Tài liệu LUẬN VĂN: Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay - Pdf 10

LUẬN VĂN:

Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay a-/ Lời nói đầu
"Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
nước ta hiện nay" là đề tài nghiên cứu sự kết hợp hài hoà tương hỗ lẫn nhau giữa "Bàn


b-/ giải quyết vấn đề
chương I
tính tất yếu khách quan vai trò quản lý kinh tế
vi mô của Nhà nước trong nền kinh tế

I-/ Vai trò kinh tế của Nhà nước trong các giai đoạn lịch sử:
1-/ Nhà nước chủ nô:
Nhà nước chủ nô có từ rất sớm trong lịch sử xuất hiện từ thời kỳ chiếm hữu nô
lệ. Nhà nước chủ nô ra đời và trực tiếp dùng quyền lợi của mình nhằm can thiệp vào
việc phân phối của cải được sản xuất ra. Tuy rằng thời bấy giờ những người nô lệ làm
ra sản phẩm nhưng dưới sự chỉ huy của Nhà nước thì khối lượng lớn của cải đó không
phân phối cho nô lệ mà bị giai cấp chủ nô chiếm đoạt bằng bạo lực lúc này Nhà nước
có vai trò được làm công cụ cho bọn chủ nô điều khiển, cưỡng bức kinh tế.
2-/ Phong kiến:
Nhà nước lúc này không chỉ can thiệp vào việc phân phối sản phẩm mà còn đứng
ra hợp lực xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp lúc này Nhà nước đã
khuyến khích nhân dân đi tìm các vùng đất mới thích hợp để gieo trồng. ở Việt Nam
đã có sự can thiệp của Nhà nước từ rất sớm thế kỷ thứ X trước công nguyên. Cơ sở
kinh tế của Nhà nước phong kiến là sở hữu của địa chủ phong kiến đối với ruộng đất
cũng như các loại tư liệu sản xuất khác và sở hữu cá thể của nông dân trong sự lệ
thuộc vào địa chủ.
Nhà nước phong kiến là công cụ chuyên chính của giai cấp phong kiến là phương
tiện để giai cấp phong kiến duy trì địa vị kinh tế của mình và thực hiện quyền thống trị
đối với toàn xã hội. 3-/ Tư sản:
Trên thế giới vào thế kỷ XV xuất hiện các nhà tư bản là quá trình tích luỹ nguyên
thuỷ được thực hiện nên kinh tế thị trường dần dần hình thành. Nhằm giúp các nền

nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư, đã trở nên mâu thuẫn không còn phù
hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển. Mâu thuẫn đó đòi hỏi một cuộc cách mạng để
thay đổi quan hệ sản xuất (QHSX). Cuộc cách mạng về QHSX ấy tất yếu dẫn đến sự
thay đổi Nhà nước.
Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và QHSX biểu hiện về mặt xã hội là mâu
thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Nền sản xuất TBCN đã tạo ra những tiền
đề làm cho giai cấp vô sản phát triển mạnh mẽ về số lượng cũng như về tính tổ chức,
kỷ luật. Giai cấp vô sản trở thành giai cấp tiên tiến nhất trong xã hội có sứ mạng lịch
sử là lãnh đạo các tầng lớp nhân dân lao động làm cách mạng, xoá bỏ Nhà nước tư sản,
xây dựng Nhà nước XHCN.
Bản chất của Nhà nước XHCN do cơ sở kinh tế và đặc điểm về quyền lực trong
CNXH quyết định. Cơ sở kinh tế của Nhà nước XHCN là tổng thể các QHSX được
hình thành trên nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, phát triển theo định hướng
XHCN trước sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân. Các kiểu Nhà nước khác
trong lịch sử đều dựa trên cơ sở kinh tế là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất.
Nhà nước XHCN là Nhà nước kiểu mới có nhiệm vụ bảo vệ sở hữu toàn dân về
tư liệu sản xuất, là công cụ bảo vệ và đảm bảo quyền lợi của giai cấp công nhân, nông
dân, trí thức XHCN.
II-/ Các lý thuyết về vai trò kinh tế của Nhà nước của các nhà kinh tế học cổ
điển, tân cổ điện, Keynes:
1-/ Các nhà kinh tế học cổ điển:
Mầm mống tư tưởng tự do kinh tế được tiếp tục phát triển trong lý thuyết tự
nhiên của phái trọng nông ở Pháp. Song nổi bật là A. Smith (1723-1790) một nhà kinh
tế học nổi tiếng người Anh, Ông đã đưa ra lý thuyết “Bàn tay vô hình” và nguyên lý
“Nhà nước không can thiệp” vào tổ chức nền kinh tế hàng hoá. Theo ông phát triển
kinh tế cần tuân theo nguyên tắc tự do. Sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế là do các quy luật khách quan tự phát chi phối sự hoạt động của thị trường, là do quan hệ cung

tương đối, sự giảm cầu tiêu dùng sẽ kéo theo sự giảm sút của hàng hoá, từ đó làm cho
tỷ suất lợi nhuận giảm xuống. Và khi tỷ suất lợi nhuận nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì
các chủ doanh nghiệp sẽ không có lợi trong việc vay vốn để đầu tư, họ sẽ không đầu tư
vào sản xuất kinh doanh nữa. Điều này sẽ dẫn đến nền kinh tế từ chỗ trì trệ, khủng
hoảng và làm cho nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng. Để khắc phục tình trạng đó, Nhà
nước phải can thiệp vào nền kinh tế và thị trường, phải huy động được các nguồn tư
bản nhàn rỗi để mở mang các hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc
làm và tăng thu nhập cho dân cư, làm cho nhu cầu về cầu tăng lên, giá cả hàng hoá
tăng, thu nhập tăng, tăng hiệu quả của tư bản đầu tư. Điều đó khuyến khích mở rộng
đầu tư làm cho sản xuất tăng nhanh nhờ đó mà có điều kiện đẩy lùi khủng hoảng và
tình trạng thất nghiệp.
J.M Keynes và trường phái của ông cho rằng Nhà nước can thiệp vào kinh tế cả
tầm vi mô và vĩ mô. ở tầm vĩ mô, Nhà nước sử dụng các công cụ như lãi suất, chính
sách tín dụng, điều tiết lưu thông tiền tệ, lạm phát, thuế, bảo hiểm, trợ cấp, đầu tư phát
triển, ở tầm vi mô Nhà nước trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh và dịch vụ công cộng.
Trường phái Keynes cho rằng sự can thiệp của Nhà nước là tuyệt đối không một
cá nhân nào có thể thay thế.
3-/ Quan điểm hỗn hợp của Paul Samuelson - Sự phối hợp giữa “Bàn tay vô hình”
và “Bàn tay hữu hình”:
Paul Samuelson nhà kinh tế học người Mỹ thuộc trường phái hiện đại. Ông có tư
tưởng kết hợp “Bàn tay vô hình” với chức năng quản lý kinh tế Nhà nước để điều tiết nền
kinh tế thị trường. Ông cho rằng điều hành một nền kinh tế không có cả Chính phủ lẫn thị
trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay. Cơ chế thị trường xác định giá cả trong
nhiều lĩnh vực trong khi Nhà nước điều tiết thị trường bằng các chương trình thuế, chi tiêu
và luật lệ. Cả thị trường có tầm quan trọng ngang nhau. Sự phối hợp đó tạo nên nền kinh
tế hỗn hợp. 4-/ Trường phái “Kinh tế thị trường xã hội”:

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thì sự khác nhau thể hiện ở những
điểm sau đây:
Một là, các nhà nước trước CNTB, vai trò kinh tế chủ yếu là đặt ra chế độ thuế
khoá - một chế độ đóng góp có tính cưỡng bước để nuôi sống Bộ máy cai trị thực hiện
chức năng đối nội, điều hoà giai cấp, điều hoà sự xung đột và “Giữ cho sự xung đột đó
nằm trong vòng trật tự” nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị. Nguồn thu của
thuế khoá còn nhằm thực hiện chức năng đối ngoại, bảo vệ lãnh thổ theo đó là bảo vệ
lợi ích và mở rộng lợi ích của giai cấp thống trị khỏi bị xâm lược hoặc bị mất đi ở
nước ngoài.
Hai là, đến Nhà nước tư sản vai trò kinh tế của Nhà nước không dừng lại ở thuế
khoá, không chỉ đơn thuần là cơ quan cai trị ở bên ngoài. Bên trên quá trình sản xuất
như F. Ăngghen đã nhận xét: “Nền văn mình mà tiến lên thì bản thân thuế má là không
đủ nữa, Nhà nước phát hành hối phiếu, vay nợ tức là phát hành công trái” (C. Mác -
Ăngghen tuyển tập, tập V).
Và sự xuất hiện sở hữu Nhà nước đã làm cho Nhà nước bắt đầu ở bên trong quá
trình sản xuất. Nhà nước là: “Nhà tư bản tập thể lý tưởng. Nhà nước ấy càng chuyển nhiều
lực lượng sản xuất thành tài sản của nó bao nhiêu thì nó lại càng biến thành tư bản tập thể
thực sự bấy nhiêu và càng bóc lột công nhân bấy nhiêu”. (“Chống Đuy-ring” - C. Mác -
Ăngghen, tập V - NXB Sự thật, 1982).

chương II
những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường

I-/ Ưu, nhược điểm của nền kinh tế thị trường:
1-/ Ưu điểm:
Khi chúng ta nói được nhược điểm của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
tức là ta đã chứng minh được rằng kinh tế thị trường có tiến bộ hơn, như vậy thì tiến

Thứ ba, không kể tới nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế có nhiều hàng hoá
và dịch vụ. Đó là một nền kinh tế dư thừa chứ không phải thiếu hụt. Do nền kinh tế thị
trường tạo điều kiện vật chất để thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất, văn hoá
và sự phát triển toàn diện của con người.
Thứ tư, đó là nơi thúc đẩy xã hội hoá và tập trung dân chủ cao, phân phối thu
nhập hợp lý. Đúng theo nguyên tắc làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm
không hưởng.
Nhưng những mặt tốt của nó lại đi kèm những nhược điểm mà nó được gọi là
những mặt trái của nền kinh tế thị trường.
2-/ Mặt trái của nền kinh tế thị trường:
Thứ nhất, nếu nói rằng thị trường là nơi mà các thông tin phải rất nhạy bén và
chính xác thì chỉ cần một thông tin lệch lạc hay sự “lỡ” sản xuất dẫn đến sản xuất mù
quáng gây ra các cuộc khủng hoảng thừa và thiếu nghiêm trọng, có những lúc thị
trường khan hiếm, nhưng có nhiều lúc lại quá thừa dẫn đến tình trạng đổ đi một cách
quá lãng phí.
Thứ hai, chính thị trường cạnh tranh đó làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
không theo kịp và tất nhiên sẽ có quá nhiều doanh nghiệp phải đi đến phá sản, phải
đào thải công nhân, thất nghiệp tràn lan, dẫn đến các tệ nạn xã hội tăng lên đáng kể
như: nghiện hút, cơ bạc,
Thứ ba, cũng chỉ vì theo đuổi mục đích tối đa lợi nhuận mà các hãng kinh doanh
sẽ chỉ đầu tư vào những ngành có lợi nhuận cao mà không quan tâm đến sự phát triển kinh tế như thế nào dẫn đến nền kinh tế có sự không cân đối giữa các ngành dịch vụ
gây ra sự mất cân bằng.
Thứ tư, khi gắng gia tăng sản lượng cao nhất vô tình con người đã thải ra môi
trường một lượng chất thải vượt xa với lượng chất thải mà môi trường có thể tự phân
huỷ, bởi vậy ô nhiễm môi trường một cách nặng nền hơn thế có thể làm ảnh hưởng tới
cuộc sống hay sức khoẻ con người sự tàn phá thiên nhiên một cách tàn nhẫn.
Thứ năm, ta không thể không nói đến vấn đề “độc quyền” trong nền kinh tế thị

doanh nghiệp. Riêng kinh tế hợp tác tự nguyện được khuyến khích và hỗ trợ. Làm sao
cho các thành phần kinh tế phải được công bằng trước pháp luật.
Thứ ba, giá tự do tức giá thị trường, tự do hoá thương mại (ban đầu ở trong nước
dần dần mở rộng ra thị trường ngoài nước) và cạnh tranh tạo mọi khả năng cho thị
trường phát huy vai trò tự điều chỉnh sản xuất kinh doanh và cung cầu hàng hoá.
Sự sai lầm của chúng ta trong cơ chế cũ là Nhà nước quy định giá cho các mặt
hàng, giá cả cứng nhắc, tiền lương thực tế không thay đổi khi gia tăng làm ảnh hưởng
rõ rệt đến nền kinh tế là lạm phát quá cao gây lộn xộn mất ổn định của nền kinh tế. Và
bây giờ khi chuyển sang một nền kinh tế mới, hơn hết chúng ta hãy để thị trường,
doanh nghiệp tự quyết định hành vi của mình mà cho giá cả phù hợp cũng như tuỳ
thuộc vào lượng cung cầu mà sản xuất kinh doanh. Thấy rõ khi cung lớn cầu ta phải
ngừng sản xuất ngay để tiêu thụ hết tất cả các sản phẩm tồn kho, để tránh khủng hoảng
thừa hay để lợi ích cận biên giảm. Khi cầu lớn hơn cung giá cả sẽ tăng và các hãng
doanh nghiệp rất muốn mở rộng quy mô sản xuất.
Tuy rằng xã hội luôn mong muốn cầu và cung ở trạng thái cân bằng để tránh gây
suy thoái hay gây lạm phát bằng các chính sách, các hình thức kinh tế, các hoạt động
kinh tế, luật pháp, chế độ phân phối mà điều tiết cũng như hạn chế sao cho phù hợp.
Các hình thức trợ giá hay phát hành cổ phiếu, để hạn chế mặt trái của thị trường.
Thứ tư, trong khi điều hành nền kinh tế đừng đưa những quy định cứng nhắc, bảo
thủ, cần hạn chế tối đa các mệnh lệnh hành chính để làm sao đưa nền kinh tế thị trường
đúng như quy luật của thị trường tức là diễn ra theo các quy luật: quy luật cung cầu,
quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh nhằm diễn ra theo nguyên tắc vận hành chủ yếu.
Nhưng không vì vậy mà ta bỏ mặc nền kinh tế thích ra sao thì ra mà vẫn phải có sự
quản lý của Nhà nước để chỉnh hướng đi theo nền kinh tế có kế hoạch, có mục tiêu kinh tế xã hội. Bởi vậy ta không nên cô lập thị trường mà nên kết hợp nền kinh tế kế
hoạch và nền kinh tế thị trường để đảm bảo chính sách kinh tế của nước nhà, suy cho
cùng nền kinh tế thị trường không phải là vạn năng, có nhiều cái nó không thể làm
được. Tầm quan trọng của kế hoạch ở năng lực điều chỉnh hành vi của nó, đó là khi ta

Mỗi vấn đề đặt ra đều có những mục tiêu riêng của nó. Vậy thì khi ta nghiên cứu sự
quản lý vĩ mô của Nhà nước ta sẽ có những mục tiêu nào để từ đó đưa ra các chính sách
cũng như các biện pháp quản lý hợp lý và đúng đắn nhất.
1-/ Mục tiêu phân bố nguồn lực có hiệu quả:
Để phân bố có hiệu quả Nhà nước phải dựa vào những công cụ kế hoạch định sự
phát triển toàn diện nền kinh tế, thông qua các công cụ này Nhà nước có thể nắm bắt
được tất cả các yếu tố cung cũng như cầu, trạng thái nền kinh tế, đặc điểm từng vùng
để hướng tới sự phân bố, định hướng về quy mô và sản lượng từng vùng để xử lý
nguồn lực đang có một cách tốt hơn. Xác định quy mô từng vùng để có khả năng phát
triển tốt nhất các mặt mạnh của vùng đó, đặc trưng và tài nguyên. Bởi vậy hiện nay
cũng có rất nhiều vùng khác nhau có mũi nhọn như: than, lúa, sắt, từ đó Nhà nước có
thể cung cấp vốn, kỹ nghệ, sức lao động để sử dụng có hiệu quả nhất. Và đây cũng
chính là công cụ để Nhà nước có thể khẳng định được ý đồ cũng như mục đích của
mình trong tất cả các lĩnh vực, công cộng, khoa học, kỹ thuật, kinh tế, giảm bớt rủi ro
với các thành phần kinh tế đảm bảo các hoạt động đi vào guồng máy hơn, tạo sự hài
hoà thống nhất các khu vực với nhau.
2-/ Mục tiêu phân bố công bằng sản phẩm làm ra và giải quyết tốt vấn đề xã hội:
a-/ Phương pháp cân bằng:
Để đảm bảo phân bố công bằng và giải quyết tốt các vấn đề xã hội Nhà nước có
chức năng phân phối thông qua sự điều tiết kinh tế. Phân phối theo chủ sở hữu, phân
phối theo lợi nhuận, phân phối theo lao động một cách công bằng nhất, ai làm người
đó hưởng, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Nhà nước phải đại diện cho quyền lợi nhân dân lao động. Tuy nhiên Nhà nước vẫn phải trợ cấp cho các người già, thương
binh, bảo hiểm, công nghệ bằng các chính sách tiền tệ nhằm hạn chế tối đa sự bất bình
đẳng, bất công bằng trong xã hội. Ngoài ra Nhà nước còn áp dụng các chính sách kinh
tế khác như: chính sách thuế, chính sách phân phối lợi nhuận, chính sách lãi suất.
b-/ Giáo dục:
Cùng với sự phân phối cân bằng thì giải quyết các vấn đề xã hội cũng là mục tiêu

Vai trò nhà nươc trong nền kinh tế thị trường được thực hiện thông qua các chức
năng cơ bản sau:
1-/ Thiết lập khuông khổ pháp luật:
Chức năng này có ý nghĩa quan trọng đối vói sự phát triển kinh tế mà cá doanh
nghiệp, người tiêu dùng và cả bản thân chính phủ đều phải tuân thủ. Nó bao gồm qui
định về tài sản, các qui tắc về hợp đồng và hoạt động kinh doanh, các trách nhiệm
tương hỗ của các liên đoàn lao động, ban quản lý và nhiều luật lệ để xác định môi
trường kinh tế.
Về nhiều mặt, các quyết định của khuôn khổ pháp luật xuất phát từ những mối
quan hệ vượt ra ngoài lĩnh vực kinh tế đơn thuần. Các luật lệ đưa ra nhằm đáp ứng
những giá trị và quan điểm được đồng tình rộng rãi về sự công bằng hơn là qua một sự
phân tích kinh tế được mài dũa rất cẩn thận về chi phí và lợi lộc. Nhưng khuôn khổ
pháp luật có thể tác động sâu sắc tơi các ứng xử kinh tế của con người.
2-/ Hiệu quả:
Nhà nước sửa chữa những khiếm khuyết của thị trường để thị trường hoạt động có
hiệu quả như: Hạn chế ảnh hưởng của động quyền, tình trạng vô chính phủ dẫn đến khủng
hoảng kinh tế, thất nghiệp, nạn ô nhiễm môi trường
Trước hết, những thất bại mà thị trường gặp phải làm cho hoạt động của nó
không hiệu quả là ảnh hưởng của độc quyền. Cần phải nói rằng, lợi dụng ưu thế của
mình, các tổ chức độc quyền có thể qui định giá để thu lợi nhuận, và do vậy phá vỡ ưu
thế cạnh tranh hoàn hảo. Vì vậy cần phải có sự can thiệp của Nhà nước để hạn chế độc quyền, đảm bảo tính hiệu quả cạnh tranh thị trường. Điều đó đảm bảo được ganh đua
của những người kinh doanh, đảm bảo tính hiệu quả của nền kinh tế.
Song song cạnh tranh không hoàn hảo hay độc quyền thì một người cạnh tranh
không hoàn hảo có thể làm thay đổi giá cả của mặt hàng nào đó. Vì người độc quyền
trên thực tế là người duy nhất cung cấp một mặt hàng cụ thể nào đó. Vì vậy có khả
năng qui định giá cao để thu hút siêu lợi nhuận. Tình trạng đó làm cho giá cả cao hơn
mức hiệu quả, làm biến dạng về cầu và xuất hiện siêu lợi nhuận. Tình trạng đó làm cho

trật tự trong nước nên không thể giao cho tư nhân được. Vì vậy nhà nước cần phải sản
xuất hàng hoá công cộng.
Thứ ba, là thuế. Trên thực tế phần chi phí của Chính phủ phải được trả giá bằng
thuế thu được. Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật thuế. Sự thực là toàn bộ công
dân tự mình phải đặt gánh nặng thuế lên mình và mỗi công dân cũng phải được hưởng
phần hàng công cộng do Chính phủ cung cấp.
Như vậy Nhà nước phải can thiệp vào thị trường để nâng cao hiệu quả của thị
trường. Nhà nước đề ra luật đi đường và đảm bảo hàng hoá công cộng như đường sá,
do đó tạo điều kiện dễ dàng cho tư nhân hoạt động, ngăn cản sự lạm dụng của các
doanh nghiệp khi họ trở thành những kẻ tham lam, độc quyền chiếm đường và kiềm
chế hoạt động của các doanh nghiệp khác.
3-/ Đảm bảo sự công bằng
Mục đích của chức năng này là để vừa đảm bảo ổn định xã hội, vừa không làm
triệt tiêu tính tích cực sản xuất kinh doanh của các thành viên trong xã hội. Để thực
hiện chức năng này, một mặt, Nhà nước phải tạo ra những cơ sở về tổ chức để mọi
người có cơ hội ngang nhau và đều được hưởng phần tương xứng với kết quả lao động
và phần đóng góp của mình; mặt khác, trong điều kiện hoạt động hoàn hảo nhất, lý
tưởng nhất của cơ chế thị trường, vẫn thấy rằng sự phân hoá, bất bình đẳng sinh ra từ
kinh tế thị trường là tất yếu. Một hệ thống thị trường có hiệu quả vẫn có thể gây ra sự
bất bình đẳng lớn. Vì vậy, chính sách để phân phối lại thu nhập. Công cụ quan trọng
nhất của Chính phủ trong lĩnh vực này là thuế thu nhập, thuế người giầu theo tỷ lệ thu nhập lớn hơn người nghèo. Thông thường là thuế luỹ tiến áp dụng cho thuế thu nhập
và thuế thừa kế.
Bên cạnh thuế, phải có hệ thống hỗ trợ thu nhập để giúp đữ cho người già, người
tàn tật, người phải nuôi con và bảo hiểm thất nghiệp cho người không có công ăn việc
làm. Hệ thống thanh toán chuyển nhượng này tạo ra mạng lưới an toàn cho những
người không may khỏi bị huỷ hoại về kinh tế.
Cuối cùng, Chính phủ đôi khi phải trợ cấp tiêu dùng cho những nhóm có thu

hoặc là dẫn đến chi tiêu tốn kém, tạo ra bộ máy quan liêu cồng kềnh kém hiệu lực hoặc
là làm cho nền kinh tế rối ren, dẫn đến tình trạng quản lý kém hiệu quả của Nhà nước.
Từ sự phân tích trên đây có thể đi đến một ssó nhận xét có ý nghĩa phương pháp
luận đối với việc thiết lập cơ chế điều hành nền kinh tế thị trường là:
Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, ở các mức độ khác nhau cơ chế
điều tiết kinh tế có hiệu quả là cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước
hay là cơ chế kinh tế hỗ hợp.
Thứ hai, việc vận dụng cơ chế hỗn hợp phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội
của mỗi nước, vào hệ tư tưởng, quan điểm phát triển được nghiên cứu một cách khoa
học của mỗi dân tộc.
Thứ ba, trong sự phát triển kinh tế thị trường cần coi trọng tự do kinh doanh, đảm
bảo tính tự chủ của nhà kinh doanh (được tự do đầu tư, lựa chọn thị trường, cung cầu,
giá cả). Sự áp đặt của Nhà nước về giá cả thị trường sẽ làm sai lệch sự phát triển theo
qui luật, gây ra những tổn thất, thiệt hại và hạn chế sự phát triển năng động của nền
kinh tế,
Thứ tư, trong nền kinh tế thị trường, sự can thiệp của Nhà nước chủ yếu thông
qua việc hoạch định các chiến lược phát triển, các công cụ kinh tế vĩ mô, đặc biệt là
chính sách tài chính, tiền tệ, điều tiết thu nhập, chính sách đầu tư, tích luỹ, tiết kiệm
tiêu dùng.
Thứ năm, cuối cùng nhà nước phải xây dựng được một hệ thống luật pháp hoàn
chỉnh tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế, phải nâng cao năng lực điều hành vĩ mô
nền kinh tế của nhà nước. III-/ Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường:
Khi nước ta chuyển từ một nước tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường vai trò của Nhà nước cần phát huy hơn bao giờ hết. Khi là nền kinh tế thị
trường thì vai trò của Nhà nước không thể thiếu được - nó là nơi sẽ trả lời những câu
hỏi ai sẽ là người can thiệp, điều khiển nền kinh tế, hạn chế những tật xấu của nền kinh
tế thị trường,

Trong nền kinh tế của chúng ta hiện nay các doanh nghiệp được quyền lựa chọn
phương án sản xuất kinh doanh Nhà nước không can thiệp vào họ sản xuất cái gì? sản
xuất như thế nào và sản xuất bằng cách nào, tiêu thụ ở đâu. Các doanh nghiệp khi sản
xuất họ đã dựa vào “lợi nhuận” để đề ra sự lựa chọn sao cho lợi nhuận tối đa. Và chính
vì điều này mà gây sự cạnh tranh các doanh nghiệp với nhau, dẫn đến môi trường phá
huỷ, kinh tế không phát triển.
Nhà nước can thiệp bằng cách đưa ra các luật, chia xẻ pháp luật định hướng ta
cần phát triển như thế nào và phát triển cái gì làm chủ đạo. Nhà nước không theo đuổi
mục tiêu lợi nhuận mà chỉ vươn tới một xã hội ổn định hơn.
Định hướng cho các doanh nghiệp là định hướng sự phát triển của nền kinh tế là
thống nhất các lợi ích khác nhau sao cho mỗi người theo đuổi lợi ích cá nhân của mình
nhưng cũng đồng thời góp phần của mình theo đuổi lợi ích dân tộc bằng việc hoạch
định các chính sách theo cơ cấu ngành, vùng, lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên để mang
tính định hướng cao hơn.
ở nước ta khi định hướng “theo hướng phát triển thay thế nhập khẩu” không có
hiệu quả. Thì năm 1969 các nước ASEAN đã đề ra một chiến lược hoàn toàn mới là
phát triển theo hướng xuất khẩu. Sự thay thế này là sự khôn ngoan của Chính phủ của
tất cả các nước ASEAN nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn và công nghệ tiên tiến từ bên
ngoài vào việc khai thác tiềm năng của mỗi nước, tập trung vào phát triển các ngành
công nghiệp có thể xuất khẩu được để từng bước cạnh tranh và chiếm lĩnh trên thị
trường thế giới. Các ngành công nghiệp khai khoáng và ngành công nghiệp chế biến
hướng vào xuất khẩu do đó có điều kiện phát triển nhanh chóng quá trình phát triển
kinh tế đối ngoại. Chiến lược này vừa phù hợp với nhu cầu đầu tư và chuyển giao công
nghệ đến các nước đang phát triển của các nước phát triển. Sau khi lựa chọn chiến lược phát triển đúng đắn Nhà nước đều đề ra các chương
trình phát triển kinh tế xã hội nhằm dẫn dắt, khuyến khích mọi thành phần kinh tế
hướng vào mục tiêu đề ra.
Sự dẫn dắt của Nhà nước với những chiến lược đúng đắn sẽ là bước vững chắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status