Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay - Pdf 29

Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 1 Lớp: K33B - GDCD

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khoá luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em
đã được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè. Trước tiên, em xin bày tỏ lời cảm
ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Trần Thị Hoa Lý, người đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục Chính trị
đã giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua và tạo điều kiện để em hoàn
thành khoá luận này.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân,
nên khoá luận khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu, em
kính mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Ma Văn Kiên

Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 2 Lớp: K33B - GDCD

LỜI CAM ĐOAN



MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Lý luận chung về quy luật giá trị 4
1.1. Nội dung, yêu cầu của quy luật giá trị 4
1.2. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 7
1.3. Vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 25
Chương 2: Phương hướng và một số giải pháp nhằm phát huy vai
trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 31
2.1. Phương hướng nhằm phát huy vai trò của quy luật giá trị trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta 32
2.2. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của quy luật giá trị trong
nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay 38
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 4 Lớp: K33B - GDCD



Xuất phát từ những thực tế nêu trên, em thấy việc xem xét, tìm hiểu để
nhận thức đúng về quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị đối với nền
kinh tế thị trường ở nước ta, để từ đó có những biện pháp để phát huy có hiệu
quả vai trò đó là hết sức quan trọng. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Một số
giải pháp nhằm phát huy vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khoá
luận của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của quy luật giá trị trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Qua
đó vận dụng quy luật giá trị vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước
trong thời kỳ đổi mới.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quy luật giá trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế
thị trường, nó là quy

luật kinh tế căn bản chi phối sự vận động của nền kinh tế
thị trường. Sự tác động của quy luật giá trị một mặt thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế, mặt khác gây ra các hậu quả tiêu cực… Đối với nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, quy luật giá trị
đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Vì thế trong những năm gần đây đã có rất
nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Song các tác giả chỉ đi sâu nghiên
cứu, phân tích, vị trí, vai trò của quy luật giá trị nói chung, chưa có tác giả nào
đi vào nghiên cứu cụ thể về vai trò và giải pháp để phát huy tính tích cực của
quy luật giá trị.
4. Phương pháp nghiên cứu của khoá luận
Khoá luận sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và các phương pháp nghiên cứu khác như: tổng hợp - phân tích, logic - lịch
sử… để giải quyết các nhiệm vụ đã đặt ra.


Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 7 Lớp: K33B - GDCD

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ

1.1 . Nội dung, yêu cầu của quy luật giá trị
Tất cả các hoạt động kinh tế của con người đều chịu sự tác động của quy
luật kinh tế nào đó. Quy luật giá trị là một trong những quy luật kinh tế có tác
động mạnh đến các hoạt động kinh tế của con người. Quy luật giá trị là quy
luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá, biểu hiện khách quan
của việc định hướng nền sản xuất và trao đổi hàng hoá theo các quan hệ tỷ lệ
phản ánh hao phí lao động xã hội cần thiết. Quy luật giá trị là hình thức biểu
hiện các hao phí đó trên cơ sở quy tất cả các loại lao động cụ thể thành lao
động trừu tượng và quy lao động phức tạp thành lao động giản đơn. Giá trị là
phương thức điều tiết các mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá
trong quá trình trao đổi hoạt động.
Quy luật giá trị hoạt động trong các hình thái xã hội khác nhau và trong
hệ thống các mối quan hệ của mỗi hình thái. Quy luật đó không thuộc về quy
luật biểu hiện bản chất xã hội cơ bản của một hình thái xã hội nào, các biểu
hiện của nó phụ thuộc vào quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất
nhất định.
Quy luật giá trị là quy luật của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Sản xuất
và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở lượng giá trị hàng hoá, tức là căn cứ
vào thời gian lao động xã hội cần thiết. Quy luật giá trị quy định việc sản xuất
và trao đổi hàng hoá phải tiến hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội tất yếu.
Có nghĩa là, giá trị hàng hoá do lao động trừu tượng của người sản xuất hàng

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa và ở nước ta.
Ta xét mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền với
giá trị hàng hoá. Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá trị là
cơ sở của giá cả.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 9 Lớp: K33B - GDCD

Trong điều kiện sản xuất hàng hoá, giá cả hàng hoá tự phát lên xuống
xoay quanh giá trị tuỳ theo quan hệ cung cầu, cạnh tranh và sức mua của đồng
tiền. Sự hoạt động của quy luật giá trị biểu hiện ở sự lên xuống của giá cả trên
thị trường. Tuy vậy, sự biến động của giá cả vẫn còn có cơ sở là giá trị, mặc
dầu nó thường xuyên tách rời giá trị. Điều đó có thể hiểu theo hai mặt:
Thứ nhất, không kể quan hệ cung cầu như thế nào, giá cả không tách
rời giá trị xã hội.
Thứ hai, nếu nghiên cứu sự vận động của giá cả trong một thời gian dài
thì thấy tổng số giá cả bằng tổng số giá trị, vì bộ phận vượt quá giá trị sẽ bù
vào bộ phận giá cả thấp hơn giá trị (giá cả ở đây là giá cả thị trường. Giá cả
thị trường là giá cả sản xuất giữa người mua và người bán thoả thuận với
nhau). Giá cả sản xuất là hình thái biến tướng của giá trị, nó bằng chi phí sản
xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân.
Trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh do hình thành tỷ suất lợi nhuận
bình quân nên hàng hoá không bán theo giá trị mà bán theo giá cả sản xuất.
Giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất không phải là phủ nhận
quy luật giá trị mà chỉ là biểu hiện cụ thể của quy luật giá trị trong giai đoạn
tư bản tự do cạnh tranh. Qua hai điểm dưới đây ta sẽ thấy được điều đó:
Thứ nhất, tuy giá cả sản xuất của hàng hoá thuộc ngành cá biệt có thể
cao hơn hoặc thấp hơn giá trị nhưng tổng số giá trị sản xuất của toàn bộ hàng
hoá của tất cả các ngành trong toàn xã hội đều bằng tổng giá trị của nó. Tổng

1.2. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Kinh tế thị trường là sự phát triển cao hơn của kinh tế hàng hoá, mà
hình thái của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để trao đổi trên thị trường.
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế khách quan, do trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất quyết định, trong đó toàn bộ quá trình từ sản xuất đến trao
đổi, phân phối và tiêu dùng đều thực hiện thông qua thị trường.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 11 Lớp: K33B - GDCD

Mô hình kinh tế Việt Nam được xác định là nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Nói đến kinh tế thị trường định hường xã hội chủ nghĩa có nghĩa là nền
kinh tế của chúng ta không phải là mô hình kinh tế quản lý theo kiểu tập trung
quan liêu bao cấp như trước đây nhưng đó cũng không phải là nền kinh tế thị
trường tự do giống như các nước tư bản. Tức là không phải thị trường tư bản
chủ nghĩa, cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Chúng
ta đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đan xen đấu
tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa có đầy đủ yếu tố xã hội chủ
nghĩa.
Hiện nay nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở tình trạng kém phát
triển, cơ sở vật chất còn lạc hậu, thấp kém; nền kinh tế ít nhiều mang tính tự
cấp, tự túc. Tuy nhiên, nước ta không lặp lại hoàn toàn quá trình phát triển
kinh tế của các nước đi trước: kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển lên kinh tế
thị trường tự do rồi từ kinh tế thị trường tự do chuyển lên kinh tế thị trường
hiện đại. Nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội
chủ nghĩa theo kiểu rút ngắn. Điều này có nghĩa là phải đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, trong

- Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất
hàng hoá chẳng những không mất đi mà trái lại còn được phát triển cả chiều
rộng lẫn chiều sâu. Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương
ngày càng phát triển. Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở
tính phong phú đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao
đổi trên thị trường.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 13 Lớp: K33B - GDCD

- Trong nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu. Đó là: sở
hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân (gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu
chủ, sở hữu tư bản tư nhân), sở hữu hỗn hợp. Do đó, tồn tại nhiều chủ thể
kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực
hiện bằng quan hệ hàng hoá - tiền tệ.
Thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể tuy cùng dựa trên chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt
nhất định có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, có lợi ích riêng. Mặt
khác, các đợn vị kinh tế còn có sự khác nhau về trình độ kỹ thuật - công nghệ,
về trình độ tổ chức quản lý, nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng
khác nhau.
Quan hệ hàng - hoá tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại
đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày càng
sâu sắc vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt, là người chủ sở hữu đối với
các hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới. Sự trao đổi ở đây phải
theo nguyên tắc ngang giá.
Như vậy, nền kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu khách
quan không thể lấy ý chí chủ quan mà xoá bỏ được.
1.2.1.2. Sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa tư bản nhân dân”, “nhà nước phúc lợi chung”… Nhưng do mâu thuẫn
từ trong bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể tự giải quyết được, có
chăng nó chỉ tạm thời xoa dịu được chừng nào mâu thuẫn mà thôi. Nền kinh
tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại đang ngày càng thể hiện xu hướng tự
phủ định và tự tiến hoá để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp
theo xu hướng xã hội hoá. Đây là tất yếu khách quan, là quy luật phát triển
của xã hội. Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát
không thể dừng lại ở kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 15 Lớp: K33B - GDCD

Thứ hai, mô hinh chủ nghĩa xã hội kiểu Xô - Viết là một kiểu tổ chức
xã hội, tổ chức kinh tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa
tư bản, muốn nhanh chóng xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một
phương thức sản xuất văn minh, hiên đại hơn chủ nghĩa tư bản. Đó là ý tưởng
tốt đẹp và trên thực tế suốt hơn 70 năm tồn tại chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã
đạt được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt đất nước và đời sống
của nhân dân Liên Xô. Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật (muốn xoá
bỏ ngay kinh tế hàng hoá áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thị trường), không
năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cuộc đã không thành
công.
Thực ra khi mới vận dụng học thuyết Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười, V.Lênin cũng đã từng chủ
trương không áp dụng mô hình kinh tế thị trường mà thực hiện “chính sách
cộng sản thời chiến”. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Người đã phát hiện
sai lầm, khắc phục sự nóng vội bằng cách đưa ra thực hiện “chính sách kinh tế
mới” (NEP) mà nội dung cơ bản của nó là khuyến khích phát triển kinh tế
hàng hoá, chấp nhận ở mức độ nhất định kinh tế thị trường. Theo V.Lênin, để

xã hội còn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là
mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát
vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa
xã hội bằng cách nào? Đó là một câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời
thật không đơn giản. Suốt thời gian dài Việt Nam cũng như nhiều nước khác
đã áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp. Mô hình
này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu thời
kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết
điểm và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên
nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối
suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn trọng quy luật khách
quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tiễn Việt Nam.
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 17 Lớp: K33B - GDCD

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và dầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm
thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là
quan niệm về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ
cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị
trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và khẳng định
chuyển sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết
hợp lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện phát huy nhân
tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại hội VI là một cột
mốc đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức của Đảng về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả

1.2.1.3. Tác dụng to lớn của sự phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nền kinh tế nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn
mang nặng tính tự cấp, tự túc. Vì vậy, sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ
dần kinh tế tự nhiên và chuyển thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy xã hội
hoá sản xuất.
Kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Do cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá, buộc mỗi chủ thể sản
xuất phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để giảm chi
phí sản xuất đến mức tối thiểu, nhờ đó có thể cạnh tranh được cả về giá cả,
đứng vững trong cạnh tranh. Quá trình đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển, nâng cao năng suất lao động xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất phải căn cứ vào nhu cầu
của người tiêu dùng, của thị trường để quyết định sản xuất sản phẩm gì? Với
khối lượng bao nhiêu? Chất lượng như thế nào? Do đó, kinh tế hàng hoá kích
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 19 Lớp: K33B - GDCD

thích tính năng động sáng tạo của chủ thể kinh tế, kích thích việc nâng cao
chất lượng, cải tiến mẫu mã, cũng như tăng khối lượng hàng hoá và dịch vụ.
Sự phát triển của kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập
trung sản xuất, do đó tạo điều kiện ra đời cho sản xuất lớn. Có xã hội hoá cao,
đồng thời chọn lọc được những người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành
đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế của đất nước.
Phân công lao động xã hội là điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất
hàng hoá, đến lượt nó sự phát triển kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy sự phân
công lao động xã hội. Vì thế mà phát huy được tiềm năng, lợi thế của từng

Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã
hội, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị
trường trong thời đại mới. Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính
quy luật phát triển của thời đại và sự khái quát đúc kết rút từ kinh nghiệm
phát triển kinh tế thị trường thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam và Trung Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị
trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Nói đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa đây
không phải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không
phải là kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu và cũng chưa
hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đang ở trong thời
ký quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa có, vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của
chủ nghĩa xã hội.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích
cực của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội
hoá lao động, cải thiện kỹ thuật - công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 21 Lớp: K33B - GDCD

tạo ra nhiều của cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân
dân. Đồng thời, phải có những biện pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh
tế thị trường như: chạy theo lợi nhuận, cạnh tranh, phân hoá giàu nghèo…
Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở
quán triệt lý luận Mác - Lênin, nắm bắt đúng đắn quy luật khách quan và vận
dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam.

chủ, sở hữu tư nhân tư bản). Từ ba loại hình sở hữu cơ bản đó hình thành nên
nhiều thành phần kinh tế. Đó là: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư
nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó
kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế nói trên đều tộn
tại một cách khách quan và là những bộ phận cần thiết của nền kinh tế trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, phát triển kinh tế thị trường nhiều
thành phần là một tất yếu đối với nước ta. Chỉ có như vậy chúng ta mới khai
thác được mọi nguồn lực kinh tế, nâng cao được hiệu quả kinh tế, phát huy
được tiềm năng của các thành phần kinh tế vào phát triển chung nền kinh tế
của đát nước nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân.
Do đó, không chỉ củng cố và phát triển các thành phần kinh tế dựa trên
chế độ công hữu là thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể, mà còn
phải khuyến khích các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu phát triển để
hình thành nền kinh tế thị trường rộng lớn bao gồm các đợn vị kinh tế thuộc
chế độ tư hữu, các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữu, các hình thức hợp
tác liên doanh giữa trong và ngoài nước… Các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành
phần đều bình đẳng với nhau trước pháp luật, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với
nhau để phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước ta, kinh tế Nhà
nước giữ vai trò chủ đạo. Việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước là
vấn đề có tính nguyên tắc và là sự khác biệt có tính bản chất giữa kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta đã
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 23 Lớp: K33B - GDCD

quyết định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần. Bởi lẽ mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở kinh tế tương ứng

nhập giữa chúng. Mỗi chế độ sở hữu có nguyên tắc (hình thức) phân phối
tương ứng với nó, vì thế trong thời kỳ quá độ tồn tại cơ cấu đa dạng về hình
thức phân phối đóng góp vốn (thu nhập).
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, tồn tại các hình thức phân phối
thu nhập sau: phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế; phân phối
theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua
phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với
phát triển văn hoá và giáo dục, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng
phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Sự khác biệt căn bản giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là ở chỗ xác lập chế độ công hữu
và thực hiện phân phối theo lao động. Phân phối theo lao động là đặc trưng,
bản chất của kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nó là hình thức
thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu. Vì thế, phân phối theo lao động
phải được xác định là hình thức phân phối chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội.
Nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa chứ không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Chúng ta lấy
phát triển kinh tế thị trường là phương tiện để đạt mục tiêu cơ bản xây dựng
chủ nghĩa xã hội, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Vì vậy, mỗi bước tăng trưởng kinh tế của nước ta phải gắn liền với cải
thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội. Việc phân phối
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trần Thị Hoa Lý SVTH: Ma Văn Kiên 25 Lớp: K33B - GDCD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status