LUẬN VĂN:
Kinh tế Nhà nước trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam Đặt vấn đề.
nghiên cứu với hy vọng tìm hiểu sâu hơn về KTNN và đưa ra các kiến giải của nhiều
nhà kinh tế giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quát về vấn đề này, đồng thời trong khả
năng có thể đưa một vài tham luận của cá nhân đóng góp vào các giải pháp phát triển
KTNN hiện nay.
Đề án tập trung giải quyết những vấn đề sau :
- Làm rõ khái niệm KTNN, cơ sở lý luận, sự cần thiết của vai trò chủ đạo của
KTNN.
- Mô tả thực trạng của KTNN, thực trạng sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà
nước, những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân.
- Đưa ra và phân tích các giải pháp, đóng góp ý kiến nhằm phát triển KTNN.
Về mặt phạm vi nghiên cứu của Đề án, do KTNN là khái niệm rất rộng, khả
năng của người viết còn nhiều hạn chế, Đề án chỉ tập trung nghiên cứu các doanh
nghiệp Nhà nước (DNNN) là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của KTNN và có ảnh
hưởng quyết định tới vai trò chủ đạo của KTNN.
Phần thứ nhất: Kinh tế nhà nước và vai trò của nó trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
I. Khái quát lí luận về thời kì quá độ, Sự tồn tại khách quan nền kinh tế
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Điều này phản ánh đúng yêu cầu của quy luật quan
hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Trên thực tế,
cách mạng vô sản đã thành công ở những nước tư bản trung bình và những nước kém
phát triển (trong đó có Việt Nam). Để xây dựng xã hội XHCN với trình độ phát triển
cao của lực lượng sản xuất, phải có thời gian tăng năng suất lao động, xây dựng chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất, xây dựng kiểu xã hội mới. Việc áp dụng những quan hệ
sản xuất XHCN, khi sự phát triển của lực lượng sản xuất chưa theo kịp, nóng vội cải
tạo các quan hệ sở hữu như trước đây ở các nước XHCN là phi lịch sử. Chỉ có phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần mới tạo động lực phát huy mọi nguồn lực,
mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế để phát triển, từ đó mà xây dựng cơ sở vật
chất cho CNXH.
- Sự lãnh đạo của Nhà nước chuyên chính vô sản sẽ đảm bảo dẫn dắt xã hội
phát triển tiến lên CNXH. Trong hệ thống chuyên chính vô sản bộ phận quan trọng
nhất là Nhà nước. Giai cấp vô sản phải nắm lấy chính quyền, từng bước cải tạo xã hội,
chống các thế lực thù địch dù đã mất đi vị thế chính trị song vẫn còn rất mạnh, từng
bước xây dựng xã hội mới. Xét theo khía cạnh kinh tế, tầm quan trọng của Nhà nước
trong hệ thống chuyên chính vô sản biểu hiện ở vai trò và chức năng kinh tế của Nhà
nước. Trong xã hội tư bản, vai trò của Nhà nước không chỉ dừng lại ở thuế khoá
(nhằm nuôi sống bộ máy cai trị ), với sự xuất hiện sở hữu Nhà nước đã làm cho nhà
nước bắt đầu can thiệp vào quá trình sản xuất. Một mình thị trường không làm nổi
chức năng điều tiết nền kinh tế, cần phải có bàn tay của Nhà nước đảm bảo cho nền
kinh tế phát triển vững chắc (Lí thuyết “hai bàn tay”của P.Samuelson ). Vai trò và
chức năng kinh tế của Nhà nước xã hội XHCN được Lê-nin phát triển và áp dụng
trong công cuộc xây dựng nhà nước Xô-viết. Lê-nin cho rằng Nhà nước có chức năng
tổ chức quản lí nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt trong hệ thống chuyên chính vô sản
hiện nay Nhà nước có vai trò bà đỡ-vai trò tạo điều kiện cho sự hình thành và phát
triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
KTNN là một thuật ngữ bao hàm một nội dung khá rộng, được xác định theo ý
nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ nghiên cứu. ở Việt Nam, thuật ngữ KTNN được sử
dụng rộng rãi từ sau Đại hội VIII thay cho thuật ngữ kinh tế quốc doanh. Theo cách
hiểu chung nhất hiện nay, KTNN là thuật ngữ chỉ phần tài sản thuộc sỏ hữu Nhà nước.
Phần tài sản đó bao gồm :
1. Tài nguyên khoáng sản, đất đai, .v.v. là tài sản quốc gia do Nhà nước làm chủ
sở hữu.
2. Hệ thống các quỹ bảo hiểm do Nhà nước đảm nhiệm và các quỹ dự trữ quốc
gia.
3. Ngân hàng Nhà nước, kho bạc nhà nước, tài chính nhà nước.
4. Các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước ở tất cả các ngành, các lĩnh vực.
5. Phần vốn Nhà nước đầu tư vào các thành phần kinh tế khác dưới dạng công
ty cổ phần.
Xét về vị trí, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, KTNN giữ vai trò
chủ đạo.
Về hình thức thể hiện KTNN bao gồm hai hệ thống: hệ thống doanh nghiệp và
hệ thống phi doanh nghiệp. Hệ thống doanh nghiệp bao gồm các doanh nghiệp thực
hiện các hoạt động kinh doanh và các doanh nghiệp công ích. Hệ thống phi doanh
nghiệp bao gồm ngân sách Nhà nước, các quỹ quốc gia, tài nguyên thuộc sở hữu nhà
nước, v.v…
- Thứ tư, KTNN có thể tác động các thành phần kinh tế khác không chỉ bằng
các công cụ và đòn bẩy kinh tế mà còn bằng con đường gián tiếp, thông qua các thể
chế và hoạt động của kiến trúc thượng tầng XHCN.
- Thứ năm, KTNN dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại,
tiên tiến; do đó nó có nhịp độ phát triển nhanh đóng góp phần lớn cho ngân sách Nhà
nước và tích tụ để có thể không ngừng tái sản xuất mở rộng.
- Thứ sáu, KTNN là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh tế, đô thị
mới; là lực lượng có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí quan trọng sống còn
nhưng lại ít ai giám đầu tư vì nó đòi hỏi vốn quá nhiều mà thời gian thu hồi vốn chậm.
Nghị quyết đại hội IX của Đảng ta đã chỉ rõ: KTNN phát huy vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định
hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. DNNN giữ những vị trí then chốt; đi đầu tiến bộ
khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội
và chấp hành pháp luật.
Phần thứ hai: Thực trạng phát triển
và đổi mới KTNN
I. Tổng quan sự phát triển của KTNN trong 15 năm đổi mới, phát triển.
nghiệp và hàng năm đóng góp từ 40-46% trong tỉ trọng GDP của cả nước. Các DNNN
là lực lượng chủ yếu nắm hầu hết các nguồn lực cơ bản trong xã hội: 86,6% tổng vốn,
85% tài sản cố định, 100% mỏ, 80% rừng, 90% lao động được đào tạo có hệ thống và
được nhận hầu hết các ưu đãi của Nhà nước so với các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác. Nhìn chung lực lượng DNNN đang chiếm giữ một vị trí then chốt
trong các ngành kinh tế quan trọng của đất nước.
Thời gian qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1991 đến nay
Chính phủ đã đẩy mạnh công cuộc đổi mới và sắp xếp lại các DNNN. Đây là một chủ
trương lớn, còn nhiều vấn đề phải bàn đến, người viết xin đề cập chi tiết trong những
phần sau.
Nhìn chung, hiện nay các DNNN vẫn làm ăn thua lỗ, hiệu quả kinh tế đạt thấp,
tồn tại nhiều bất cập, mức tiết kiệm của DNNN còn hạn chế. Theo báo cáo của tổng
cục quản lí vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp năm 1998 chỉ có 37% số DNNN
làm ăn có hiệu quả, số còn lại thua lỗ nặng. Theo báo cáo của Bộ trưởng Tài chính tại
Quốc hội thì cuối năm 1999 chỉ có 20% số DNNN kinh doanh có hiệu quả. Tỉ suất lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu của DNNN giảm dần năm 1996: 11,2%, 1997: 9,7%, 1998:
9,1%, 1999: 9,2%. Con số trên chứng tỏ khả năng sinh lợi của các DNNN thấp và có
xu hướng ngày càng giảm. ở các DNNN tình trạng phổ biến là ứ đọng hàng hoá, khả
năng mở rộng sản xuất và đổi mới công nghệ để sản xuất ra các mặt hàng có giá trị cao
hơn, có khả năng xuất khẩu hơn rất ít. Sản phẩm giá thành còn cao, giá xuất xưởng của
nhiều loại sản phẩm chủ yếu của ta cao hơn hẳn giá sản phẩm nhập khẩu.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các DNNN sau một thời gian liên tục đạt 13% đến năm 1999đã giảm xuống còn
khoảng 8-9%. Hiệu quả sử dụng vốn giảm, năm 1995: 1 đồng vốn tạo ra được 3,16
đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận, đến năm 1998 chỉ tạo ra được 2,9 đồng doanh
thu và 0,14 đồng lợi nhuận. Nợ nần trong các doanh nghiệp còn rất cao, năm 1996
tổng số nợ của các DNNN là 174.797 tỉ đồng, năm 1999 đã lên tới 199.060 tỷ đồng,
Ngay từ đại hội VI, Đảng ta đã đề xuất chủ trương thực hiện đổi mới sắp xếp
lại DNNN như là một bộ phận quan trọng trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước,
đáp ứng yêu cầu thực hiện vai trò chủ đạo của KTNN. Từ đó đến nay qua các thời kì
chủ trương này lại được bổ xung và phát triển.
2.1. Sự cần thiết phải đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước.
Cải cách DNNN là quá trình tất yếu, khách quan. Nó xuất phát từ những yêu
cầu cấp thiết đặt ra ở trong nước cũng như trên thế giới.
Hiện nay, trong bối cảnh thế giới, xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh
mẽ. Đây là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Đây là
một cơ hội giúp chúng ta phát triển, đồng thời nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, mặt tiêu
cực như sự phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trường sinh thái. Điều này đặt ra cho
chúng ta những yêu cầu và thách thức phải đổi mới để hội nhập. Muốn vậy phải cải
cách nền kinh tế, tăng cường nội lực, để phát triển đón nhận những thời cơ mà thời đại
đem lại. Mà một trong những việc phải làm đầu tiên là cải cách hệ thống DNNN làm
cho nó thích nghi một cách toàn vện với cơ chế mới, tạo đòn bẩy cho sự tăng trưởng.
Điều này khẳng định tính tiên phong của thành phần kinh tế XHCN.
Thời đại ngày nay ghi nhận những phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật và
công nghệ mà những ứng dụng của chúng đem lại những biến đổi lớn lao trong đời
sống xã hội. Thế giới đang chuyển sang nền kinh tế trí thức. Việt Nam cũng chuyển
mình đón nhận những thành tựu do khoa học kĩ thuật đem lại. Hệ thống các DNNN
phải đi đầu cải tiến, đổi mới sản xuất, áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại, là tấm
gương tiêu biểu trong sự nghiệp phát triển kinh tế.
2.2. Phương hướng chung, đường lối chỉ đạo, mục tiêu nguyên tắc
Trên tinh thần Đại hội IX, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp và ra nghị
quyết TW3 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quảDNNN. Nghị
quyết nêu rõ :
* Quan điểm chỉ đạo.
- KTNN có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa,
ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. DNNN (gồm DNNN giữ
100% vốn và DNNN giữ cổ phần chi phối) phải không ngừng được đổi mới, phát triển
và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan
trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lượng nòng cốt, góp phần chủ
yếu để KTNN thực hiên vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, là chủ lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc xem xét, đánh giá
hiệu quả của DNNN phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chinh trị, xã hội; trong
đó, lấy lãi suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá
hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm
kết quả chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích.
- Kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để DNNN có cơ cấu hợp lý, tập trung vào những
nghành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đói với các
sản phẩm và dịch vụ chủ yếu; không nhất thiết phải giữ tỉ trong lớn trong tất cả các
ngành, lĩnh vực, sản phẩm của nền kinh tế. Đại bộ phận DNNN, cho phá sản DNNN
yếu kém, thua lỗ kéo dài mà Nhà nước không cần nắm giữ. Qua 3 đợt, DNNN đã giảm
từ 12 300 doanh nghiệp còn 5 571 ( giảm 55% về số lượng, chủ yếu là doanh nghiệp
nhỏ và do địa phương quản lý ). Cơ cấu DNNN bắt đầu được điều chỉnh hợp lý, có tác
hoá và chuyển đổi sở hữu (trong đó có 698 doanh nghiệp được cổ phần hoá, 41 doanh
nghiệp được giao và 32 doanh nghiệp được bán), bằng 13% số doanh nghiệp hiện có,
với số vốn gần 3.000tỷ đồng, bằng hơn 2% tổng vốn nhà nước trong DNNN. Sau khi
cổ phần hoá và chuyển đổi sở hữu, các doanh nghiệp đã huy động được thêm hơn
2.000 tỷ đồng của các cá nhân pháp nhân, đồng thời thông qua bán cổ phiếu, Nhà nước
đã thu thêm hơn 1150 tỷ đồng để đầu tư và giải quyết chính sách cho người lao động.
Bên cạnh đó, phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi không mất
đi mà lại tăng thêm từ 10 – 15% so với giá trị trên sổ sách. Cùng với quá trình cổ phần
hoá, Đảng, Chính phủ chủ trương để một số DNNN đầu tư một phần vốn thành lập
công ty cổ phần mới. Đến ngày 18-5-2000, DNNN đã đầu tư vốn thành lập 279 công
ty cổ phần mới với tổng số vốn Nhà nước là 868,8 tỷ đồng, chiếm 46% vốn điều lệ.
Kết quả sản xuất kinh doanh cho thấy : 267 công ty (96,4%) có lãi, 12 công ty còn lại
(3,6%) hoà vốn.
Năm là, thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê những DNNN có
quy mô nhỏ, thua lỗ kéo dài để sử dụng có hiệu quả tài sản Nhà nước, bảo đảm việc
làm và thu nhập của người lao động. Theo báo cáo chưa đầy đủ, đến ngày 31/1/2001,
số DNNN thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê theo Nghị định
103/1999/NĐ-CP là 105 doanh nghiệp. Hình thức doanh nghiệp sau khi chuyển đổi
chủ yếu là công ty cổ phần, cổ đông chủ yếu là số lao động làm việc tại doanh nghiệp,
ngoài ra cũng có một số trường hợp bán cho người ngoài doanh nghiệp. Phần lớn các
địa phương và doanh nghiệp lựa chọn hình thức giao và bán (chuyển đổi sở hữu),
chiếm tương ứng 37% và 47,5%; thực hiện thuê và khoán kinh doanh (chuyển đổi
phương tức quản lý) chỉ chiếm tương ứng 2% và 15,2%. Đánh giá một cách tổng quát,
sau khi chuyển đổi, nhiều doanh nghiệp đã ổn định tổ chức, vốn kinh doanh có xu thế
tăng, doanh thu và lợi nhuận tăng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, đảm bảo
quyền lợi cho người lao động. Cụ thể, so với trước khi chuyển đổi, vốn kinh doanh II. Vấn đề đặt ra.
Như vậy, qua các phần phân tích ở trên, chúng ta đã hiểu phần nào về thực
trạng của các DNNN, bên cạnh đó còn rất nhiều tồn tại và vướng mắc cần giải quyết.
Trong phạm vi bài viết chỉ xin đưa ra những vấn đề cơ bản nhất:
Thứ nhất, về mặt nhận thức quan điểm, chưa có sự thống nhất cao trong nhận
thức về vai trò, vị trí của KTNN và DNNN, về yêu cầu và giải pháp sắp xếp, đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; nhiều vấn đề chưa rõ, còn nhiều ý kiến khác
nhau nhưng chưa được tổng kết thực tiễn để kết luận. Từ đó dẫn đến cơ chế chính sách
còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ.
Thứ hai, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của các DNNN còn
thấp, chưa tương xứng với điều kiện và lợi thế có được; tốc độ tăng trưởng của DNNN
có biểu hiện giảm dần; nợ khó đòi ngày càng lớn; tính năng động của một bộ phận
không nhỏ DNNN còn hạn chế. Theo đánh giá chung, năm 1998 số DNNN thực sự
kinh doanh có hiệu quả chỉ chiếm khoảng 40%, số doanh nghiệp kinh doanh không có
hiệu quả liên tục bị thua lỗ chiếm 20%, còn lại 40% doanh nghiệp kinh doanh chưa
hiệu quả khi lỗ khi lãi. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn nhà nước của DNNN
không cao và có xu hướng giảm dần (Năm 1996 là 11,2 %, năm 1997 là 9,3%, năm
1998 là 9,1%, năm 1999 là 9,2%). Không ít doanh nghiệp xây dựng dư án, kế hoạch
không phù hợp với định hướng phát triển chung của ngành, thiếu tính khả thi; việc bảo
toàn vốn của không ít doanh nghiệp chưa tốt, còn có tình trạng ăn vào vốn, mất vốn.
Thứ ba, đầu tư đổi mới công nghệ chậm, trình độ công nghệ lạc hậu đang là cản
trở lớn đối với khả năng cạnh tranh và quá trình hội nhập. Theo số liệu của Bộ Khoa
Thứ bảy, cơ chế chính sách quản lý kinh tế, quản lý DNNN còn nhiều tồn tại
vướng mắc cần tháo gỡ.
- Chính sách tài chính, tín dụng tuy đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng vẫn còn
nhều điểm chưa phù hợp với loại hình DNNN hoạt động công ích và hoạt động kinh
doanh trong cơ chế thị trường. Nhà nước chưa đủ điều kiện và chưa đòi hỏi đúng mức
để DNNN tự chủ tự tạo trách nhiệm, năng độnh trong sản xuất kinh doanh, tích tụ vốn
đầu tư và đổi mới công nghệ; chưa xây dựng và phát triển được đồng bộ thị trường
vốn để tạo ra sự chu chuyển thông suốt vốn trong toàn xã hội, đáp ứng nhu cầu vốn
của doanh nghiệp. Chính sách thuế tuy đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng vẫn còn nhiều
bất hợp lý, chưa ổn định, chưa chú trọng đầy đủ đến việc nuôi dưỡng nguồn thu và
phát triển sản xuất kinh doanh , tạo điều kiện cho tích luỹ vốn. Chế độ kế toán chưa
tạo điều kiện và buộc DNNN hạch toán đúng kết quả kinh doanh; phân phối thu nhập
chưa tạo động lực mạnh mẽ cả đối với người quản lý và người lao động. Chính sách
tiền lương và phân phối lợi nhuận để lại doanh nghiệp chưa gắnchặt với hiệu quả sản
xuất kinh doanh. Nhiều cơ chế, chính sách tài chính không còn phù hợp với cơ chế thị
trường nhưng chưa được sửa đổi chẳng hạn như : Quỹ dự phòng rủi ro, Quỹ dự phòng
thất nghiệp (lấy từ lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp), tiền thu sử dụng vốn…
- Về đầu tư , việc phân cấp giao quyền quyết định cho doanh nghiệp chưa rõ
ràng và không đầy đủ, không chịu trách nhiệm khi phương án đầu tư không hiệu quả
và chưa có cơ chế kiểm soát đầu tư.
- Về quản lý Nhà nước, chưa phân định rõ các loại quyền như :quyền quản lý
của Nhà nước đối với DNNN; quyền của cơ quan Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu ;
quyền của đại diện chủ sở hữu trực tiếp với doanh nghiệp ; quyền sử dụng vốn và
quyền chủ động kinh doanh của doanh nghiệp ; còn quá nhiều văn bản pháp qui chồng
độc quyền để bắt nghẹt người tiêu dùng. Nhiều tổng công ty chưa làm tốt chức năng
thị trường, phó mặc cho các đơn vị thành viên.
+ Thứ hai, quá trình cổ phần hoá hiện nay còn nhiều vướng mắc. Trước hết, vấn
đề xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá, phưong pháp xác định chưa thể hiện
rõ xu thế phát triển của doanh nghiệp, còn bỏ sót yếu tố cấu thành quan trọng là quyền
sử dụng đất. Việc đánh giá còn mang tính cảm quan, thoả hiệp giữa hội đồng doanh
nghiệp và doanh nghiệp được định giá. Thủ tục còn rườm rà, phức tạp. Khi tiến hành
cổ phần hoá, vẫn chưa tách bạch được người đại diện chủ sở hữu và người quản lý trực
tiếp phần vốn tại doanh nghiệp cổ phần hoá, nên xảy ra tình trạng doanh nghiệp vừa là
người mua vừa là người bán, vừa tham gia định giá, vừa tổ chức bán cổ phần của Nhà
nước… dẫn đến tình trạng chỉ bán nội bộ, hoặc cố tình không bán ra ngoài để giảm giá
hoặc trì hoãn thực hiện cổ phần hoá. Chưa có cơ chế xử lý những công nợ dây dưa và
tài sản không cần dùng ở các doanh nghiệp cổ phần hoá nên đã làm chậm tiến trình
gây tổn thất cho Nhà nước. Một vấn đề nữa là chính sách đối với người lao động chưa
bình đẳng khi thực hiện khống chế tỷ lệ giá trị ưu đãi trên vốn Nhà nước nên gây thiệt
thòi cho người lao động có ít vốn nhà nước . NGoài ra, việc giải quyết chính sách lao
độnh mất việc, thôi việc còn mang nặng tính bao cấp, dồn hết gánh nặng cho ngân
sách nhà nước. CHủ trương là tạo điều kiện cho người lao động làm chủ doanh nghiệp
thông qua mua cổ phiếu nhưng đa số hội đồng quản trị không có thành viên nào là đại
diện của người lao động.
+ Thứ ba là vấn đề xử lý nợ và tài sản tồn đọng của DNNN. Theo kết quả kiểm
kê đến ngày 1/1/2000, tổng số nợ tồn đọng ở các DNNN lên tới 31.935 tỷ đồng. Trong
đó, nợ phải thu quá hạn là 21.218 tỷ đồng và nợ quá hạn là 10.717 tỷ đồng. Với tình
trạng trên, nhiều doanh nghiệp nhà nước đã rơi vào tình trạng “lãi không đủ trả nợ”.
Đó là chưa kể đến tổng giá trị tài sản không cần dùng, chờ thanh lý ở các DNNN hiện
Đông Âu, 20% của các nước ASEAN và Bắc Âu, trên 18% là của các nước khác, còn
trong nước chỉ chế tạo chưa đến 12%; nguồn vốn khấu hao để tái sản xuất giản đơn
cũng chưa đủ do chế độ trích nộp khấu hao vào ngân sách Nhà nước những năm trước;
lao động vừa thiếu ( thiếu lao động lành nghề) vừa thừa ( lao động không đáp ứng yêu
cầu của công việc) song chưa có cơ chế giải quyết; cơ cấu DNNN không hợp lý,
không có khả năng tự đổi mới công nghệ cũng như ngành nghề v.v. Gánh nặng lịch sử
đó không phải chúng ta có thể khắc phục trong ngày một ngày hai. Để thoát ra khỏi
tình thế quẫn bách đó, chúng ta cũng không thể dùng giải pháp phá đi làm lại bởi năng
lực sản xuất của đất nước và đời sống của nhiều con người trong cậy vào đây. Chúng
ta chỉ có thể gỡ rối dần dần, vừa cải tổ vừa giữ ổn định kinh tế và xã hội. Chính vì thế
hiệu quả của hệ thống DNNN chưa thể cải thiện nhanh.
2. Những nguyên nhân chủ quan bao gồm :
- Về mặt quan điểm nhận thức, chưa có sự thống nhất trong nhận thức về những
chủ trương đường lối của Đảng dẫn đến khi thực hiện hiệu quả còn thấp, đặc biệt là
tình trạng trên thông nhưng dưới không thông. Nhiều vấn đề chưa rõ, còn nhiều ý kiến
khác nhau đang gây tranh cãi.
- Liên quan đến mức độ chưa hoàn thiện của cơ chế quản lý DNNN. Những cải
tổ cơ chế quản lý DNNN từ năm 1981 đến nay có thể coi là một bước cách mạng trong
mô hình tổ chức kinh tế-xã hội của nền kinh tế. Chúng ta đã cơ bản chuyển được các
DNNN từ chỗ là một phân xưởng trong xí nghiệp kinh tế quốc dân sang vai trò một
pháp nhân có quyền tổ chức sản xuất và kinh doanh hàng hoá độc lập. Tuy nhiên cơ
chế quản lý mới còn vướng ở mốt số điểm như cơ chế thực thi sở hữu Nhà nước vẫn tỏ
ra chưa hiệu quả do vẫn tồn tại các mảnh của chế độ chủ quản hành chính trước kia(
như duyệt dự án đầu tư mới , bổ nhiệm cán bộ chủ chốt, kiểm tra theo chức năng của
cơ quan chủ quản v.v.) đồng thời lại buộc phải thừa nhần quyền tư chủ khá rộng rãi
của doanh ghiệp, do đó dẫn đến doanh nghiệp vừa làm vừa lo, còn cơ quan quản lý
Nhà nước vẫn thích can thiệp trực tiếp quá nhiều vào công việc của doang nghiệp mà
mọi người dân Việt Nam khác còn rất bỡ ngỡ với cung cách làm ăn thị trường, cạnh
tranh khốc liết do vậy nhiều khi còn bị lường gạt, Ngoài ra tệ nạm tham ô, tham nhũng
có xu hướng tăng trong nền kinh tế cũng là những căn nguyên làm giảm thiệu quả
DNNN.
- Ngoài ra còn một nhóm các nguyên nhân cũng ảnh hưởng rất lớn tới tiến trình
cải cách doanh nghiệp. Thứ nhất, chưa có người chủ thực sự tư liệu sản xuất. Chính
phủ ở xa, giám đốc trên danh nghĩa được nhà nước bổ nhiệm thay mặt Chính phủ để
điều hành quản lý sản xuất kinh doanh song chưa thực sự là ông chủ, còn công nhân
thực chất vẫn không phải là chủ. Thực chất không có ai chăm lo bảo tồn và phát triển
nguồn vốn không có ai chịu trách nhiệm khi mất mát thua lỗ. Hai là, Nhà nước ít vốn
song đầu tư còn dàn trải, chủ yếu đủ để giữ cho các doanh nghiệp tồn tại chứ không đủ
sức cạnh tranh và phát triển trong thị trường sôi động. Ba là, tình trạng phân phối trong
các doanh nghiệp không phù hợp với kết quả sản xuất kinh doanh, không khuyến
khích được sản xuất, chưa khơi dậy được lòng tin trong quần chúng , để họ tự giác gắn
bó và cùng chịu trách nhiệm. Bốn là, cán bộ quản lý chưa thực sự có đủ tiêu chuẩn trí
tuệ tâm huyết với nhà nước chưa thực sự dũng cảm tự chịu trách nhiệm.
Tóm lại, chúng ta cần nhìn nhận thực trạng yếu kém hiện nay của DNNN một
cách thẳng thắn, khách quan, toàn diện có như vậy những giải pháp chúng ta đặt ra
mới thiết thực và có khả năng đi vào cuộc sống. Nên tránh cách nhìn quá bi quan quy
mọi sai lầm yếu kém về cho doanh nghiệp. Cũng không buông trôi coi hiệu quả thấp
như căn bệnh cố hữu của DNNN để từ đó không tích cực tìm giải pháp khắc phục. Đây
là yêu cầu việc phát huy vai trò chủ đạo của KTNN cũng như của công cuộc đổi mới
hiện nay.