NHữNG VấN Đề Lý LUậN CHUNG Về DOANH NGHIệP NHà NƯớC TRONG NềN KINH Tế THị
TRƯờNG ĐịNH HƯớNG Xã HộI CHủ NGHĩA
1.1.Khái niệm, đặc điểm của DNNN trong nền kinh tế thị trờng
1.1.1 Khái niệm DNNN
Doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam ra đời gắn liền với quá trình đấu tranh
giành độc lập đân tộc. Trong suốt gần 50 năm tồn tại và phát triển doanh nghiệp
nhà nớc đã giữ vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc
dân, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc và bảo vệ tổ quốc. Với vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nên các
nhà làm luật ở nớc ta luôn coi trọng và cố gắng tạo dựng cho doanh nghiệp nhà n-
ớc một hành lang pháp lý ổn định để hoạt động.
Văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nớc tạo tiền đề cho doanh nghiệp nhà
nớc là Sắc lệnh 104/SL do Chủ tịch nớc ban hành ngày 01 - 01 - 1948. Sắc lệnh
này khẳng định xí nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu quốc gia, do Nhà nớc quản lý.
Nhiệm vụ của xí nghiệp quốc doanh là sản xuất ra sản phẩm nhằm thoả mãn nhu
cầu tối thiểu của nền kinh tế, điều phối các hoạt động kinh tế trong nớc, bảo vệ
kinh tế và phát triển tài chính quốc gia. Sắc lệnh này còn quy định xí nghiệp quốc
doanh có vốn tự trị và không thuộc ngân sách hàng năm.
Ngày 25 - 02 - 1949 Chủ tịch nớc kí sắc lệnh 09/SL về việc thành lập xí
nghiệp quốc doanh. Để thực hiện hai sắc lệnh 104/SL và 09/SL ngày 31 - 10 -
1952 Thủ tớng Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về xí nghiệp quốc doanh
trong Nghị định số 214/TTg. Điều lệ này khẳng định vai trò chủ đạo của xí nghiệp
quốc doanh, xác định xí nghiệp quốc doanh là pháp nhân và có trách nhiệm trớc
bộ chủ quản về thực hiện kế hoạch và quản lý tài sản Nhà nớc. Các văn bản pháp
luật nói trên đã tạo dựng nên hành lang pháp lý cho sự thành lập và hoạt động cuả
xí nghiệp quốc doanh, đồng thời khẳng định vai trò chủ đạo của xí nghiệp quốc
doanh trong nền kinh tế quốc dân.
Sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng năm 1954 Nhà nớc ta chính thức
triển khai thực hiện những nguyên tắc và phơng pháp quản lý xã hội chủ nghĩa.
Ngày 04 - 04 - 1957 Thủ tớng Chính phủ đã ban hành quyết định 130/TTg nhằm
tạo ra một hành lang pháp lý tốt cho các xí nghiệp quốc doanh phát triển sản xuất.
pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời tăng cờng quản lý Nhà
nớc và thực hiện chức năng của Nhà nớc với t cách chủ sở hữu đối với vốn và tài
sản của doanh nghiệp. Để đáp ứng đợc nhu cầu bức xúc đó ngày 20/4/1995 Quốc
hội nớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá IX kỳ họp thứ 7 đã thông qua
Luật doanh nghiệp nhà nớc. Trong đó Nhà nớc đã tách chức năng quản lý Nhà nớc
ra khỏi chức năng sản xuất kinh doanh. Luật doanh nghiệp nhà nớc ra đời đã tạo
mặt bằng pháp lý cho việc tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc trong
nền kinh tế thị trờng.
Khái niệm của doanh nghiệp nhà nớc đợc quy định trong điều 1 Luật
doanh nghiệp nhà nớc nh sau:
Doanh nghiệp nhà nớc là tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn thành lập
và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nớc giao.
Doanh nghiệp nhà nớc có t cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ
dân sự, chịu trách nhiệm về tất cả hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn do
Nhà nớc quản lý. doanh nghiệp Nhà nớc có tên gọi, con dấu riêng và có trụ sở
chính trên lãnh thổ Việt Nam.
( *** Bổ sung thông tin :
Dự thảo Luật DNNN sửa đổi đã đợc trình và thảo luận tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội
khoá 11 hồi tháng 5 - 2003 và còn tiếp tục đợc thảo luận tại kỳ họp thứ 4 vào
tháng 10 - 2003. Trong đó có một số điểm đáng chú ý :
Về khái niệm
Theo Dự thảo mới : Doanh nghiệp nhà nớc : là doanh nghiệp do Nhà nớc sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần , vốn góp chi phối, đợc tổ chức dới
hình thức công ty nhà nớc độc lập, tổng công ty nhà nớc, công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên
trở lên. ***) ( Tuy nhiên, về khái niệm này hiện nay cũng còn co snhiều ý kiến khác nhau, ví dụ nh
công ty cổ phần là DN có cổ phần của Nhà nớc và của các thành phần kinh tế khác, vì loại doanh
nghiệp này không thể là đối tợng quản lý của Luật DNNN v.v.. Những vấn đề này sẽ đợc tiếp tục thảo
nớc, doanh nghiệp nhà nớc có trách nhiệm bảo toàn và phát triển số vốn mà Nhà
nớc giao. Trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp có quyền chuyển nh-
ợng, cho thuê, cầm cố, thế chấp tài sản Nhà nớc trong khuôn khổ pháp luật đảm
bảo kinh doanh có hiệu quả.
Nhà nớc thể hiện ý chí của ngời chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nớc giao
cho doanh nghiệp nhà nớc trong các văn bản quy định chế độ quản lý, sử dụng và
định đoạt tài sản đó.
c) Doanh nghiệp nhà nớc là một tổ chức có t cách pháp nhân.
Doanh nghiệp nhà nớc đợc thành lập một cách hợp pháp theo một thủ tục
pháp lý chặt chẽ. Có quyết định thành lập hay tổ chức lại doanh nghiệp và đăng
ký kinh doanh theo đúng các quy định của luật doanh nghiệp nhà nớc. Trong
doanh nghiệp nhà nớc hiện nay có một cơ cấu tổ chức thống nhất. Giữa bộ phận
lãnh đạo và bộ phận giúp việc trực tiếp sản xuất kinh doanh có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Các cán bộ nắm giữ những vị trí chủ chốt trong doanh nghiệp là
những cán bộ thuộc biên chế Nhà nớc hay do Nhà nớc tuyển chọn đào tạo hoặc bổ
nhiệm.
Doanh nghiệp nhà nớc có tài sản riêng, tài sản của doanh nghiệp do Nhà n-
ớc giao thuộc sở hữu Nhà nớc nhng nó đợc tách biệt với số tài sản khác của Nhà
nớc. Doanh nghiệp nhà nớc phải chịu trách nhiệm độc lập về số tài sản này và chỉ
chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi vốn do
Nhà nớc quản lý (trách nhiệm hữu hạn).
Lần đầu tiên việc chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản doanh
nghiệp nhà nớc đợc ghi nhận trong một văn bản pháp lý. Việc làm này có ý nghĩa
rất to lớn trong việc đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều
kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Doanh nghiệp nhà nớc có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, tự xây dựng và thực hiện các phơng án kinh doanh, các hợp đồng kinh tế.
Tự nguyện liên doanh liên kết trên cơ sở các quy định của pháp luật để tạo ra lợi
nhuận cao.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp nhà nớc có thể