VẤN ĐỀ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
PGS, TS. PHẠM VĂN DŨNG – Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia
Hà Nội
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một hình thức của kinh tế thị
trường. Do đó, trong nền kinh tế cũng sẽ bao hàm nhiều hình thức sở hữu
như các nền kinh tế thị trường khác. Tuy nhiên, cơ cấu các hình thức sở hữu
ở nước ta và vị trí của mỗi hình thức sở hữu trong cơ cấu đó sẽ có những
khác biệt với các nước khác
1. Sở hữu trong nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất
định của văn minh nhân loại. Phải đạt đến một trình độ phát triển nhất định, nền
sản xuất xã hội mới thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp, mới có sản phẩm dư thừa
để trao đổi. Một trong những điều kiện để xuất hiện trao đổi là tính chất tư nhân
của sản xuất, tức là những người sản xuất độc lập với nhau, sản xuất cái gì, sản
xuất thế nào, cho ai là việc riêng của từng “người sản xuất”. “Người sản xuất” cần
được hiểu theo nghĩa rộng. “Người sản xuất” có thể là cá nhân, hợp tác xã, công ty
tư nhân, doanh nghiệp nhà nước… Điều quan trọng nhất chính là những “người”
này độc lập với nhau.
Cuối chế độ công xã nguyên thủy, khi sản phẩm thặng dư xuất hiện, bắt đầu có
quan hệ trao đổi giữa các công xã với nhau. Như vậy, trong lịch sử, người sản xuất
và trao đổi đầu tiên xuất hiện lại là các công xã nguyên thủy. Những “người” này
dựa trên sở hữu công xã (thuộc sở hữu công cộng) về tư liệu sản xuất. Khi lực
lượng sản xuất tiếp tục phát triển, sản phẩm thặng dư nhiều hơn, những cá nhân có
quyền lực trong công xã bắt đầu chiếm hữu những sản phẩm dư thừa đó làm của
riêng. Chế độ tư hữu dần xuất hiện. Tuy nhiên, chế độ tư hữu trong chế độ chiếm
hữu nô lệ và chế độ phong kiến không hề làm cho sản xuất hàng hóa phát triển.
Điều đó cho thấy, không phải cứ có chế độ tư hữu là quan hệ trao đổi hay kinh tế
hàng hóa có thể phát triển.
Đến CNTB, lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội có sự phát triển nhanh
chóng. Hai điều kiện cho sự hình thành, phát triển của sản xuất hàng hóa được
thị trường này bị chi phối bởi việc thực hiện mục tiêu CNXH. Điều này xuất phát
từ mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Mặc dù kinh tế quyết định chính trị
nhưng chính trị lại tác động mạnh mẽ đến kinh tế. Nếu các quyết sách của Nhà
nước (chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách…) được thực hiện trong thời gian
dài sẽ làm cho nền kinh tế biến đổi tích cực (nếu quyết sách đúng) hoặc tiêu cực
(nếu quyết sách sai). Như vậy, đường lối phát triển theo con đường XHCN sẽ làm
cho nền kinh tế thị trường ở Việt Nam khác với các nước khác.
CNXH có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng về bản chất, CNXH
phải là sản xuất phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không
ngừng được nâng cao, là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”. Những mục tiêu trên chỉ có thể được thực hiện thông qua hoạt động tự
giác, năng động của con người (nếu để tự phát có thể không thực hiện được, thực
hiện không trọn vẹn, mất nhiều thời gian, thậm chí phải trả giá rất đắt…). Vì thế,
để thực hiện mục tiêu CNXH, Đảng và Nhà nước sẽ phát huy năng động chủ quan
để khai thác những ưu việt của kinh tế thị trường, hạn chế những nhược điểm của
chúng, để rút ngắn thời gian phát triển. Muốn vậy, Nhà nước phải sử dụng các
công cụ vật chất. Một trong những công cụ đó là kinh tế nhà nước. Do vậy, sở hữu
nhà nước (một hình thức của chế độ sở hữu công cộng) có vai trò rất quan trọng
trong kinh tế thị trường định hướng XHCN. Điều này cũng không có khác biệt lớn
với sở hữu nhà nước ở nhiều nước khác.
Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” còn đòi hỏi
mọi người phải được tự do sử dụng và phát huy các tiềm năng của mình. Nói cách
khác, người dân phải được tự do kinh doanh những gì luật pháp không cấm. Vì
thế, sự tồn tại và phát triển của những hình thức sở hữu như cá thể, tiểu chủ, tư bản
tư nhân, tư bản tập thể… là tất yếu và cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu
CNXH. Như vậy, kinh tế thị trường định hướng XHCN phải dựa trên nhiều hình
thức sở hữu, trong đó có sở hữu nhà nước.
b) Nhân tố kinh tế
Cơ cấu các hình thức sở hữu ở nước ta không chỉ do định hướng chính trị chi phối,
mà còn được chi phối bởi nhân tố kinh tế trong và ngoài nước. Hơn thế, đây mới là
trường định hướng XHCN ở Việt Nam đến nay không còn phải bàn cãi. Tuy
nhiên, hình thức sở hữu nào là chủ đạo, là động lực… thì chưa phải đã nhận được
sự đồng thuận rộng rãi.
Những phân tích trên đây cho thấy có nhiều nhân tố tác động đến sở hữu công
cộng và sở hữu tư nhân theo những chiều hướng khác nhau. Sở hữu công cộng
dưới hình thức kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể rất cần thiết cho việc định
hướng nền kinh tế lên CNXH. Nhưng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ở Việt
Nam lại chưa có cơ sở kinh tế vững chắc để phát triển, hiệu quả còn rất thấp. Ngay
tại thời điểm này, không ít doanh nghiệp nhà nước vẫn hoạt động không hiệu quả,
thậm chí thua lỗ. Do đó, nếu tỷ trọng của kinh tế nhà nước càng lớn thì hiệu quả và
sức cạnh tranh của nền kinh tế càng thấp. Vì thế về nguyên tắc, những doanh
nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả cần được xem xét để chuyển sang các
hình thức tổ chức sản xuất khác.
Nhưng định hướng XHCN lại đòi hỏi kinh tế Nhà nước phải là công cụ để nhà
nước điều tiết nền kinh tế. Nếu thị trường bị đầu cơ, giá cả hàng hóa tăng cao ảnh
hưởng xấu đến đời sống người dân là trái với việc thực hiện định hướng XHCN.
Nhà nước không kiểm soát được thị trường thuốc tân dược do các doanh nghiệp
dược phẩm nhà nước không đủ sức chi phối thị trường là bài học đắt giá. Những
cơn “sốt” xi măng, sắt thép… cho thấy sự yếu kém của khu vực kinh tế nhà nước
ảnh hưởng xấu đến sản xuất, đến định hướng XHCN như thế nào. Một minh
chứng khác về sự cần thiết của các doanh nghiệp nhà nước là khi “sốt” gạo xảy ra,
nhờ các công ty lương thực nhà nước tung hàng hóa ra bán, thị trường lương thực
nhanh chóng được kiểm soát, xã hội giữ được ổn định. Hiện nay, cần chống định
kiến xấu với kinh tế tư nhân, nhưng cũng cần chống định kiến xấu với kinh tế nhà
nước. Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả cần được duy trì và
tạo môi trường thuận lợi để phát triển hơn nữa. Việc xây dựng mới các doanh
nghiệp nhà nước cũng phải thực hiện theo nguyên tắc này.
Từ những phân tích trên đây có thể rút ra kết luận: chỉ nên thiết lập sở hữu công
cộng ở các lĩnh vực kinh tế then chốt, giữ vai trò quan trọng với quốc kế, dân sinh.
Các lĩnh vực kinh tế then chốt có thể là: lương thực, thuốc chữa bệnh, ngân hàng,