Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài. Việt Nam thực hiện đổi mới, chuyển nền kinh
tế kế hoạch sang kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Trong quá trình đổi mới,
Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu quan trọng: giữ vững đợc định hớng
XHCN, kinh tế tăng trởng liên tục với tốc độ cao, đời sống nhân dân đợc cải
thiện. Tuy nhiên, sự phân hoá giầu - nghèo có xu hớng gia tăng. Vấn đề thực
hiện công bằng trong phân phối thu nhập, gắn tăng trởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội là một vấn đề vừa cấp bách vừa thờng xuyên lâu dài và cũng
là vấn đề nhạy cảm nhất trong đời sống kinh tế - xã hội ở nớc ta. Để giải quyết
vấn đề trên Nhà nớc có vai trò quyết định. Vì thế, chúng tôi chọn vấn đề " Vai
trò của Nhà nớc đối với phân phối thu nhập trong kinh tế thị trờng định h-
ớng XHCN ở Việt Nam " làm đề tài nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu đề tài. Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu
về phân phối thu nhập, tuy nhiên, các công trình đó chủ yếu nghiên cứu một
chính sách phân phối cụ thể, đơn lẻ nh chính sách tiền lơng, chính sách thuế,
chính sách việc làm, chính sách xoá đói, giảm nghèo, các chính sách thuộc hệ
thống an sinh xã hội. Không còn nghi ngờ gì nữa, những nghiên cứu đó đã góp
phần thúc đẩy sự phát triển lý luận phân phối ở những lĩnh vực riêng biệt. Hiện
có rất ít những công trình nghiên cứu sâu có tính chất khái quát về phân phối
thu nhập. Nhà nớc có vai trò quyết định đối với phân phối và điều tiết thu nhập
đảm bảo sự thống nhất giữa công bằng và hiệu quả. Vì thế, cần có những công
trình nghiên cứu tổng quát, có tính hệ thống về vai trò của Nhà nớc đối với phân
phối thu nhập trong kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Đề tài nghiên cứu này
mong góp một phần nào đó giải quyết vấn đề trên.
Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học. Dựa trên quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối trong thời kỳ quá độ lên CNXH, quan điểm
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của Đảng ta về phân phối thu nhập và thông qua việc phân tích, đánh giá thực
trạng phân phối và điều tiết của Nhà nớc đối với phân phối thu nhập trong thời
qua đó đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nớc đối với phân phối thu nhập trong
thời gian qua.
- Nêu lên một số quan điểm có giá trị khoa học và thực tế về phân phối,
điều tiết thu nhập của Nhà nớc và các giải pháp thiết thực nhằm tăng cờng vai
trò của Nhà nớc đối với phân phối thu nhập bằng việc tiếp tục đổi mới, hoàn
thiện các chính sách phân phối thu nhập trong thời gian tới.
Các tác giả của công trình này đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu
một vấn đề phức tạp, tuy nhiên, do hạn chế về trình độ và điều kiện nghiên cứu,
nên chắc chắn cha giải quyết đợc một cách thấu đáo mọi khía cạnh của vấn đề
nêu ra. Các tác giả rất mong nhận đợc những đóng góp quý giá của các nhà
khoa học và đồng nghiệp.
Các tác giả
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng 1
Lý luận về vai trò của nhà nớc
trong phân phối thu nhập
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về phân phối
Từ trớc đến nay vấn đề phân phối giữ vai trò quan trọng trong lý luận kinh
tế. Từ các nhà kinh tế học cổ điển Anh nh A. Smith tới C. Mác đều nghiên cứu
sâu sắc vấn đề phân phối, thậm chí. D.Ricardo cho rằng nhiệm vụ chủ yếu của
kinh tế chính trị học là tìm ra quy luật chi phối sự phân phối. Tầm quan trọng
của vấn đề phân phối không chỉ ở chỗ nó nói lên quan hệ về lợi ích kinh tế
trong nền kinh tế, mà còn phản ánh những nhân tố quyết định ẩn dấu đằng sau
các quan hệ lợi ích đó, giúp ta hiểu đợc quá trình vận động kinh tế. Tiết này
nghiên cứu một số vấn đề lý luận về phân phối, đặc biệt là quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về phân phối và vai trò của nhà nớc đối với phân phối.
1.1.1. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối
Lý luận phân phối trong chủ nghĩa xã hội và trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội đợc bắt nguồn từ học thuyết kinh tế của các nhà sáng lập chủ nghĩa
a. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vị trí của phân phối
* Vị trí của phân phối trong tái sản xuất xã hội
Quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu
dùng của cải vật chất. Phân phối là một trong 4 khâu đó, nó là một mắt xích
trung gian trong quá trình tái sản xuất. Trong quá trình tái sản xuất, sản xuất
bao giờ cũng giữ vai trò quyết đinh. Quy mô, cơ cấu và trình độ phát triển của
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sản xuất quy định quy mô và cơ cấu của phân phối. Phân phối không thể vợt
quá trình độ hiện có của lực lợng sản xuất xã hội. Ngợc lại, nếu phân phối phù
hợp với sự phát triển của sản xuất, có lợi cho việc động viên tính tích cực của
ngời lao động sản xuất, thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, còn nếu không phù
hợp thì nó sẽ cản trở sự phát triển của sản xuất.
Phân phối và trao đổi có quan hệ mật thiết với nhau. Trao đổi là sự tiếp
tục của phân phối. Trong kinh tế thị trờng, phân phối đợc thực hiện dới hình
thức giá trị (tiền tệ). Ngời nhận đợc thu nhập tiền tệ đó sẽ biến thành thu nhập
thực tế bằng việc mua hàng hoá và dịch vụ trên thị trờng. Với một thu nhập
danh nghĩa nhất định sẽ chuyển thành khối lợng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ
lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào giá cả thị trờng. Đó cũng chính là quá trình phân
phối.
Phân phối còn quan hệ mật thiết với tiêu dùng. Việc tăng hoặc giảm sản
phẩm phân phối đều có tác động trực tiếp đến mức độ tiêu dùng. Ngợc lại, cơ
cấu, phơng thức và trình độ của tiêu dùng có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự tăng trởng của phân phối.
Nh vậy, phân phối là một khâu độc lập tơng đối trong quá trình tái sản
xuất, nó luôn có tác động qua lại một cách biện chứng với các khâu khác của
quá trình tái sản xuất xã hội. Trong mọi phơng thức sản xuất đều diễn ra sự
phân phối sản phẩm xã hội, nó là một phạm trù kinh tế chung cho mọi xã hội.
* Vị trí của phân phối trong quan hệ sản xuất xã hội
Phân phối là một mặt của quan hệ sản xuất và do quan hệ sở hữu về t liệu
điều kiện vật chất của sản xuất lại nằm trong tay những kẻ không lao động dới
hình thức sở hữu t bản và sở hữu ruộng đất, còn quần chúng thì chỉ là kẻ sở hữu
những điều kiện ngời của sản xuất, tức là sức lao động. Nếu yếu tố sản xuất đợc
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phân phối nh thế thì việc phân phối hiện nay về t liệu tiêu dùng tự nó cũng từ
đó nó mà ra. Nếu những điều kiện vật chất của sản xuất là sở hữu tập thể của
bản thân ngời lao động thì cũng sẽ có một sự phân phối những t liệu tiêu dùng
khác với sự phân phối hiện nay [2, Tr 37].
b. Sơ đồ phân phối tổng sản phẩm xã hội của C. Mác
Trong tác phẩm " Phê phán cơng lĩnh Gô - ta", khi phê phán quan điểm
của Lát - xan về " thu nhập không bị cắt xén của lao động", C. Mác đã nêu lên
sơ đồ phân phối tổng sản phẩm xã hội, sơ đồ phân phối ở tầm vĩ mô. Trong tổng
sản phẩm xã hội đó, phải khấu đi:
Một là: phần để thay thế những t liệu sản xuất đã tiêu dùng
Hai là: một phần phụ thêm để mở rộng sản xuất
Ba là: một quỹ dự trữ hoặc quỹ bảo hiểm để đề phòng những tai nạn,
những sự rối loạn do các hiện tợng tự nhiên gây ra vv.....
Những khoản khấu trừ nh thế vào "thu nhập không bị cắt xén của lao
động" là một tất yếu kinh tế và khấu trừ nhiều hay ít là tuỳ theo những t liệu và
những lực lợng sản xuất hiện có, một phần là nhờ lối tính xác suất. Còn lại phần
kia của tổng sản phẩm thì dành làm vật phẩm tiêu dùng.
Trớc khi phân phối cho cá nhân, lại còn phải khấu trừ:
Một là, những chi phí quản lý chung, không trực tiếp thuộc về sản xuất.
Hai là, những khoản dùng để cùng chung nhau thoả mãn những nhu cầu,
nh trờng học, cơ quan y tế vv.....
Ba là, quỹ cần thiết để nuôi dỡng những ngời không có khả năng lao
động, vv....., tóm lại là những cái thuộc về việc mà ngày nay, ngời ta gọi là cứu
tế xã hội của nhà nớc.
8
vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Về tiền công, C. Mác đã phát hiện ra nguyên tắc có tính phổ biến trong
CNTB là tiền công ở mức tối thiểu. C. Mác đã vạch ra rằng " tiền công là giá cả
của một thứ hàng hoá nhất định - của sức lao động cho nên tiền công cũng đợc
quy định bởi những quy luật quyết định giá cả của tất cả các hàng hoá khác....
bởi quan hệ của cung với cầu, của cầu với cung [1, Tr 736 - 737]. Tiền công là
một quan hệ kinh tế diễn ra tại khu vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo C. Mác, "chi phí sản xuất của sức lao động đơn giản quy lại thành chi phí
sinh hoạt của ngời công nhân và chi phí để tiếp tục duy trì nòi giống của anh ta.
Giá cả của những chi phí sinh hoạt và chi phí để tiếp tục duy trì nòi giống đó là
tiền công. Tiền công đợc quy định nh vậy là tiền công tối thiểu" [1, Tr 744]
Là những ngời sáng lập CNXH khoa học, C. Mác và Ph. Ăng ghen đã
sáng tạo ra nguyên tắc phân phối theo lao động. Hai ông đã sáng tạo và phát
triển những mầm mống t tởng về phân phối theo lao động của CNXH không t-
ởng và sáng tạo ra lý luận phân phối theo lao động của CNXH khoa học.
Trong bộ " T bản",. C. Mác đã bắt đầu khẳng định phơng thức phân phối
mới: lấy lao động làm thớc đo để phân phối, C. Mác chỉ rõ trong thể liên hiệp
của những ngời lao động tự do, " phần t liệu sinh hoạt chia cho mỗi ngời sản
xuất do thời gian lao động của ngời đó quyết định. Trong điều kiện ấy, thời gian
đóng vai trò hai mặt. Việc phân phối thời gian theo một kế hoạch xã hội sẽ quy
định tỷ lệ đúng đắn giữa các chức năng lao động khác nhau và nhu cầu khác
nhau. Mặt khác, thời gian lao động cũng đồng thời dùng để đo phần tham gia
của cá nhân ngời sản xuất vào lao động chung và do đó, cả cái phần tham dự
của anh ta vào bộ phận có thể sử dụng cho tiêu dùng cá nhân trong toàn bộ sản
phẩm " [4, Tr124 - 125].
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tác phẩm "Phê phán cơng lĩnh Gô- ta" của C. Mác đã đánh dấu sự hình
thành lý luận phân phối theo lao động. Nó là sản phẩm của cuộc luận chiến của
C. Mác với chủ nghĩa cơ hội. Trong tác phẩm này, C. Mác nêu lên quan niệm về
phẩm xã hội sau khi đã trừ đi 6 khoản (đã nêu trong sơ đồ phân phối tổng sản
phẩm xã hội), căn cứ để phân phối là thời gian lao động, phơng thức thực hiện
phân phối theo lao động là phiếu lao động. "cùng một lợng lao động mà anh ta
đã cung cấp cho xã hội dới một hình thức này thì anh ta lại nhận trở lại của xã
hội dới một hình thức khác [2, Tr 34]. Nh vậy thời gian lao động là thớc đo
khách quan của phân phối, thực hiện trao đổi lao động ngang nhau, sự khác biệt
về lao động, do đó sự khác biệt về thu nhập sẽ tồn tại. "Quyền của ngời sản xuất
tỷ lệ với lao động mà ngời ấy đã cung cấp" [2, Tr 34]. Chỉ đến giai đoạn cộng
sản chủ nghĩa mới có thể thực hiện " làm theo năng lực, hởng theo nhu cầu".
Giá trị của lý luận phân phối theo lao động của C. Mác.
Thứ nhất, trớc sau nhu một, C. Mác coi trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất và chế độ sở hữu do trình độ phát triển của lực lợng sản xuất đó quyết
định là nhân tố quyết định quan hệ phân phối. Theo C. Mác, chủ nghĩa xã hội là
nấc thang cao hơn chủ nghĩa t bản có lực lợng sản xuất phát triển, chế độ công
hữu đợc thiết lập, thì sự phân phối t liệu tiêu dùng cho cá nhân tất yếu phải đợc
phân phối theo lao động.
Thứ hai, dới độ công hữu, mọi ngời đều có quyền bình đẳng đối với t liệu
sản xuất. Quyền bình đẳng đó chỉ có thể chuyển hoá thành quyền lợi lao động
bình đẳng, lao động trở thành phơng tiện mu sinh cơ bản nhất, trở thành tiền đề
quan trọng để thu đợc lợi ích kinh tế. Nh vậy, C. Mác đã xác lập cơ sở của mối
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
liên hệ nội tại giữa lao động và thu nhập, lao động trở thành điều kiện tất yếu để
nhận đợc thu nhập.
Thứ ba, lý luận phân phối theo lao động của C. Mác thừa nhận tồn tại sự
khác biệt về thu nhập và phủ nhận phân phối bình quân. Nhng sự khác biệt này
chính là sự công bằng trong phân phối, mà không phải là chủ nghĩa bình quân.
C. Mác đã xác định nguyên tắc phân phối trong CNXH, đó là phân phối
theo lao động. Nhng phơng thức phân phối đó đợc thiết kế trên cơ sở giả định
kinh tế hàng hoá đã tiêu vong. Do đó, kinh tế sản phẩm là điều kiện kinh tế xã
thực hiện theo chế độ phân phối bình quân. Tiền lơng và tiền thởng phải liên hệ
mật thiết với nhau, đồng thời đợc quyết định ở mức độ hoàn thành kế hoạch sản
xuất. Ông phê bình nghiêm khắc việc biến thởng hiện vật thành lối bình quân
phụ thêm vào lơng và đề suất quỹ thởng cần đợc tiến hành phân phối hợp lý,
nên dùng để thởng cho những ngời làm kinh tế có biểu hiện của tinh thần dũng
cảm, chăm chỉ, có trách nhiệm, tài giỏi và hết lòng trung thành. Nh vậy, V.I
Lêin đã gắn trực tiếp thu nhập lao động với thành quả lao động và năng suất lao
động.
1.1.2. Một số lý thuyết về phân phối trong kinh tế học hiện đại
Từ giữa thế kỷ XX lại đây, ở các nớc TBCN đã xuất hiện các lý thuyết
kinh tế học của các trờng phái khác nhau. Dới đây là một số lý thuyết phân phối
của các nhà kinh tế học hiện đại.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
a) Lý thuyết của trờng phái Kinh tế thị trỡng xã hội ở Cộng hoà liên
bang Đức
Tác giả tiêu biểu của trờng phái này là A. Muller Armack. Theo ông, việc
phân phối kết quả sản xuất cho cá nhân phải tơng xứng với phần đóng góp của
mỗi ngời. Sau đó, thông qua các chính sách xã hội phù hợp mà giúp đỡ cho
những ngời có thu nhập thấp. Phân phối phải đợc thực hiện trên cơ sở công bằng
theo cả chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Công bằng theo chiều ngang
là phân phối phải đảm bảo sự công bằng cho những ngời ngang nhau về đóng
góp lao động, đóng góp vốn. Công bằng theo chiều dọc là tái phân phối từ
những ngời có thu nhập cao sang những ngời có thu nhập thấp hoặc không có
thu nhập [33, tr.408].
Theo họ, công bằng trong phân phối phải đợc thể hiện ở chỗ, một mặt
thực hiện tiền lơng tối thiểu và bảo đảm lơng phân biệt thông qua sự thoả thuận
tự do; mặt khác, thực hiện cân bằng thu nhập, xoá bỏ những khác biệt vô lý
trong thu nhập thông qua các biện pháp đánh thuế, mở rộng hình thức công
nhân có cổ phần trong doanh nghiệp, áp dụng chính sách tăng việc làm, hỗ trợ
Họ dựa vào lý thuyết sản phẩm tăng thêm trên hạn mức (sản phẩm doanh
thu cận biên) để giải thích sự biến đổi của các loại thu nhập. Theo lý thuyết này,
sản phẩm tăng thêm trên hạn mức của lao động là sản lợng có thêm khi ta bổ
sung thêm 1 đơn vị lao động và giữ nguyên các yếu tố đầu vào khác. Sản phẩm
tăng thêm trên hạn mức của đất đai là sự thay đổi tổng sản phẩm có đợc nhờ bổ
sung thêm 1 đơn vị đất đai, trong khi các nhân tố khác không đổi, vv... Qui luật
vận động của sản phẩm tăng thêm trên hạn mức là ngày càng giảm. Phân phối
thu nhập do đợc giải quyết trên cơ sở sản phẩm tăng thêm trên hạn mức, nên
cũng vận động theo qui luật thu nhập giảm dần.
Tơng tự nh vậy, nếu giữ nguyên số lao động mà chỉ biến đổi một yếu tố
đầu vào khác, chẳng hạn là đất đai, thì số sản phẩm tăng thêm trên hạn mức của
mỗi đơn vị diện tích đất kế tiếp sẽ giảm xuống, làm cho tiền thuê đất giảm
xuống... Từ quan điểm đó, các nhà kinh tế trờng phái chính hiện đại cho rằng tại
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mức xác định giao điểm của mỗi lợng cầu với mức cung của một yếu tố sản
xuất, sẽ có:
Tiền công bằng sản phẩm tăng thêm trên hạn mức của lao động.
Tiền thuê đất bằng sản phẩm tăng thêm trên hạn mức của đất đai.
Lãi suất bằng sản phẩm tăng thêm trên hạn mức của t bản
Và tiếp nh vậy cho bất kì yếu tố sản xuất nào.
+ Tiền công và tiền lơng:
Theo các nhà kinh tế trờng phái chính hiện đại, thị trờng lao động cũng
giống nh các thị trờng khác. Tiền công cân bằng có tính cạnh tranh đợc xác
định tại giao điểm của mức cung và mức cầu về lao động (điểm E trên đồ thị 1).
Nếu mức tiền công thấp hơn E thì sẽ xảy ra thiếu lao động và chủ doanh nghiệp
sẽ phải tăng tiền công tới mức E để khôi phục lại sự cân bằng.
Trên đồ thị, S
l
là cung về lao động; D
kì khác nhau, trớc hết là do hoạt động của mức cung-cầu về lao động, tiếp đến
là do sự biến đổi của các yếu tố đầu vào khác cùng hoạt động nh t bản (vốn), tài
nguyên và trình độ kĩ thuật. Mức tiền công của các lao động khác nhau do chất
lợng đầu vào lao động nh trình độ tay nghề, đào tạo, học vấn và giáo dục quy
định.
Chẳng hạn, nếu hạn chế mức cung bất cứ lao động nào so với sự gia tăng
các yếu tố sản xuất khác thì nhất định mức tiền công sẽ tăng lên. Còn với các
điều kiện khác nh nhau, việc tăng cung về lao động sẽ nảy sinh xu hớng giảm
tiền công.
Giữa nhũng ngời lao động khác nhau cũng có mức tiền công khác nhau.
Chẳng hạn, ngời làm nghề lau cửa sổ nhà cao tầng cần dợc trả tiền công cao
hơn ngời làm nghề gác cổng vì ngời ta không thích nguy hiểm khi trèo lên các
nhà trọc trời. Nghĩa là sự chênh lệch tiền công giữa các nhóm là cần thiết để lôi
kéo lao động vào các nghề "kém hấp dẫn" hoặc "không thích thú". Họ gọi đó là
"sự chênh lệch có tính chất bù trừ". Sự khác nhau về chất lợng lao động là một
yếu tố làm cho mức tiền công khác nhau giữa những lao động. Nếu một ngời
đầu t nhiều thời gian và tiền của vào việc học tập để có một nghề chuyên sâu thì
anh ta sẽ làm việc có năng suất và hiệu quả cao hơn. Do đó, sẽ thu đợc mức tiền
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
công nhiều hơn so với một ngời không có sự "hi sinh" nh vậy. Trong các nghề
khác nhau, mặc dù không có cạnh tranh, nhng do mức cung và cầu về lao động
không giống nhau, ngời lao động không thể dễ dàng chuyển từ nghề này sang
nghề khác (vì rất khó khăn, rất tốn kém về thời gian và tiền của cho việc đào
tạo), nên mức tiền công cũng rất khác nhau. Ngoài ra, một số ngời có thiên h-
ớng đặc biệt (danh thủ bóng đá, nghệ sĩ tài ba, bác học...) cũng có mức thu nhập
rất cao. Tuy nhiên, theo họ, sự chênh lệch về mức tiền công giữa những ngời và
các nhóm lao động không phải là hoàn toàn cố định. Trong quá trình vận động
của cuộc sống, con ngời có xu hớng chuyển sang các ngành nghề, công việc đ-
ợc trả tiền công cao và bỏ những nghề tiền công thấp hơn, làm cho mức tiền
ròng hay mức lợi tức của vốn thu đợc trong năm đó.
Đối với những ngời có tài sản tài chính, việc chuyển tiền cho ngời đầu t
bằng cách cho vay hoặc đi mua trái phiếu và chứng khoán, gửi tiền vào quỹ tiết
kiệm, quỹ hu trí... để cuối cùng chuyển đến những doanh nghiệp và những ngời
thực sự đầu t, sẽ thu đợc lãi suất. Lãi suất là giá của một ngân hàng, hoặc một
ngời đi vay khác phải trả cho ngời cho vay để đợc sử dụng tiền trong một thời
gian. Tiền lãi có nhiều hình thức: lãi suất dài hạn và ngắn hạn, tuỳ theo thời
gian cho vay; lãi suất cố định và lãi suất thay đổi, lãi suất trái phiếu bảo đảm
cao và lãi suất "chứng khoán mong manh" của các công ty sắp đổ vỡ...
Mức lợi tức và lãi suất cũng đợc xác lập bởi cạnh tranh và tình hình cung-
cầu về vốn và tài sản tài chính trên thị trờng.
+ Lợi nhuận:
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Theo các nhà kinh tế trờng phái chính hiện đại, lợi nhuận là sự chênh
lệch giữa tổng thu nhập của một doanh nghiệp (hay là của một nền kinh tế) với
tổng số chi phí (tiền công, tiền lơng, tiền thuê đất, nhà cửa, nguyên vật liệu, lãi
suất, thuế hàng hoá và các thứ khác).
Có nhiều nhân tố quyết định lợi nhuận: 1)Thu nhập của chủ doanh nghiệp
về lao động của chính họ hoặc vốn đầu t của chính họ, tức là cácyếu tố sản xuất
mà họ tự cung cấp; 2) Lợi nhuận là khoản tiền thởng cho chủ doanh nghiệp do việc
chịu mạo hiểm, rủi ro trớc nhiều nguy cơ kinh doanh hoặc do sáng tạo, đổi mới sản
phẩm; 3) Độc quyền: thông qua hạn chế mức cung và quy định giá cả, ngời độc
quyền có đợc một khoản tiền lời gọi là thu nhập độc quyền. Đó là thu nhập dôi ra
của một ngời có sức mạnh trên thị trờng.
Nh vậy, tiền công, tiền lơng, tiền thuê đất, tiền lãi và lợi nhuận là các
khoản thu nhập của các giai cấp, các tầng lớp trong nền sản xuất t bản chủ
nghĩa. Các thu nhập này đều có nguồn gốc từ thu nhập quốc dân. Cơ chế
(nguyên tắc) phân phối thu nhập đợc thực hiện thông qua thị trờng dới tác động
của các quy luật cạnh tranh, cung- cầu...
lớn hơn ngời nghèo. Loại thuế này có tính chất phân phối lại thu nhập, chuyển
khả năng tiêu dùng của ngời giàu sang ngời nghèo.
Hệ thống hỗ trợ thu nhập bao gồm giúp đỡ phúc lợi, trợ cấp y tế, bảo
hiểm xã hội, giúp đỡ năng lợng, tem phiếu lơng thực, thuế thu nhập âm (thực
chất là một giải pháp hỗ trợ thu nhập cho ngời nghèo bằng tiền mặt). Hệ thống
này nhằm giúp ngời già, ngời tàn tật, ngời phải nuôi con, bảo hiểm thất nghiệp
cho những ngời không có việc làm. Mục tiêu của hệ thống hỗ trợ thu nhập này
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tạo ra một mạng lới an toàn bảo vệ những ngời không may khỏi bị huỷ hoại về
kinh tế.
Song, các nhà kinh tế trờng phái chính hiện đại cho rằng việc phân phối
lại có thể làm giảm khoảng cách bất bình đẳng trong xã hội, nhng cũng phải trả
giá cho tình trạng không hiệu quả. Nếu chính phủ áp dụng mức thuế luỹ tiến
cao thì cố gắng của ngời đóng thuế giảm xuống, làm giảm tổng thu nhập quốc
dân thực tế. Từ đó, họ nêu quan điểm về mối quan hệ giữa công bằng và hiệu
quả. Nếu giảm bớt tình trạng bất bình đẳng là một điều tốt về đạo lí thì nó cũng
đợc ngời ta trả một giá nào đó làm tổn hại một mục tiêu kinh tế khác là hiệu
quả.
Sự phân phối lại " tối u theo Pareto" và nguyên lý " Hàm phúc lợi xã
hội" của Bergson và Samuelson
Theo nguyên lý phân phối tối u Pareto, nếu sự thay đổi của một chính
sách phân phối nào đó dẫn đến hoàn cảnh sống của một số ngời trở nên tốt hơn,
đồng thời không làm cho hoàn cảnh sống của một số ngời khác trở nên xấu đi,
thì sự thay đổi này gọi là phân phối "tối u Pareto". Kết luận cuối cùng mà
Pareto muốn rút ra là muốn làm tăng thu nhập của tầng lớp nghèo khổ, thì biện
pháp duy nhất là nâng cao thu nhập quốc dân, việc phân phối lại là vô ích. Theo
nhiều nhà kinh tế, quan điểm đó quá chặt chẽ đối với vấn đề công bằng về phân
phối, vả lại, miễn là có thể làm tăng thu nhập quốc dân mà không làm giảm bớt
phần của ngời nghèo trong thu nhập quốc dân cũng đợc coi là "tối u Pareto".
vào,...Chúng có những tổ hợp khác nhau, nhng khi giá trị của W đạt tối đa thì
phúc lợi xã hội sẽ tối đa. Sự tự do lựa chọn của cá nhân là điều kiện quan trọng
trong quyết định tối đa hoá phúc lợi của cá nhân. Vì thế để làm cho phúc lợi xã
hội đạt tối đa, thì chính phủ phải đảm bảo cho sự tự do lựa chọn của cá nhân
mà không nên hạn chế nó.
Nh vậy, kinh tế học trờng phái chính hiện đại đã nêu quan niệm phân
phối thu nhập trong nền kinh tế thị trờng, đã thấy mục đích của sản suất là để
tiêu dùng, phân phối thu nhập là cách thức để phân bổ kết quả sản xuất cho tiêu
dùng của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội. Họ đã chỉ ra nguồn để phân phối là
sản lợng do nền kinh tế sáng tạo ra, đợc tiền tệ hoá thành thu nhập quốc dân và
phụ thuộc vào thực tế sản xuất của mỗi nớc ở mỗi thời điểm. Thị trờng là cơ chế
phân bổ công bằng và có hiệu quả nhất thu nhập quốc dân. Nguyên tắc của
phân phối thu nhập là dựa trên sự đóng góp của các yếu tố đầu vào của sản xuất
và năng lực kinh doanh của chủ doanh nghiệp thông qua cơ chế thị trờng. Họ đã
gợi ý một nguyên tắc phân phối thu nhập có hiệu quả phải dựa trên cơ chế tự
điều tiết của thị trờng. Đồng thời chỉ ra tính cấp thiết phải có sự can thiệp của
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhà nớc vào phân phối để giảm bớt tình trạng bất bình đẳng về thu nhập trong
xã hội, trợ giúp ngời nghèo. Lí luận phân phối của trờng phái chính hiện đại đã
là một bớc tiến so với lý luận phân phối của các nhà kinh tế thuộc trờng phái tr-
ớc đó. Họ đã đặt quan hệ phân phối công bằng với hiệu quả, đã chú ý đến tính
hợp lí của thu nhập xã hội trên nguyên tắc kiên trì u tiên có hiệu quả.
Có thể nói từ lý thuyết kinh tế học phúc lợi của Pigou đến sự phân phối
tối u Pareto và nguyên lý " Hàm số phúc lợi xã hội " của Bergson và
Samunelson là một bớc tiến dài hớng đến "tính hợp lý" của công bằng và hiệu
quả trong phân phối thu nhập của xã hội TBCN. Tuy vậy, cho đến nay giữa hai
mục tiêu công bằng và hiệu quả trong phân phối thu nhập của xã hội TBCN vẫn
tồn tại những mâu thuẫn vốn có, cho dù các nhà kinh tế học đã tìm cách làm thế
nào để đạt đợc một sự phân phối tối u trên lý luận.