TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
LÒ THỊ MY
SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ - CỤ THỂ
VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ HỒNG LOAN
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo –TS. Trần Thị
Hồng Loan đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị
cùng các thầy cô trong trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho
em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của bản thân.
Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng
nhƣ kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót,
kính mong sự chỉ bảo của các thầy, cô cũng nhƣ các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 05 năm 2015
Ngƣời thực hiện
TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ - CỤ THỂ ................. 43
3.1 Đảng và Nhà nƣớc tiếp tục đổi mới chính sách kinh tế xã hội để nền
kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa phát triển hơn ................... 43
3.2 Tiếp tục thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần với vai trò chủ
đạo của thành phần kinh tế nhà nƣớc ........................................................... 46
3.3 Phát triển kinh tế thị trƣờng nƣớc ta theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa ..... 50
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 54
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đứng trƣớc xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, Việt
Nam với xuất phát điểm là một nƣớc nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn
phá nặng nề, vì thế, đi lên chủ nghĩa xã hội chính là mục tiêu, là khát vọng
của cả dân tộc Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ về chủ nghĩa xã hội và con
đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986)
đã đề ra đƣờng lối đổi mới toàn diện đất nƣớc, trong đó thừa nhận sự tồn tại
khách quan của sản xuất hàng hoá, nền kinh tế thị trƣờng và đề ra chủ trƣơng
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trƣờng
có sự quản lý của nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa, quyết định xoá bỏ mô hình kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp, đến Đại hội IX với tên gọi kinh tế thị trƣờng
định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Sau những năm đổi mới ở nƣớc ta đã chứng minh rằng kinh tế thị
trƣờng là con đƣờng phát triển kinh tế có hiệu quả, đƣa đất nƣớc thoát khỏi
khủng hoảng, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, vị trí của Việt Nam trên trƣờng
quốc tế dần đƣợc khẳng định.
Trải qua các kỳ đại hội, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến phát triển kinh
tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta, và đến nay, thực tiễn
nghĩa ở Việt Nam” của GS. TS Vũ Đình Bách và GS. TS Trần Minh Hạo
đồng chủ biên, trong đó đã đề cập đến đặc trƣng của kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và nêu ra những hạn chế còn tồn tại của
nền kinh tế thị trƣờng. Từ đó đƣa ra một số giải pháp cho việc phát triển nền
kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta hiện nay.
Bên cạnh đó, còn một số bài báo trong Tạp chí Cộng sản nhƣ bài “Để
doanh nghiệp nhà nƣớc giữ vai trò then chốt trong kinh tế thị trƣờng ở Việt
Nam” của tác giả Đào Duy Thành, và bài “Những đột phá tƣ duy lý luận về
2
kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta” của tác giả Lê Xuân Tùng. Hai bài báo này
chủ yếu nói về nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta nhƣng chƣa đi sâu vào
nghiên cứu vào từng điều kiện cụ thể, vào hoàn cảnh đất nƣớc, chƣa chỉ ra
những điều kiện cụ thể của đất nƣớc lúc bấy giờ và chƣa nói lên đƣợc sự
vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể vào phát triển kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Các công trình này đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến quá trình
phát triển kinh tế thị trƣờng, và cũng là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho
việc tìm hiểu đi sâu nghiên cứu các vấn đề phát triển kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta, đã giúp em hoàn thành khoá luận này.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích
Mục đích của khoá luận là làm rõ cơ sở lý luận của quan điểm lịch sử -
cụ thể và nội dung sự vận dụng của quan điểm đó vào việc phát triển nền kinh
tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; chỉ ra thực trạngphát
Đối tượng nghiên cứu:
Kinh tế thị trƣờng là lĩnh vực tƣơng đối rộng, trong phạm vi bài khoá
luận này chỉ tập trung nghiên cứu đối tƣợng là kinh tế thị trƣờng định hƣớng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận này chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ
quá trình phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay và việc vận dụng quan điểm lịch sử
- cụ thể vào quá trình phát triển kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta.
5.
Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên quan điểm lý luận và phƣơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, đề tài cũng dựa trên các
chủ trƣơng, chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển kinh
tế thị trƣờng, hơn nữa vận dụng các phƣơng pháp so sánh, phân tích, tổng hợp
để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển
kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta hiện nay.
6.
Ý nghĩa của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài tiếp tục bổ sung, làm rõ, hoàn thiện nội dung quan điểm lịch sử -
cụ thể. Từ đó, tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu sự vận dụng quan điểm
lịch sử - cụ thể vào việc phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam.
gian cụ thể xác định. Điều kiện không gian và thời gian có ảnh hƣởng trực
tiếp tới tính chất, đặc điểm của sự vật. Cùng một sự vật nhƣng nếu tồn tại
trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể khác nhau thì tính chất,
đặc điểm của nó sẽ khác nhau, thậm chí có thể làm thay đổi hoàn toàn bản
chất của sự vật, bởi vậy không chỉ nghiên cứu chúng trong suốt quá trình, mà
còn nghiên cứu chúng trong các không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh
lịch sử - cụ thể khác nhau đó.
Theo triết học Mác – Lênin, lịch sử phản ánh tính biến đổi về mặt lịch
sử của thế giới khách quan trong quá trình lịch sử - cụ thể của sự phát sinh,
phát triển, chuyển hoá của sự vật, hiện tƣợng. Mỗi sự vật, hiện tƣợng đều có
sự phát sinh, phát triển và diệt vong của mình và quá trình đó thể hiện trong
tính cụ thể, bao gồm sự thay đổi và phát triển diễn ra trong những điều kiện,
hoàn cảnh khác nhau, trong không gian và thời gian khác nhau. Bởi vậy
nguyên tắc lịch sử - cụ thể đòi hỏi để nhận thức đầy đủ về sự vật, hiện tƣợng,
chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tƣợng trong quá trình phát sinh, phát triển,
chuyển hoá trong các hình thức biểu hiện, với những bƣớc quanh co, ngẫu
nhiên gây tác động lên quá trình tồn tại của sự vật, hiện tƣợng trong không
gian, thời gian cụ thể, gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà trong đó sự vật,
hiện tƣợng tồn tại.
6
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các
tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù
của đối tƣợng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực
tiễn. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ thể để từ đó
có đƣợc những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề
thực tiễn. Nhƣ vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh
và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục
cứ sự vật, hiện tƣợng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm
những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ
một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong
mối liên hệ với hệ thống khác, tƣơng tác và làm biến đổi lẫn nhau.
Tính đa dạng phong phú của mối liên hệ: Quan điểm biện chứng của
chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến
của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối
liên hệ.
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đƣợc thể hiện ở chỗ: Các
sự vật, hiện tƣợng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể
khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó;
mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhƣng trong những điều
kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động,
phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau. Nhƣ
vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ
khác nhau đối với mỗi sự vật nhất định, trong những điều kiện xác định. Đó là
mối liên hệ bên trong và bên ngoài sự vật, mối liên hệ bản chất và hiện tƣợng,
mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu, mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, …
Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao
hàm quan niệm về sự biểu hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ
biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tƣợng, mỗi quá trình
cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể.
8
1.1.1.2 Nguyên lý về sự phát triển
Trong phép biện chứng, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận
động của sự vật theo khuynh hƣớng đi lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao,
từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
hiện tƣợng và trong mọi quá trình, mọi giai đoạn của sự vật, hiện tƣợng đó.
Trong mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời
của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan.
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển đƣợc biểu hiện ở chỗ: phát
triển là khuynh hƣớng chung của mọi sự vật, hiện tƣợng, song mỗi sự vật, mỗi
hiện tƣợng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn
giống nhau. Đồng thời, trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu nhiều
tác động của các sự vật, hiện tƣợng hay quá trình khác, của rất nhiều yếu tố và
điều kiện lịch sử, cụ thể. Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hƣớng phát
triển của sự vật, thậm chí có thể làm cho sự vật thụt lùi tạm thời, có thể dẫn tới
sự phát triển về mặt này và thoái hoá về mặt khác… Đó đều là những biểu hiện
của tính phong phú, đa dạng của các quá trình phát triển.
1.1.2
Yêu cầu của quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể cho rằng mọi sự vật, hiện tƣợng của thế giới
đều tồn tại, vận động và phát triển trong những điều kiện thời gian và không
gian cụ thể, xác định, những điều kiện này sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến tính
chất, đặc điểm của sự vật. Cùng một sự vật nhƣng nếu tồn tại trong những
điều kiện không gian và thời gian cụ thể khác nhau thì tính chất, đặc điểm của
nó sẽ khác nhau, thậm chí có thể làm thay đổi hoàn toàn bản chất của sự vật.
Ví dụ, khi một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này,
nhƣng sẽ không phải luận điểm khoa học trong điều kiện khác.
Từ trên, ta có thể thấy rằng, quan điểm lịch sử cụ thể có ý nghĩa rất to
lớn trong quá trình nghiên cứu và cải tạo tự nhiên, xã hội. Khi vận dụng quan
điểm này cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, khi phân tích, xem xét sự vật, hiện tƣợng phải đặt nó trong
điều kiện không gian và thời gian cụ thể của nó, phải phân tích xem những
mạnh và điểm yếu có tác dụng trực tiếp đến quá trình vận dụng sau này.
11
Đến nay, chúng ta có thể khẳng định kinh tế thị trƣờng là một thành tựu
chung của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng của chủ
nghĩa tƣ bản. Kinh tế thị trƣờng là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội đạt ở trình
độ cao, phản ánh trình độ văn minh của nhân loại và là kết quả của sự phát
triển lịch sử xã hội loài ngƣời. Nhờ kinh tế thị trƣờng chủ nghĩa tƣ bản đã
thúc đẩy lực lƣợng sản xuất phát triển mạnh mẽ, đem lại sự phồn thịnh cho
các nƣớc tƣ bản phát triển. Vậy thì kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa là một phạm trù kinh tế chính trị, phản ánh bản chất và mục đích của
nền sản xuất xã hội, đó là nền kinh tế vận động dựa trên cơ sở các quy luật
khách quan, đặc biệt là các quy luật của thị trƣờng, có sự quản lý của nhà
nƣớc, để xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiến bộ nhằm thực hiện mục tiêu dân
giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
Với nhiều điều kiện vốn có của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội
chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa còn
mang lại những tác dụng to lớn đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam. Nền kinh
tế nƣớc ta từ khi bƣớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn mang nặng
tính tự cấp tự túc. Vì vậy, sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá dần kinh tế tự
nhiên và chuyển thành kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội hoá sản xuất
Thứ ba, khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến
điều kiện cụ thể của nơi đƣợc vận dụng, điều kiện này sẽ ảnh hƣởng trực tiếp
đến kết quả của sự vận dụng đó.
Bối cảnh nền kinh tế những năm trƣớc đổi mới rơi vào tình trạng khủng
hoảng trầm trọng, lạm phát ở mức 774,7% vào năm 1986 kéo theo giá cả leo
thang, nhà nƣớc không thể kiểm soát nổi. Sự tàn phá của chiến tranh và nền
kinh tế bao cấp yếu kém kéo dài đã để lại hậu quả nặng nề; cơ sở vật chất thấp
nhiều chủ thể kinh tế. Các chủ thể này độc lập, tách biệt nhau, mặc dù đều
nằm trong hệ thống phân công lao động chung của xã hội. Do vậy, trong sản
xuất, kinh doanh họ vừa cạnh tranh với nhau, quan hệ kinh tế giữa các chủ thể
13
chỉ có thể đƣợc thực hiện thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá, mặt khác cũng
chính sự phát triển của quan hệ hàng hoá sẽ tạo ra cơ chế để khai thác có hiệu
quả nhiều tiềm năng của các thành phần kinh tế.
Kinh tế thị trƣờng có nhiều tác dụng to lớn
Kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lƣợng sản xuất phát triển.
Do cạnh tranh giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, buộc mọi chủ thể sản
xuất phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, để giảm chi
phí sản xuất đến mức tối thiểu, nhờ đó có thể cạnh tranh đƣợc về giá cả, đứng
vững trên thị trƣờng. Quá trình đó giúp thúc đẩy lực lƣợng sản xuất phát triển,
nâng cao năng suất lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, ngƣời sản xuất phải căn cứ vào nhu cầu
của ngƣời tiêu dùng, của thực tiễn quyết định sản xuất sản phẩm gì, với khối
lƣợng bao nhiêu, chất lƣợng nhƣ thế nào. Do đó, kinh tế thị trƣờng kích thích
tính năng động, sáng tạo của chủ thể kinh tế, khích thích việc nâng cao chất
lƣợng, cải tiến mẫu mã, cũng nhƣ tăng khối lƣợng hàng hoá và dịch vụ.
Kinh tế thị trƣờng còn thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và
chuyên môn hoá sản xuất. Vì thế phát huy đƣợc tiềm năng, lợi thế của từng
vùng, cũng nhƣ lợi thế của đất nƣớc có tác dụng mở rộng quan hệ kinh tế với
nƣớc ngoài.
Sự phát triển kinh tế thị trƣờng sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung
sản xuất, do đó tạo điều kiện ra đời sản xuất lớn, có tính chất xã hội hoá cao,
đồng thời chọn lọc những ngƣời sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ
cán bộ quản lý có trình độ lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của
tính tất yếu khách quan với phát huy vai trò năng động, sáng tạo của chủ thể
nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển rút
ngắn, đƣa nƣớc ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế này thể hiện sâu
sắc việc vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể của Đảng và Nhà nƣớc ta trong xây
dựng kinh tế trƣớc tình hình kinh tế của nƣớc ta và thế giới.
15
1.2.2 Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta
Nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không
phải nền kinh tế thị trƣờng tự do theo kiểu tƣ bản chủ nghĩa và cũng chƣa
hoàn toàn là nền kinh tế thị trƣờng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta, một mặt
vừa có tính chất chung của nền kinh tế thị trƣờng, mặt khác vừa dựa trên cơ sở
và đƣợc chi phối bởi nguyên tắc, bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó có thể
rút ra những đặc trƣng cơ bản của nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta nhƣ sau:
Thứ nhất, nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta nhằm mục tiêu tăng trƣởng
kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Mục tiêu hàng đầu của phát
triển kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta là giải phóng lực lƣợng sản xuất, khai thác
và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nƣớc để thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện từng bƣớc đời sống nhân dân,
khuyến khích làm giàu hợp pháp, gắn liền với xoá đói giảm nghèo, tăng
trƣởng kinh tế, gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.
Thứ hai, nền kinh tế thị trƣờng gồm nhiều thành phần kinh tế, trong đó
thành phần kinh tế nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo.
Nền kinh tế nƣớc ta tồn tại đa dạng hoá loại hình sở hữu, từ đó hình
thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều tổ chức sản xuất kinh doanh. Các thành
hai phƣơng tiện khác nhau để phát triển và điều tiết nền kinh tế. Kế hoạch là
sự điều chỉnh có ý thức của chủ thể quản lý đối với nền kinh tế, còn cơ chế thị
trƣờng là sự điều tiết của bản thân nền kinh tế.
Thứ tƣ, nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa thực hiện
phân phối theo lao động là chủ yếu
Sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa và kinh tế thị trƣờng tƣ bản chủ nghĩa là ở chỗ xác lập chế độ công hữu
17
và thực hiện phân phối theo lao động. Phân phối theo lao động là đặc trƣng,
bản chất của cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, nó là hình thức
thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu. Vì thế phân phối theo lao động
đƣợc xác định là hình thức phân phối chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nƣớc ta.
Thứ năm, nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta là nền kinh tế mở cửa, hội
nhập với kinh tế khu vực và quốc tế
Do sự tác động của cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra quá
trình quốc tế hoá đời sống kinh tế. Sự phát triển của mỗi quốc gia đều phụ
thuộc lẫn nhau. Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế
giới là tất yếu đối với nƣớc ta. Chỉ có nhƣ vậy mới thu hút đƣợc vốn, kĩ thuật,
công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nƣớc khác để khai
thác tiềm năng và thế mạnh trong nƣớc, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực
để xây dụng và phát triển kinh tế thị trƣờng hiện đại theo kiểu rút ngắn.
1.3 Nội dung của sự vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể vào quá trình
phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa
Trƣớc năm 1986, trong điều kiện hoàn cảnh nền kinh tế nƣớc ta còn
khó khăn, nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Cơ
chế này có đem lại hiệu quả nhƣng càng về sau nó càng bộc lộ những khiếm
luận bằng việc đề ra đƣờng lối đổi mới, trong đó phê phán và từ bỏ cơ chế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, thừa nhận sự tồn tại khách quan của
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa vận
hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc. Bên cạnh đó, tiếp tục
hoàn thiện tƣ duy về kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Tại Đại hội VII,
thông qua Cƣơng lĩnh đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đã
khẳng định đƣờng lối “phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo…
Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế
thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và
các công cụ khác”. Đồng thời nhà nƣớc cũng tạo ra môi trƣờng pháp lý và
những điều kiện thuận lợi để phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát
19
triển kinh tế. Ngoài ra, nhà nƣớc còn hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ
thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống an sinh xã hội.
Nếu nhƣ trƣớc đổi mới, chúng ta thừa nhận sự tồn tại của thành phần
kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể thì sau đổi mới, Đảng đã có cái nhìn
toàn diện hơn. Để phát triển hiệu quả cho nền kinh tế thị trƣờng, nhà nƣớc ta
đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở
hữu khác nhau
Hiến pháp năm 1992 thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
ban hành Luật Doanh nghiệp và đƣa vào áp dụng năm 2000 đã giúp khu vực
kinh tế tƣ nhân thoát khỏi nhiều thủ tục ràng buộc về hành chính, tạo ra sự phát
triển bùng nổ của nền kinh tế cho đến nay. Cùng với đó, khu vực kinh tế nhà
nƣớc cũng đƣợc chú trọng phát triển với vai trò chủ đạo của nền kinh tế. Ngoài
ra nhà nƣớc còn ban hành một số chính sách khác nhằm thúc đẩy kinh tế phát
triển, nên đã khắc phục tình trạng suy giảm tăng trƣởng kinh tế ở nƣớc ta.
là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tƣ nhân. Do đó tồn tại nhiều chủ thể
kinh tế độc lập, lợi ích riêng nên quan hệ kinh tế chỉ có thể thực hiện bằng
quan hệ hàng hoá- tiền tệ và thực hiện thông qua thị trƣờng.
Sở hữu toàn dân là hình thức sở hữu mà đại diện là nhân dan sở hữu
những tài nguyên, tài sản, những tƣ liệu sản xuất chủ yếu và những của cải
của đất nƣớc, hay nói cách khác, nhà nƣớc là chủ sở hữu, còn quyền sử dụng
giao cho các tổ chức, đơn vị kinh tế và các cá nhân để phát triển một cách
hiệu quả nhất.
Sở hữu tập thể là sở hữu của những chủ thể kinh tế, cá nhân ngƣời lao
động tự nguyện tham gia. Sở hữu tập thể biểu hiện ở sở hữu tập thể các hợp
tác xã trong nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, vận tải,…
Sở hữu tƣ nhân là sở hữu về tƣ liệu sản xuất của bản thân ngƣời lao
động. Chủ sở hữu này là nông dân, cá thể, thợ thủ công, tiểu thƣơng. Họ vừa
là chủ sở hữu đồng thời vừa là lao động.
1.3.3
Nền kinh tế thị trường phải phát triển theo định hướng của mục
tiêu phát triển của đất nước
Chủ nghĩa xã hội là khát vọng của con ngƣời về một xã hội văn minh,
giàu có, ai cũng có cuộc sống ấm no hạnh phúc xứng đáng với tài năng và
21