Tiểu luận :"Sự hình thành và phát
triển nền Kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam"
A: LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời kì đầu của xã hội loài người từ khi lực lượng sản xuất phát
triển và có nhiều thành tựu mới, con người dần thoát khỏi nền khinh tế tự nhiên
và chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Nền kinh tế hàng hoá phát triển
càng mạnh mẽ và đến đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị
trường có những ưu việt của nó , đó là sự thoả mãn tối
đa nhu cầu của con người
vói một khối lượng hàng hoá khổng lồ. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ những hạn chế
, nhất là trong chế độ xã hội TBCN , một chế độ xã hội ở đó chỉ có lợi nhuận
được chú trọng hàng đầu dẫn đến sự phân hoá xã hội sâu sắc và quyền bình đẳng
trong xã hội bị xem nhẹ.
hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra là để
bán trên thị trường.Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản
xuất_phân phối_trao đổi_tiêu dùng , sản xuất như thế nàovà cho ai đều thông
việc mua bán,thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định.
Cơ sở
kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá và
phân công lao động xã hội và về kinh tế giữa người sản xuất này với người sản
xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.Khi sản
phẩm lao động trở thành hàng hoá thì người sản xuất trở thành người sản xuất
hàng hoá,lao động của người sản xuất hàng hoá vừa có tính ch
ất tư nhân , cá biệt
, lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối
lập là tính chất xã hội và tính chất tư nhân , cá biệt lao động của sản xuất hàng
hoá.Đối với mỗi hàng hoá mâu thuẫn đó được giải quyết trên thị trường.
Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài .
Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn . Sản xuất hàng hoá giả
n đơn là sản xuất
hàng hoá nông dân , thợ thủ công dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và
sức lao động của bản thân họ.
Đây là một kiểu sản xuất nhỏ , dựa trên kĩ thuật thủ công và lạc hậu khi
lực lượng sản xuất phát triển cao hơn ,sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thành
sản xuất quy mô lớn . Quá trình chuyển biến này di
ễn ra trong một thời kì quá
độ từ xã hội phong kiến sang chế độ tư bản.
Trong một nền kinh tế sản xuất hàng hoá chiếm địa vị thống trị thì đó là
nền kinh tế hàng hoá , khi nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường
thì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường
Như vậy nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ
chế thị trường thì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường.Cơ chế thị trường là
xuấ
t hàng hoá độc lập " đối diện " với nhau, những người này chịu sự tác động
rất lớn của quy luật cạnh tranh.
Cơ sở của mọi sự phân công ao động phát triển là lấy trao đổi hàng hoá
làm mỗt giá và có sự tách rời giữa thành thị và nông thôn.
Đối với sự phân công lao động có một quy tắc chung là :puyền lực càng ít
chi phối sự phân công lao động trong xã hội bao nhiêu, thì sự phân sự phân công
lao động trong xí nghiệp sản xuất ngày càng phát triể
n bấy nhiêu, và ở đấy nó lại
càng phụ thuộc vào quyền lực của một cá nhân.
*Tác dụng:
Sự phân công lao động trong xã hội làm cơ sở chung cho mọi nền sản
xuất hàng hoá, chính sự phân công lao động trong xã hội làm cho sức lao động
trở thành hàng hoá.
Sự phân công lao động đặt cơ sở cho việc hình thành những nghề nghiệp
chuyên môn, những ngành chuyên môn nhằm nâng cao sức sản xuất.
Sự phân công lao động theo vùng với ngành sản xuất chuyên môm hoá
đặc tr
ưng sẽ là yếu tố quyết định sự khai thác có hiệu quả và phát huy thế mạnh
của vùng. Sự phân công lao động trong xã hội khi đã phát triển đến một trình độ
nào đó thì sẽ dẫn đến sự phân công lao động ở tầm vi mô- các xí nghiệp, các
hãng sản xuất - điều này làm cho các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm bị chia
nhỏ,sản phẩm được hoàn thiẹn về chất lượng, dễ
dàng ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật .Sự phân công lao động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làm việc
sản xuất đi vào chuyên môn hoá, nâng cao tay ngề của người sản xuất, tăng năng
suất lao động xã hội.
c. Hướng phân công và việc thực hiện ở nước ta:
Khi sản xuất hàng hoá ra đời, phát triển đến mức cao điển hình là ở xã hội
tư bản thì đòi hỏi sự phân công lao động sâu sắc để đi vào chuyên môn hoá cao,
mối quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta cần hiểu rõ những đặc điểm và xu h
ướng
hiện đại của nền kinh tế thế giới, đó là những đặc điểm sau:
- Nền kinh tế thế giới là một thể thồng nhất , bao gồm các nền kinh tế khu
vực và quốc gia rất đa dạng , phát triển không đồng đều, chứa đựng nhiều mâu
thuẫn.
-Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại , đang
diễn ra quá trình quốc tế hoá kinh tế , cụ thể là :
+ Đẩy mạnh sự phân công lao động giữa các khu vực trên thế giới và giữa
các quốc gia trong từng khu vực .
+ Tăng cường hợp tác và nhất thể hoá kinh tế thế giới, đặc biệt là phạm vi
từng khu vực
Là một quốc gia phát triển , Việt Nam có những lợi thế can bản để có thể
tham gia tích cực vào phân công lao động khu vực và quốc tế. Những l
ợi thế đó
trước hết là :
- Vị trí địa lý thuận lợi : Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa , tự nhiên
Việt Nam rất phong phú và đa dạng , khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây
á , Đông phi , Tây phi. Đặc điểm này có tác động sâu sắc đến cơ cấu, quy mô và
hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam . Việt Nam nằm ở rìa đông bán
đảo Đông Dương , gần trung tâm Đông Nam á có vùng biển chủ quyền rộng lớn
và giàu ti
ềm năng, dễ dàng phát triển kinh tế - thương mại, văn hoá và khoa học
kỹ thuật với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam nằm trong khu
vực diễn ra các hoạt động sôi động nhất thế giới trước thế kỷ 21, các nước
ASEAN mà Việt Nam là thành viên chính thức kể từ tháng 7/95 đang ngày càng
chiếm địa vị cao trong nền kinh tế thế giới/
- Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng.
- Nguồn tài nguyên nhân vă
n phong phú bao gồm bản thân con người và
chất của việc này là thay thế các quan hệ và các hình thức sở hữu chỉ tồn tại trên
danh nghiã bằng các quan hệ và các hình thức có ý nghĩa kinh tế thực sự có chủ
thể cụ thể , đó là những người sản xuất hàng hoá tự do.
Để chuyển sang nền kinh tế thị trường ,Đảng và nhà nước ta cần đa dạng
hoá và cải cách lại chế độ sở hữu , đặc biệt là khu vực kinh tế nhà nước ,để tự do
sở hữu nhà nước phải ban hành luật pháp về vấn đề sở hữu .
Một bước tiến quan trọng trong quá trình Việt Nam chuyển sang nền kinh
tế thị trường đã diễn ra vào tháng 4/92,khi Quốc hội thông qua hiến pháp mới
công khai choa phép sở hữu tư nhân và còn tăng cường sự bảo hộ của nhà n
ước
đối với hình thức sở hữu này .Hiến pháp này xác định có 3 hình thức rở hữu :sở
hữu toàn dân , sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Hơn nữa, cả ba hình thức đều
được nhà nước bảo hộ . Quốc hữu hoá quyền sở hữu tư nhân đều bị cấm và việc
trưng dụng cần thiết tài sản phải được đền bù , quyền thừa kế
và quyền chuyển
nhượng cũng đfược bảo hộ .
Quyền sở hữu tư nhân ,yếu tố cần thiết cho nền kinh tế thị trường , đã bắt
đầu phát triển rất lâu trước khi hiến pháp được sửa vào năm 1992. Chúng ta có
thể thấy rõ bằng chứng về hoạt động của khu vực tư nhân tăng trong những năm
trước , tuy nhiên đứng trên góc độ hệ thống pháp lý mà xét , vi
ệc tạo cơ sở rõ
ràng cho sở hữu và chuyển nhượng tài sản có tầm quan trọng vì hai lý do .Thứ
nhất ,luật chấp nhận chính thức điều này sẽ là dấu hiệu cho những người có thể
trở thành nhà kinh doanh tư nhân và các nhà đầu tư thấy rằng hoạt động kinh tế
tư nhân là chính thức được phép và khuyến khích. Khi chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường , lo
ại khuyến khích chính thức này có thể
có trọng lượng đôi chút . Thứ hai , những cá nhân khởi sự hoạt động kinh tế tư
nhân trên cơ sở chính thức được phép có thể dựa vào pháp luật để bảo vệ hoạt
động kinh doanh của họ trong tương lai . Điều cần chú ý ở đây là hiến pháp của
trường ở nước ta :
* Sự tác động của khoa học - công nghệ đối với kinh tế thị trường :
Nước ta là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp về lực lượng
sản xuất , về trình độ xã hội hoá lao động và xã hội hoá sản xuất .Sự thấp kém
này đã kìm hãm quá trình chuyển biến nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự
cấp sang kinh tế thị trường .Việc phát triển khoa học công nghệ chính là để thay
đổi về chất lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất của nước
ta nhằm thúc đẩy quá trình chuyển biến nền kinh tế từ chậm phát triển sang phát
triển , chuyển nền kinh tế sang thị trường .
Dưới sự tác động c
ủa khoa học công nghệ làm biến đồi về chất lực lượng
sản xuất theo hướng thực hiện từng bước chiến lược đồng bộ hoá giữa tư liệu
sản xuất hiện đại với con người hiện đại nhằm nâng cao trình độ xã hội hoá sản
xuất . Đến lượt nó , sự đồng bộ hoá này lại tác động làm biến đổi sở hữu và cơ
chế
thị trường ở nước ta theo hướng độc quyền , độc tôn sang sở hữu hỗn hợp đa
dạng , từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý
vĩ mô của nhà nước.
Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ theo hướng
đã xác định làm cho nền kinh tế thị trường nước ta từng bước thích nghi với tốc
độ
nhanh của tính chất mới của nền kinh tế thị trường thế giới.
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua sự phân công lao động làm thay
đổi từng bước cơ cấu ngành vùng , thay đổi chiến lược kinh doanh , thay đổi cơ
cấu giá trị hàng hoá nhất là trong ngành công nghệ mới .
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nâng cao năng lực tích luỹ từ nội bộ nền
kinh tế tạo điều ki
ện thay đổi chiến lược tái sản xuất giản đơn sang phát triển cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu .
*Sự tác động của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã đối
thị tường ở nước ta và sơ đồ : Sự tác động tích cực của kimh tế thị trường xã hội
theo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển khoa học- công nghệ
được thể hiện ở hai trang sau.
b. Hướng phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình chuyển sang
c
ơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
- Trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất và hiệu quả của sở hữu đối với
việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội , hình thành cơ cấu và xu hướng vận
động khách quan của các hình thức sở hữu.
-Trên cơ sở vai trò then chốt của cách mạng khoa học công nghệ và vai
trò động lự
c của nó đối với lực lượng sản xuất , Nhà nước cần có chính sách
khoa học công nghệ hữu hiệu : Nhà nước cần cung cấp những điều kiện cần thiết
cho nghiên cứu khoa học , coi trọng lao động trí tuệ - vốn quý nhất trong vốn
quý lao động,sớm có những chính sách có tác dụng kích khích các chủ thể sản
xuất , kinh doanh ở tất cả các hình thức sở hữu tring và ngoài nước đầu tư sức
người sức người sức của vào việc trang bị công nghệ hiện đại .
Việc chuyển giao công nghệ hiện đại trên thế giới so với trước tuy có
những thuận lợi nhất định , song cũng không kém phần phức tạp . Do vậy , khi
tiếp nhận công nghệ mới phải thận trọng , tránh những sai lầm đắt giá vừa qua ,
nâg cao năng lực tiếp nhận sao cho tránh được hao mòn tài sản cố định do nh
ập
công nghệ lạc hậu và các nguyên nhân khác gây ra. Đồng thời thực hiện chủ
nghĩa tư bản nhà nước để thu hút đầu tư nước ngoài.
- Xây dựng đồng bộ các loại thị trường , thực hiện chiến lược thị trường
hướng ngoại , dùng nó để kích thích sự phát triển khoa học - công nghệ và thị
trường nội địa.
- Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đào tạo trong sự
gắn bó khoa học - công
nghệ và kinh tế thị trường , coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố
phân công xã hội là biến việc sản xuất không những từng sản phẩm riêng biệt,
mà việc sản xuất từng bộ phận của sản phẩm, từng thao tác trong chế biến sản
phẩm thành những ngành công nghiệp riêng biệt. Công nghi
ệp chế biến tách
khỏi công nghiệp khai thác và mỗi ngành công nghiệp đó lại chia thành nhiều
loại và phân loại nhỏ. Chúng sản xuất ra dưới hình thức hàng hoá - những sản
phẩm riêng biệt và đem trao đổi với những sản phẩm của các ngành sản xuất
khác. Chính sự phát triển ngày càng sâu rộng đó của phân công xã hội là nhân tố
chủ yếu dẫn đến hình thành thị trường trong nước. Hình thành nên những khu
vực nhà nước chuyên môn hoá và dẫ
n đến sự trao đổi không những giữa sản
phẩm với sản phẩm công nghệ, mà cả giữa các sản phẩm nhà nước với nhau.
Sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp, sự hình thành trung tâm
công nghiệp, sức hút của chúng đối với dân cư ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống
nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp hàng hoá phát triển.
Những người sản xuất ở những vùng khác nhau có những điều kiệ
n tự
nhiên khác nhau, có khả năng và ưu thế trong sản xuất những sản phẩm khác
nhau có hiệu quả hơn. ngay trong một vùng, một địa phương, những người sản
xuất cũng có những khả năng, điều kiện và kinh nghiệm sản xuất khác nhau.
Mỗi người sản xuất chỉ tập trung sản xuất sản phẩm nào mà mình có ưu thế, đem
sản phẩm của mình trao đổi (mua và bán) lấy những sản phẩm cần thiết cho sản
xuất và đời sống của mình. Họ trở thành những người sản xuất hàng hoá. Trao
đổi, mua bán, thị trường, tiề
n tệ ra đời và phát triển .
Sản xuất hàng hoá ra đời, lúc đầu dưới hình thức sản xuất hàng hoá nhỏ,
giản đơn, nhưng là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại.
3.2. Từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển sang nền kinh tế tự do cổ
điển.
Quá trình chuyển từ nền kinh tế giản đơn sang nền kinh tế tự do cổ điể
được phân chia thành những giai đoạn, những công việc bộ phận để có sản phẩm
hoàn ch
ỉnh, trên cơ sở đó mỗi công nhân chỉ chuyên làm một công việc bộ phận.
Đặc điểm của sự phân công này là chuyên môn hoá hẹp.
Cơ sở kỹ thuật vẫn là thủ công với công cụ chuyên dùng, phân phối sản xuất
theo kinh nghiệm cổ truyền nên chủ yếu dựa vào tay nghề khéo léo của công
nhân. Cơ cấu tổ chức của công trường thủ công là những người lao động bộ
phận, sử dụng công cụ chuyên dùng thích ứng, hợp thành lao động tập thể.
Đại công nghiệp cơ khí:
Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể
được xác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển vững chắc. Do đó, trong quá
trình phát triển, chủ nghĩa tư
bản tự tạo cho nó một cơ sở kỹ thuật tương ứng là
máy móc, đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn
đại công nghiệp cơ khí. Máy móc được sử dụng phổ biến trong xã hội thông qua
cuộc cách mạng công nghiệp. Đó là cuộc các mạng kỹ thuật thay thế lao động
thủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Công cuộc cơ khí hoá ở
một ngành
dẫn đến việc thúc đẩy quá trình cơ khí hoá ở một ngành có liên quan. Cơ khí hoá
trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hoá ở các ngành liên
quan. Cơ khí hoá trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hoá
ngành giao thông vận tải… cơ khí hoá bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ đến các
ngành công nghiệp nặng. Máy móc và đại công nghiệp có tác dụng chủ yếu làm
năng suất lao động xã hội tăng vọt, xã hội hoá lao động và sản xuất ngày càng
cao, mở
rộng thị trường, thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm công nghiệp và
những thành thị lớn; đồng thời, tạo ra những tiền đề vật chất kỹ thuật .
3.3. Từ nền kinh tế thị trường tự do chuyển sang nền kinh tế thị trường
hỗn hợp.
Xuất phát từ những khuyết tật của cơ chế thị trường: