặc trưng
như công nghệ kỹ thuật lạc hậu không có nguồn thay thế. Theo thống kê của bộ
công nghiệp thì thiết bị của DNNN hiện nay có 26% của Liên Xô (cũ), 24% của các
nước Đông Âu, 20% của các nước ASEAN và Bắc Âu, trên 18% là của các nước
khác, còn trong nước chỉ chế tạo chưa đến 12%; nguồn vốn khấu hao để tái sản xuất
giản đơn cũng chưa đủ do chế độ trích nộp khấu hao vào ngân sách Nhà nước
những năm trước; lao động vừa thiếu ( thiếu lao động lành nghề) vừa thừa ( lao
động không đáp ứng yêu cầu của công việc) song chưa có cơ chế giải quyết; cơ cấu
DNNN không hợp lý, không có khả năng tự đổi mới công nghệ cũng như ngành
nghề v.v. Gánh nặng lịch sử đó không phải chúng ta có thể khắc phục trong ngày
một ngày hai. Để thoát ra khỏi tình thế quẫn bách đó, chúng ta cũng không thể dùng
giải pháp phá đi làm lại bởi năng lực sản xuất của đất nước và đời sống của nhiều
con người trong cậy vào đây. Chúng ta chỉ có thể gỡ rối dần dần, vừa cải tổ vừa giữ
ổn định kinh tế và xã hội. Chính vì thế hiệu quả của hệ thống DNNN chưa thể cải
thiện nhanh.
2. Những nguyên nhân chủ quan bao gồm :
- Về mặt quan điểm nhận thức, chưa có sự thống nhất trong nhận thức về
những chủ trương đường lối của Đảng dẫn đến khi thực hiện hiệu quả còn thấp, đặc
không rõ ràng và cực kỳ bê bối của DNNN hiện nay thể hiện qua nợ khó đòi trở
thành phổ biến, doanh nghiệp không thể phá sản vì chủ nợ không đệ đơn v.v. là hậu
quả của chính tình trạng thể chế hoá sở hữu Nhà nước chưa tìm được hình thức hợp
lý.
- Liên quan đến những thách thức chung của nền kinh tế nước ta. Tình
trạng chung của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là kém hiêu quả và sức cạnh
tranh thấp . Tại sao? Bởi vì tiềm năng tư đổi nới công nghệ của nước ta rất thấp.
Phần GDP giành cho nghiên cứu rất ít và lại chủ yếu chi dùng cho những lĩnh vực
lý thuyết, ít tính ứng dụng. Chiến lược chuyển giao công nghệ chưa được nhận thức
đúng để vạch ra và thực hiện một cách kiên quyết. Dẫn đến chiến lược đầu tư thể
hiện khá nhiều sai lầm (như xi măng lò đứng, nhà máy sản xuất đường, sản xuất
gạch tuy nen v.v) Nền kinh tế chưa hình thành, các ngành mũi nhọn đủ sức nâng các
doanh nghiệp nói riêng, và kinh tế nói chung rời bệ phóng để cất cánh. Ngoài ra các
giám đốc DNNN.cũng như mọi người dân Việt Nam khác còn rất bỡ ngỡ với cung
cách làm ăn thị trường, cạnh tranh khốc liết do vậy nhiều khi còn bị lường gạt,
Ngoài ra tệ nạm tham ô, tham nhũng có xu hướng tăng trong nền kinh tế cũng là
những căn nguyên làm giảm thiệu quả DNNN.
- Ngoài ra còn một nhóm các nguyên nhân cũng ảnh hưởng rất lớn tới tiến
trình cải cách doanh nghiệp. Thứ nhất, chưa có người chủ thực sự tư liệu sản xuất.
Chính phủ ở xa, giám đốc trên danh nghĩa được nhà nước bổ nhiệm thay mặt Chính
phủ để điều hành quản lý sản xuất kinh doanh song chưa thực sự là ông chủ, còn
công nhân thực chất vẫn không phải là chủ. Thực chất không có ai chăm lo bảo tồn
và phát triển nguồn vốn không có ai chịu trách nhiệm khi mất mát thua lỗ. Hai là,
Nhà nước ít vốn song đầu tư còn dàn trải, chủ yếu đủ để giữ cho các doanh nghiệp
tồn tại chứ không đủ sức cạnh tranh và phát triển trong thị trường sôi động. Ba là,
tình trạng phân phối trong các doanh nghiệp không phù hợp với kết quả sản xuất