Sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở việt nam - Pdf 13

Đề án kinh tế chính trị
A. Lời mở đầu.
Trong thời gian qua, thế giới biết đến một cụm từ tiếng Việt mà họ không muốn phiên
âm sang thuật ngữ tiếng nớc ngoài nhằm chuyển tải hết ý nghĩa sâu sắc và riêng có của
bản chất từ này - đó là cụm từ đổi mới. Nói bên lề nh vậy để chúng ta hiểu rõ hơn về ý
nghĩa của cụm từ đã trở nên quen thuộc và phổ thông trong đời sống hàng ngày của ngời
Việt Nam ta, đặc biệt là trong đời sống kinh tế mà xuất thân của nó không đâu khác cũng
chính từ đời sống kinh tế đầy sôi động với nhiều thành tựu đợc d luận quốc tế cũng nh
nhân dân ta ủng hộ và đánh giá cao.
Nhớ lại cách đây ngót mời lăm năm, thời điểm cuối thập kỷ 80, có một sự kiện trọng
đại có tính bớc ngoặt với lịch sử nớc ta - Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu- đã khai
sinh một văn kiện quan trọng quyết định vận mệnh của đất nớc khi chuyển đổi cơ chế
kinh tế nớc nhà từ nền kinh tế bao cấp chuyển hớng vận hành theo cơ chế thị trờng có sự
định hớng của Nhà nớc. Đó là một quyết định hết sức nhạy cảm ở thời điểm trên với d
luận quốc tế song đồng thời cũng tạo nên cú hích tích cực mạnh mẽ mà sau này cùng với
thời gian nó đã chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả to lớn mà nó mang lại. Hơn mời
năm đổi mới không phải là quãng thời gian dài nhng cũng đủ để chúng ta nhận rõ bao
thành tựu mà chúng ta làm đợc-nhiều kết quả đợc thế giới gọi tên thần kỳ. Với việc hội
nhập vào cơ chế vận hành chung của kinh tế toàn cầu kinh tế thị trờng, chúng ta gặt
hái rất nhiều thành công, nổi bật là bộ mặt kinh tế thay đổi rõ nét, khởi sắc và tăng trởng
cao, ổn định, đời sống nhân dân cải thiện không ngừng, xã hội văn minh và tân tiến hơn
nhwng vẫn giữ đợc bản sắc văn hoá dân tộc, mở rộng quan hệ hợp tác bạn bè, đối tác trên
bình diện quốc tế ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống và đi liền với những thành tựu này,
vị thế chính trị Việt nam ngày càng nâng cao ở khu vực và thế giới.
Song không phải chúng ta chỉ thu đợc toàn kết quả tích cực suốt quá trình đổi mới
trên. Dù muốn hay không, sự hiện diện của những yếu tố tiêu cực, hạn chế vẫn trở nên đ-
ơng nhiên nh bản chất vốn có của kinh tế thị trờng. Bất cứ quốc gia nào trên thế giới khi
đi theo cơ chế kinh tế này cũng đều thừa nhận và chấp nhận các mặt tiêu cực đó, vì thực
tế có chối bỏ hay muốn triệt tiêu cũng không thể. Vấn đề ở đây là mỗi quốc gia, mỗi thể
chế chính trị khác nhau sẽ lạ chọn cách đối phó, khắc phục khác nhau. Trong bối cảnh
ấy, nớc ta cũng phải thừa nhận sự tồn tại khách quan của khía cạnh này và tiến hành

Phân công lao động đó là sự chuyên môn hoá sản xuất, phân công lao động làm cho
ngời sản xuất phụ thuộc vào nhau. Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở
chung của sản xuát hàng hoá. Trong điều kiện phân công lao động xã hội, lao độngđợc
phân phối một cách tự phát giữa những ngời sản xuất riêng lẻ, tính ngẫu nhiên và tính tuỳ
tiện lại phát huy tác dụng hỗn loạn trong việc phân phối những sản xuất hàng hoá và t
liệu sản xuất (TLSX) của họ vào những ngành lao động khác nhau. Đằng sau cái bề
ngoài ấy, đằng sau tính ngẫu nhiên và tuỳ tiện ẩn náu quy luật giá trị, quy luật này làm
cho tính ngẫu nhiên và tính tuỳ tiện phát huy tác dụng trong phạm vi nhất định, nhng
điều đó chỉ sau này mới diễn ra nh là một sự tất yếu tự nhiên bên trong khống chế hành
vi tuỳ tiện của ngời sản xuất hàng hoá và chỉ có thể thấy đợc qua sự biến động kiểu kiểu
phong vũ biểu của giá trị thị trờng . Phân công lao động xã hội đợc phát triển cả về
chiều rộng và chiều sâu. Phân công lao động trong từng khu vực , từng địa phơng, từng
ngành cũng ngày càng phát triển . Sự phát triển của phân công lao động đợc thể hiện ở
tính phong phú ,đa dạng và chất lợng ngày càng cao của sản phẩm đa ra trao đổi trên thị
trờng. Hiện nay ở Việt Nam , nớc ta đang dần tham gia vào sự phân công lao động quốc
tế. Trong cơ chế mới thì nhiều ngành nghề cổ truyền đã và đang đợc khôi phục. Do sự tác
động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật nhiều ngành nghề mới xuất hiện tạo công ăn
việc làm cho một lực lợng lao động lớn . Tất cả những đặc điểm đó đang tác động vào
nền sản xuất hàng hoá .
b. Đa dạng hoá các hình thức sở hữu đối với TLSX
Trong nền kinh tế nớc ta ,tồn tại nhiều hình thức sở hữu , đó là sở hữu toàn dân , sở
hữu tập thể , sở hữu t nhân ( gồm sở hữu cá thể ,sở hữu tiểu chủ , sở hữu t bản t nhân), sở
hữu hỗn hợp. Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập ,lợi ích riêng, nên quan hệ kinh
tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hoá tiền tệ
Thành phần kinh tế Nhà nớc và kinh tế tập thể tuy cùng dựa trên chế độ công hữu về
TLSX nhng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định , có quyền tự chủ trong sản
2
Đề án kinh tế chính trị
xuất kinh doanh, có lợi ích riêng. Mặt khác, các đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau về
trình độ kĩ thuật- công nghệ , về trình độ tổ chức quản lí nên chi phí sản xuất và hiệu

trong xã hội, ô nhiễm môi trờng , làm nảy sinh các tệ nạn xã hôi là những vấn đề đặt ra
cho mỗi quốc gia hiện nay.
d. Sự phát triển của phân công lao động và trao đổi trên phạm vi quốc tế
Phân công lao động quốc tế xuất hiện nh là hệ quả tất yếu của phân công lao động xã
hội phát triển vợt khuôn khổ mỗi quốc gia .Nó diễn ra giữa các ngành, giữa những ngời
sản xuất của những nớc khác nhau và thể hiện nh một hình thức đặc biệt của sự phân
công lao động theo lãnh thổ diễn ra trên phạm vi thế giới.
Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung việc sản xuất và cung cấp một hoặc
một số loại sản phẩm và dịch vụ của một quốc gia nhất định dựa trên cơ sở lợi thế của
quốc gia đó về các điều kiện tự nhiên , kinh tế, khoa học, công nghệ và xã hội để đáp ứng
nhu cầu của quốc gia khác thông qua trao đổi quốc tế .
3
Đề án kinh tế chính trị
Trong những thập niên gần đây phân công lao động quốc tê đang diễn ra với những xu
thế mới:
- Phân công lao động diễn ra trên phạm vi ngày càng lớn , bao quát nhiều lĩnh vực và
với tốc độ nhanh
- Dới tác động nh vũ bão của cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại phân công lao
động quốc tế diễn ra theo chiều sâu.
- Sự phát triển của phân công lao động quốc tế làm xuất hiện ngày càng nhiều và
nhanh các hình thức hợp tác mới về kinh tế, khoa học-công nghệ chứ không đơn thuần
chỉ có hình thức ngoại thơng .
- Phân công lao động quốc tế làm biến đổi nhanh chóng cơ cấu ngành và cơ cấu lao
động trong từng nớc và trên phạm vi quốc tế
Đây chính là quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế . Do sự phát triển của lực lợng sản
xuất đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại đã dẫn đến
quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội , xu hớng này trở thành phổ biến trên tất cả
các mặt của đời sống kinh tế xã hội
2. Các b ớc phát triển KTTT
a. Từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hóa giản đơn

khỏi ngành nông nghiệp, làm hình thành xu hớng công nghiệp thành thị dần dần tách
khỏi nông nghiệp nông thôn.
Phân công lao động phát triển cũng dẫn đến sự ra đời của ngành thơng nghiệp. Khi th-
ơng nghiệp ra đời , quan hệ trao đổi có sắc thái mới : ngời sản xuất và ngời tiêu dùng
quan hệ với nhau qua ngời thứ ba là thơng nhân. Việc mở rộng phạm vi xã hội hoá sản
xuất đồng thời kéo theo việc chuyên môn hoá ngành nghề. Ngời sản xuất chuyên sản
xuất còn lu thông hàng hoá đã có thơng nhân đảm nhận.Thông qua hoạt động mua bán
của mình , thơng nhân đã thực hiện vai trò nối liền sản xuất với sản xuất và sản xuất với
tiêu dùng . Qua đó khơi dậy những nhu cầu đối với sản xuất và hớng sản xuất phục vụ thị
tờng. Thơngnghiệp phát triển làm cho sản xuất và lu thông hàng hoá cùng lu thông tiền
tệ đợc phát triển nhanh chóng. Điều này dẫn tới sự mở rộng quan hệ trao đổi giữa các
vùng, đồng thời liên kết những ngời sản xuất với nhau, cuốn hút họ vào quỹ đạo của kinh
tế hàng hoá.
b. Từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn sang nền kinh tế thị tr ờng tự do .
Trong lịch sử sự hoạt động của quy luật giá trị đã từng dẫn đến sự phân hoá những ng-
ời sản xuất thành kẻ giàu ngời nghèo. Sự phân hoá này diễn ra chậm chạp, cho nên cần
phải có bạo lực Nhà nớc để thúc đẩy sự phân hoá này diễn ra nhanh hơn. Chính sự phân
hoá ngời sản xuất thành kẻ giàu ngời nghèo tới một giới hạn nhất định sẽ làm nảy sinh
hàng hoá sức lao động.
Sự xuất hiện hàng hoá sức lao động là một tiến bộ của lịch sử. Ngời lao động đợc tự
do, anh ta có quyền làm chủ khả năng lao động của mình và là chủ thể bình đẳng trong
việc thơng lợng với ngời khác . Chủ nghĩa t bản (CNTB) đã thực hiện đợc bớc tiến bộ của
lịch sử đó trong khuôn khổ lợi dụng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động để phục
vụ túi tiền của các nhà t bản. Vì vậy đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa t bản với lao động
làm thuê. Trongđiều kiện lịch sử mới, thời kì quá độ lên CNXH không phải mọi ngời
có sức lao động đem bán đều là những ngời vô sản. Do sự chi phối lợi ích kinh tế của chi
phí cơ hội những ngời lao động có thể bán sức lao động của mình cho ngời khác nếu nh
họ cảm thấy việc này có lợi hơn việc tổ chức sản xuất. Sự nảy sinh hàng hoá sức lao
động dẫn tới sự hình thành KTTT.
Quyền t hữu là nhân tố cơ bản nhất trong nền KTTT tự do kiểu cổ điển. Nó đảm bảo

3. Các yếu tố của cơ chế thị tr ờng
Nh đã biết trong nền KTTT có một loạt những quy luật kinh tế vốn có nh quy luật giá
trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Các quy luật đó đều biểu hiếnự hoạt động của
mình thông qua giá cả thị trờng. Nhờ sự vận động giá cả thị trờng mà diễn ra một sự
thích ứng một cách tự phát giữa khối lợng và cơ cấu của sản xuất( tổng cung) với khối l-
ợng và cơ cấu nhu cầu của xã hội ( tổng cầu ) tức là sự hoạt động của các quy luật đó đã
điều tiết nền sản xuất xã hội.
Vậy cơ chế thị trờng là cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thị trờng do sự tác động của
các quy luật vốn có của nó : quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy
luật lu thông tiền tệ. Nó đợc dùng để giải quyết ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế :
sản xuất cái gì, sản xuất nh thế nào và sản xuất cho ai &đặc trng cơ bản của nó là cơ chế
hình thành giá cả tự do thông qua sự tác động giữa ngời mua và ngời bán.
a. Hàng hoá
Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó của con ngời và nó đ-
ợc sản xuất ra để trao đổi hoặc để bán .
Hàng hoá có hai thuộc tính đó là giá trị và giá trị sử dụng
- Giá trị sử dụng của vật phẩm là những công dụng khác nhau do thuộc tính tự nhiên
của vật phẩm mang lại. Chính thuộc tính tự nhiên quyết định giá trị sử dụng của hàng
hoá.
Giá trị sử dụng của vật phẩm đợc thể hiện ra khi ngời ta mang tiêu dùng nó.
- Giá trị là lao động xã hội của ngời sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hóa.
Hàng hoá là một vật phẩm ( hay một dịch vụ)với hai thuộc tính giá trị và giá trị sử
dụng. Thiếu một trong hai thuộc tính đó sản phẩm của lao động không thể là hàng hoá đ-
ợc . Công dụng của một vật làm cho vật đó có giá trị sử dụng : giá trị của hàng hóa chỉ
thể hiện trong trao đổi với hàng hoá khác. Ngày nay cùng với sự phát triển của hàng hoá
6
Đề án kinh tế chính trị
hiện đại , hàng hoá không chỉ đợc hiểu là các vật phẩm tiêu dùng mà còn là đất đai, tài
nguyên, sức lao động , tiền tệ, dịch vụ , chất xám ( những phát minh sáng chế ).
b. Giá cả

làm tiền, một bên giữ vai trò là hàng hoá thông thờng. Vậy tiền tệ là một loại hàng hoá
đặc biệt đợc tách ra làm vật ngang giá chung cho các loại hàng hoá nó là biểu hiện chung
của giá trị, nó biểu hiện tính chất xã hội của lao động và nó là quan hệ sản xuất giữa
những ngời sản xuất hàng hoá.
Khi tiền tệ xuất hiện thì sự trao đổi hàng hoá từ trực tiếp chuyển sang gián tiếp. Sự vận
động của tiền tệ ( lu thông tiền tệ ) có ý nghĩa quan trọng đối với nền KTTT .
- Lu thông tiền tệ là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tái sản xuất xã hội đợc thực
hiện
- Lu thông tiền tệ thông suốt, nhanh chóng thúc đẩy nâng cao hiệu quả sản xuất, thông
suốt thị trờng.
7
Đề án kinh tế chính trị
- Xúc tiến giao lu kinh tế kĩ thuật trên phạm vi thế giới .
d. Lợi nhuận
Mục đích quan trọng nhất trong KTTT là các đơn vị kinh tế phải đạt đợc lợi nhuận
cao nhất. Vì vậy lợi nhuận có ảnh hởng rất lớn đến KTTT.
Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất TBCN luôn luôn có một khoảng chênh lệch
cho nên sau khi bán hàng hoá nhà t bản không những bù đắp đủ số t bản đã ứng ra mà
còn thu đợc số tiền lời ngang bằng với giá trị thặng d. Số tiền này đợc gọi là lợi nhuận.
Lợi nhuận là số tiền lời mà nhà t bản thu đợc do sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá
và chi phí t bản .
Phạm trù lợi nhuận phản ánh sai lệch bản chất quan hệ sản xuất giữa nhà t bản và lao
động làm thuê. Vì nó làm cho ngời ta tởng rằng giá trị thặng d không phải chỉ do lao
động làm thuê tạo ra.
4. Các quy luật KTTT
a. Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá .Ơ đâu có sản
xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng trong nền KTTT
điều đó đợc thể hiện :
- Theo quy luật giá trị sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động

Quy luật cung cầu đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải dựa trên quan cân bằng cung-
cầu. Giá cả lên xuống xung quanh điểm cân bằng cung- cầu.
Trong nền KTTT cung và cầu là những lực lợng hoạt động trên thị trờng. Cầu đợc
hiểu là nhu cầu của xã hội về hàng hoá đợc biểu hiện trên thị trờng ở một mức giá nhất
định. Nó bị giới hạn bởi khả năng thanh toán dân c. Nói cụ thể hơn, cầu là lợng một mặt
hàng mà ngời mua muốn mua ở mức giá nhất định .Những nhân tố ảnh hởng đến cầu là
thu nhập trung bình của ngời tiêu dùng, quy mô thị trờng, giá cả và tình trạng các hàng
hoá khác, khẩu vị hay sở thích, trong đó thu nhập của ngời tiêu dùng là quan trọng nhất.
Cung là toàn bộ hàng hoá có trên thị trờng và có thể đa đến ngay thị trờng ở một mức giá
nhất định. Nói cụ thể hơn, cung là lợng một mặt hàng mà ngời bán muốn bán ở mức giá
nhất định. Giữa cung và cầu tồn tại mối quan hệ biện chứng, sự tác động giữa chúng hình
thành nên giá cả cân bằng hay giá cả thị trờng, giá cả đó không thể đạt đợc ngay mà phải
trải qua thời gian dao động quanh vị trí cân bằng.
Tơng quan cung cầu chỉ rõ sản xuất xã hội đợc phát triển đến mức độ nào. Bất kì một
sự mất cân bằng nào trong sản xuất đều đợc phản ánh trong tơng quan giữa cung và cầu.
Tơng quan cung cầu điều chỉnh giá cả thị trờng, chính xác hơn là điều chỉnh đọ chênh
lệch giữa giá cả thị trờng và giá trị thị trờng. Khi hớng tới sự cân bằng, cung và cầu tạo
khả năng khôi phục những cân đối đã bị phá hoại trong nền kinh tế. Cung và cầu đảm
bảo mối liên hệ giữa khâu đầu và khâu cuối của quá trình sản xuất và tiêu dùng, đồng
thời quan hệ cung cầu còn biểu hiện quan hệ về lợi ích giữa ngời sản xuất và ngời tiêu
dùng, giữa ngời bán và ngời mua.
II. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị tr ờng định h ớng XHCN ở Việt
Nam
1.Sự cần thiết khách quan chuyển từ nền cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang
cơ chế thị tr ờng có sự quản lí của Nhà n ớc
Sau khi miền Bắc đợc hoàn toàn giải phóng ( năm 1954 ) Nhà nớc bắt tay vào khôi
phục và xây dựng nền kinh tế miền Bắc XHCN .Do điều kiện lịch sử lúc đó Việt Nam đã
sao chép hầu nh nguyên vẹn mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ chế quản lí kinh tế
của các nớc XHCN đặc biệt là Liên Xô
Vấn đề chủ yếu của cơ chế quản lí kinh tế giai đoạn này là :kế hoạch hoá đợc coi là cơ

tiêu cực chủ yếu trong đời sống kinh tế xã hội của đất nớc nh sau :
Động lực của ngời lao động và cán bộ quản lí bị triệt tiêu .Do chủ nghĩa bình quân
trong phân phối nên ngời lao động không năng động ,sáng tạo ,không nhiệt tình làm việc
không quan tâm đến tiết kiệm vật t , nguyên liệu ...nên năng suất lao động ngày càng
giảm, và chi phí trên một đơn vị sản phẩm ngày càng tăng .Hiệu quả kinh tế thấp .Do chỉ
sản xuất theo kế hoạch mà kế hoạch không thể bao quát nhu cầu của nền kinh tế và xã
hội nên sản xuất không phù hợp với tiêu dùng gây ra lãng phí rất lớn .Do không có cạnh
tranh cần thiết nên công nghệ , kĩ thuật chậm đợc đổi mới ,các doanh nghiệp làm ăn tốt
không đợc phát triển mạnh .Các doanh nghiệp làm ăn kém không bị đào thải kịp thời
,bao bì đóng gói sản phẩm ngày càng thấp kém với giá thành ngày càng cao . Tất cả
những điều này làm cho hiệu quả chung của nền kinh tế giảm sút .Hàng hoá trên thị tr-
ờng thiếu hụt trầm trọng do việc phân phối định lợng theo tem phiếu với giá cả hành hoá
đợc quy định thấp một cách giả tạo và sự chia cắt thị trờng theo kiểu cát cứ địa phơng
.
Nh vậy tăng trởng kinh tế trong giai đoạn này không dựa trên gia tăng năng suất lao
động mà chủ yếu dựa vào sự gia tăng vốn viện trợ từ bên ngoài và giă tăng lao động trong
nớc .Kết qủ là khi tốc độ gia tăng vốn cho sản xuất giảm sút (do các nớc viện trợ trớc
đây giảm dần và cuối cùng chấm dứt việc viện trợ cho Việt nam ) không theo kịp tốc đọ
giảm sút năng suất lao động thì nền kinh tế rơi vào khủng hoảng ,sản xuất trì trệ ,đình
đốn ,hàng hoá ngày càng khan hiếm , giá cả leo thang dẫn đến lạm phát ,đời sống nhân
dân lao động ngày càng khó khăn .Qua đó đòi hỏi Nhà nớc phải có sự chuyển đổi từ cơ
chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự quản lí của Nhà nớc .
Trong thời kì quá độ lên CNXH sản xuất hàng hoá tồn tịa và phát triển là một tất yếu
khách quan do các căn cứ sau :
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status