LUẬN VĂN: Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay pot - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay
A - đặt vấn đề
Lịch sử phát triển kinh tế - xã hội loài người từ trước đến nay đã trải qua rất nhiều
hình thái kinh tế xã hội, đó là: Hình thái công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế xã hội

"Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay". B - Giải quyết vấn đề
I - Lý luận về vai trò kinh tế của nhà nước:
1 - Vai trò kinh tế của Nhà nước nói chung trong lịch sử.
Thực tế cho thấy, trong hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên, công xã nguyên thuỷ,
chưa có Nhà nước. Trong thời kỳ này chưa tồn tại giai cấp và do vậy chưa thể tồn tại nhà
nước. Xã hội sống thành bầy đàn từ thị tộc đến bộ lạc rồi đến bộ tộc. Của cải trong xã hội
sản xuất ra là của cải chung và mọi người đều được hưởng. Nhưng khi có sự phát triển
của lực lượng sản xuất, sản phẩm được tạo ra nhiều hơn và do đó trong xã hội có nhiều
của cải dư thừa. Những người đứng đầu các thị tộc, bộ lạc, bộ tộc đã chiếm những của cải
chung của xã hội làm của riêng. Trong xã hội có sự tư hữu về tư liệu sản xuất và có sự
phân hóa thành kẻ giầu, người nghèo. Mâu thuẫn và xung đột giai cấp trong xã hội bắt
đầu xuất hiện. Để bảo vệ quyền lợi của mình, các thế lực nắm quyền thống trị về kinh tế
lập ra một bộ máy sử dụng bạo lực để chấn áp, tiêu diệt các thế lực khác. Cùng với thời
gian, bộ máy ấy được hoàn thiện và trở thành nhà nước. Như vậy Nhà nước ra đời từ
nguyên nhân kinh tế, nó là sản phẩm của mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa trong xã
hội có đối kháng giai cấp.
Trong bất kỳ giai đoạn nào, Nhà nước đều có vai trò kinh tế của mình nhưng mức độ
và hình thức biểu hiện ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau.
Trong thời đại chiếm hữu nô lệ, Nhà nước đã dùng quyền lực của mình can thiệp
vào việc phân phối của cải sản xuất ra. Thời kỳ này, của cải được làm ra bởi những người
nô lệ dưới sự điều khiển, chỉ huy của giai cấp chủ nô nhưng lượng của cải ấy không được
"phân phối " mà bị giai cấp chủ nô chiếm đoạt bằng bạo lực. Các thủ đoạn bạo lực phi
kinh tế ở đây được sử dụng làm công cụ để chiếm đoạt, cưỡng bức kinh tế.
Sang thời đại phong kiến, Nhà nước phong kiến không chỉ can thiệp vào việc phân
phối của cải sản xuất ra mà còn đứng ra tập hợp nhân dân xây dựng kết cấu hạ tầng cho
sản xuất nông nghiệp, khuyến khích, quan lại di dân đi mở mang các vùng đất mới, đề ra

thì quan liêu cửa quyền.
*Quá trình chuyển từ cơ chế cũ sang cơ chế mới. Sau ngày giải phóng miền Nam nền kinh tế nước ta cũng tồn tại một lúc cả 3 loại
hình kinh tế: Kinh tế tự túc, tự cấp, kinh tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế hàng hóa.
Đó là thực tế khách quan tồn tại sau năm 1975 nhưng ngày nay các quan hệ kinh tế đã
thay đổi rất nhiều. Việc áp dụng cơ chế quản lý kinh tế cũ vào điều kiện nền kinh tế đã
thay đổi làm xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực như sự tăng trưởng kinh tế gặp nhiều
khó khăn, sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bị thâm hụt nặng nề thu nhập nền kinh
tế không đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng năm hầu như không có. Đến cuối những năm 1980
giá cả leo thang, khủng hoảng kinh tế đi liền với lạm phát cao làm cho đời sống nhân dân
bị giảm sút, thậm chí một số địa phương nạn đói đang rình rập. Nguyên nhân sâu xa về sự
suy thoái nền kinh tế ở nước ta là do ta đã dập khuôn một mô hình kinh tế chưa thích hợp
và kém hiệu quả. Do vậy tại Đại hội VI của Đảng đã chủ trương phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần và thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá
sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN. Đến Đại hội VII của Đảng khẳng định: "Tiếp
tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu
quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước".
b - Cơ chế thị trường và những khuyết tật của nó:
Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều chỉnh nền kinh tế hàng hóa đối với sự tác động
khách quan của các quy luật kinh tế vốn có của nó, cơ chế đó quyết định những vấn đề cơ
bản của nền kinh tế.
Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môi trường, động lực và quy luật
chi phối sự vận động của thị trường. Nói đến cơ chế thị trường trước hết là phải nói đến
các nhân tố cơ bản cấu thành thị trường là hàng và tiền, người bán và người mua hàng
hóa. Từ đó hình thành các quan hệ hàng - tiền, mua - bán, cung cầu và giá cả hàng hóa.
Nói cơ chế thị trường là nói môi trường cạnh tranh. ở đây diễn ra sự ganh đua, cọ sát giữa
các thành viên tham gia thị trường để giành phần lợi cho mình. Trong cơ chế thị trường
động lực hoạt động của các thành viên là lợi nhuận, lợi nhuận có tác dụng lôi kéo các

do đó hiệu quả kinh tế xã hội không được đảm bảo. Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trường có những hoạt động tốt cũng
không thể đạt được. Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự phân hóa giàu nghèo,
tác động xấu đến đạo đức và tình người.
Một nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết khó tránh khỏi những thăng trầm,
khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ. Người ta nhận thấy rằng một nền kinh tế hiện đại
đứng trước một vấn đề nan giải của kinh tế vĩ mô không một nước nào trong thời gian dài
lại có được lạm pháp, thất nghiệp thấp và công việc ăn làm đầy đủ.
Vì vậy để hạn chế được những khuyết tật thì ngày nay trong thực tế không tồn tại cơ
chế thị trường thuần tuý, mà thường có sự can thiệp của Nhà nước.
c - Vai trò kinh tế của nhà nước:
* Nhà nước phải xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển phù hợp với điều
kiện kinh tế xã hội nước ta theo các mục tiêu mong muốn.
Trong nền kinh tế của chúng ta hiện nay các doanh nghiệp được quyền tự do lựa
chọn phương án sản xuất kinh doanh, Nhà nước không can thiệp vào quyết định của họ về
sản xuất cái gì ? bằng cách nào ? tiêu thụ ở đâu trong khi lựa chọn các phương án sản
xuất kinh doanh doanh nghiệp lấy lợi nhuận của mình làm thước đo hiệu quả, đồng thời là
mục tiêu định hướng cho hành vi của họ. Khác với doanh nghiệp, Nhà nước không theo
đuổi mục tiêu của các doanh nghiệp là lợi nhuận mà theo đuổi mục tiêu chung của các
dân tộc là dân giàu nước mạnh, nền kinh tế tăng trưởng một cách ổn định, vững chắc, đảm
bảo hiệu quả và công bằng xã hội.
Bằng việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế, Nhà nước quản lý và can thiệp
vào các doanh nghiệp với mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh. Thực chất của các định
hướng sự phát triển của nền kinh tế là thống nhất các lợi ích khác nhau, qui tụ các lợi ích
khác nhau về lợi ích chung của các dân tộc. Để hoàn thành chức năng định hướng nền
kinh tế, Nhà nước cần có:
+ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn.
+ Kế hoạch hoá định hướng.
lượng tiền tệ và chi tiêu ngân sách để làm giảm những chấn động do cú sốc gây ra, nhằm
đưa nền kinh tế đi theo định hướng.
* Nhà nước có vai trò quản lý tài sản quốc gia, phân bổ các nguồn lực một cách hợp

Nhà nước chính là người thay mặt nhân dân quản lý các đặc quyền đặc lợi về kinh
tế. Trong cương lĩnh quốc gia: về đối nội, Nhà nước là người chủ sở hữu nguồn lực này
để phân bổ sử dụng giữa các thành phần kinh tế sao cho hợp lý. Về đối ngoại, Nhà nước
có trách nhiệm bảo vệ các nguồn lực, ngăn chặn mọi âm mưu từ bên ngoài đến các vùng
đặc quyền, đặc lợi trong lòng đất, vùng trời và vùng biển.
II - Đặc trưng kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
1 - Sự phát triển kinh tế phải gắn liền với sự giải quyết những vấn đề xã hội:
Nước ta đi lên XHCN chỉ nhằm mục tiêu lớn nhất là dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh. Đồng thời để phát triển kinh tế chúng ta chủ trương phát triển kinh
tế thị trường. Tuy nhiên kinh tế thị trường lại đưa đến sự phân hoá giàu nghèo và nhiều
vấn đề xã hội nan giải cần được giải quyết. Vì vậy để vừa phát triển kinh tế vừa giải quyết
được những vấn đề xã hội, chúng ta phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với xã hội, xã hội với
kinh tế. Ngoài mục tiêu ổn định chính trị, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phát triển sản
xuất, Đảng và Nhà nước còn đề ra biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội, từ công
ăn việc làm đến đời sống văn hoá, xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp, lối sống lành
mạnh, công bằng xã hội. Muốn vậy Nhà nước phải:
* Phải kế hoạch hoá dân số, giải quyết việc làm cho người lao động.
* Thực hiện công bằng xã hội, lối sống văn hoá, bảo đảm an toàn xã hội, khôi phục
trật tự, kỷ cương trong mọi lĩnh vực của đời sống.
* Chăm lo nhu cầu giáo dục, văn hoá cho nhân dân.
* Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội.
* Giảm thiểu và khắc phục cũng như đẩy lùi tệ nạn xã hội.
2 - Phát triển kinh tế Việt Nam phải là phát triển bền vững:

số doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả của kinh tế quốc doanh - kinh tế Nhà nước, làm
kinh tế quốc doanh thực sự giữ vai trò chủ đạo trong một số ngành và lĩnh vực then chốt
của nền kinh tế.
5 - Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta cần tới vai trò quản
lý của Nhà Nước.
Nền kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường không làm giảm nhẹ sự quản lý của Nhà
nước, vô luật là Nhà nước TBCN hay Nhà nước XHCN. Hơn nữa chúng ta xây dựng nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo định hướng XHCN càng đòi hỏi sự quản lý của
Nhà nước.
Vấn đề là phương thức quản lý của Nhà nước như thế nào để vận dụng đầy đủ các
quy luật và yêu cầu khách quan của bản thân nền kinh tế thị trường, nhưng lại phải đảm
bảo định hướng XHCN, không để cho nền kinh tế vận động tự phát đi theo con đường
TBCN.
Kinh tế thị trường là tự do làm giàu trong khuôn khổ luật pháp, bình đẳng trong cạnh
tranh (không độc quyền, không đẳng cấp, không ngăn cách), năng động trên thị trường để
tiêu thụ nhanh (số lượng, mặt hàng, chất lượng, giá cả ) để tìm lợi thế tối đa. Nhưng thị
trường tự nó cũng mang nhiều nhân tố đẻ ra bệnh tật (đầu cơ, buôn lậu, tham nhũng, trốn
thuế ). Nhưng không có nền kinh tế thị trường và không có nền kinh tế thị trường và
không có chế độ nào tự do tuyệt đối, mà đều có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Bộ máy
Nhà nước và một cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động tốt của Nhà nước, tức là nền
hành chính quốc gia tốt là phải thích ứng với cơ chế thị trường, kích thích, ủng hộ, hướng
dẫn mặt tích cực của nó và ngăn chặn, bài trừ, trừng trị mặt tiêu cực của nó.
6 - kinh tế nước ta phải hòa nhập với kinh tế thế giới:
Mở cửa nền kinh tế là một trong những thành tựu quan trọng trong đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế. Thời gian qua chúng ta đã có những thay đổi có ý nghĩa trong xuất nhập
khẩu và hợp tác đầu tư nước ngoài.
Về xuất nhập khẩu:
* Tự do thương mại, giảm bớt một số thủ tục xuát nhập khẩu không cần thiết.
hợp với từng vùng và sử dụng có hiệu quả nhất để từ đó nâng cao sản lượng thực tế tương
ứng với mức sản lượng tiềm năng. Tạo điều kiện tốt cho nền kinh tế tăng trưởng và ổn
định. Nhờ công cụ này mà chính phủ khẳng định được ý đồ của mình trong nhiều lĩnh
vực: xây dựng công trình công cộng; thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật và giảm bớt
rủi ro đối với các thành phần kinh tế; bảo đảm các hoạt động kinh tế chung để từ đó thực
hiện các mục tiêu ngày càng tốt.
*Mục tiêu phân bố công bằng sản phẩm làm ra là giải quyết tốt vấn đề xã hội:
Để đảm bảo phân phối công bằng và giải quyết tốt vấn đề xã hội, Nhà nước cần sử
dụng các công cụ luật pháp điều tiết thu nhập, bảo hộ và giáo dục nâng cao trình độ văn
hoá dân tộc và cộng đồng trong quá trình phát triển kinh tế. các biện pháp can thiệp của
Nhà nước có thể can thiệp trực tiếp hay gián tiếp bằng các công cụ khác nhau. Sau phải
thực hiện biện pháp phân phối theo lao động trong phân phối sản phẩm làm ra. Đối với
vấn đề xã hội cần có chính sách thiết thực phù hợp với từng điều kiện: trợ cấp, bảo hiểm,
phát triển công nghệ
2- Chức năng:
Nhà nước phải tạo ra được môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của
các doanh nghiệp bao gồm:
* Giữ ổn định chính trị:
Chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường trên cơ sở ổn định chính trị, lấy ổn định
chính trị làm tiền đề và là điều kiện cho cải cách kinh tế. Mặt khác, cũng nhận thức rõ
phải đổi mới mạnh mẽ trong lĩnh vực hành chính, trên cơ sở đổi mới quản lý của Nhà
Nước, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của nó cho phù hợp với điều kiện
kinh tế thị trường, mà tiếp tục ổn định chính trị đưa cải cách tiến lên những bước phát
mới.
Ngay từ đầu, chúng ta đã khảng định định hướng XHCN là không thay đổi. Tuy
nhiên, đã có những nhận thức mới về CNXH, khẳng định CNXH có thể sử dụng các công
cụ phổ biến mà CNTB đã từng sử dụng như thị trường, các quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
quy luật giá trị cho mục tiêu của mình. Xuất phát từ thực tế về thực chất nền kinh tế nước

của Mỹ trong những năm 30. Những kinh nghiệm đó đã giúp ta nhận ra một điều bổ ích
rằng Nhà nước XHCN cần phải tìm mọi cách để kiểm soát và ngăn chặn những thăng trầm của chu kỳ kinh doanh. Với những cố gắng của Nhà nước có thể làm cho chu kỳ
kinh doanh trơn chu, ngăn chặn đình đốn, thất nghiệp và lạm phát, hai vũ khí được sử
dụng chủ yếu là chính sách tiền tệ và chính sách tài chính. Nếu Nhà nước biết kết hợp
một cách hài hòa hai chính sách này thì có thể tác động có lợi đến sản lượng, việc làm,
thu nhập và giá cả của nền kinh tế tạo nên sự phát triển nhịp nhàng năng động và đạt hiệu
quả cao.
* Xây dựng cơ sở hạ tầng.
Đối với những nghành, lĩnh vực quan trọng chủ chốt: an ninh, quốc phòng, cầu xá,
điện là những ngành, lĩnh vực mà tư nhân, doanh nghiệp không muốn hoặc không có khả
năng và uy tín để đầu tư nhưng lại là cơ sở cần thiết cho sự tăng trưởng nhanh và bền
vững của toàn bộ nền kinh tế và đảm bảo cho Nhà nước thực hiện chính sách kinh tế - xã
hội - văn hoá - môi trường của mình. Nhà nước phải chú trọng tới những ngành then chốt,
chú ý tới yêu cầu tốn ít vốn, tạo ra nhiều việc làm, đưa công trình vào sử dụng nhanh.
Phải soát xét thật chặt chẽ công trình xây dựng dở dang của cả trung ương và địa
phương, trong tất cả các ngành cũng như các công trình chưa khởi công, nhưng đã ký
nhận thiết bị toàn bộ của nước ngoài. Kiên quyết giảm tiến độ hoặc đình hẳn việc xây
dựng những công trình chưa thật sự cấp bách hoặc làm xong sẽ không đủ điều kiện sử
dụng có hiệu quả, cần ưu tiên cho những công trình cấp thiết, trọng điểm. Phương châm
này cũng phải được thấu suốt trong việc xây dựng các cơ sở khoa học, kỹ thuật, giáo dục,
y tế, văn hoá
* Bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên:
Tài nguyên thiên nhiên là những thứ nếu sử dụng quá lãng phí hoặc không có hiệu
quả sẽ rất khó phục hồi thậm chí có những tài nguyên không thể phục hồi được. Việc sử
dụng, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên này là vấn đề cấp bách của Đảng và Nhà
nước ta.
Đối với tài nguyên đất: Phải sửa đổi, bổ sung các chính sách về đất ruộng và các loại

+ Tập trung giải quyết dứt điểm những vụ nghiêm trọng. Đối với tội phạm đã kết
luận rõ, phải xử lý nghiêm, đúng pháp luật có tác dụng giáo dục và ngăn ngừa. + Kiện toàn lại (có thể) đội ngũ những người làm công tác cầm cân nẩy mực, loại bỏ
những cán bộ tham nhũng, cửa quyền; tăng cường những cán bộ gương mẫu, hết lòng vì
dân, những cán bộ tốt và có năng lực.
+ Thường xuyên giáo dục về pháp luật cho mọi người đặc biệt là trong trường học
+ Tuyên truyền giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng: báo,
đài, truyền hình
2- Công tác kế hoạch:
Kế hoạch hóa là quá trình nhận thức và vận dụng tổng hợp các quy luật khách quan,
trước hết là các quy luật kinh tế trong đó có các quy luật của thị trường để xây dựng các
kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội.
Kế hoạch hóa là một trong những công cụ trọng yếu thực hiện chính sách kinh tế
của Nhà nước hướng đến sự phát triển sản xuất để thoả mãn tốt hơn nhu cầu vật chất và
văn hóa của nhân dân. Nhờ kế hoạch, Nhà nước quản lý sản xuất xã hội, điều chỉnh sản
xuất, phân phối và trao đổi của cải vật chất.
Ngày nay, kế hoạch hóa đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế thế
giới hiện đại. Xét trên phạm vi xã hội, nói cách khác, xét ở tầm vĩ mô, nền kinh tế nhiều
thành phần cần phải được kế hoạch hóa nhưng không thể là kế hoạch hóa trực tiếp - pháp
lệnh, không thể xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh vĩ mô cho cả nền kinh tế. Chỉ có
thể thực hiện kế hoạch hóa gián tiếp, định hướng đổi mới với nó mà thôi.
Vai trò chủ yếu của kế hoạch hóa ở tầm vĩ mô là thúc đẩy hình thành cơ cấu hợp lý
vì vậy phải đảm bảo tính thống nhất trong cân đối các nguồn lực, lựa chọn phương hướng
phát triển đúng đắn và động viên được được sức lực, trí tuệ của toàn xã hội, thực hiện
thắng lợi những mục tiêu đã đề ra.
Đề phù hợp với việc quản lý kinh tế vĩ mô theo cơ chế thị trường có thể nêu ra bố
cục hợp lý của hệ thống kế hoạch hóa định hướng như sau:
Thứ nhất: Cần xúc tiến nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Chính sách tài chính chủ yếu thể hiện hai nội dung là thu và chi tiêu của chính phủ
do đó tác động vào tổng cung và tổng cầu, sản lượng, giá cả và việc làm.
Khi chính sách tài chính được áp dụng để giảm hoặc thoát khỏi suy thoái kinh tế gọi
là chính sách tài chính sách mở rộng, nó tác động thông qua hai con đường.
+ Tăng chi tiêu chính phủ như đẩy mạnh sản xuất hàng hoá công cộng, tăng đơn đặt
hàng mua và các khoản chi khác. Như vậy sẽ làm tăng tổng cầu và qua đó tác động khích
thích làm tăng tổng cung.
+ Giảm thuế sẽ kích thích tiêu dùng và đầu tư. Do vậy sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển,
tạo điều kiện giải quyết việc làm trong nước.
Khi chính sách tài chính được áp dụng để giảm lạm phát gọi là chính sách tài chính
thắt chặt. Nó cũng tác động đến các biến số của nền kinh tế vĩ mô thông qua hai con
đường:
+ Giảm chi tiêu chính phủ như giảm đầu tư sản xuất hàng công cộng và đơn đặt
hàng, kết quả dẫn đến giảm cầu quá mức của xã hội, bình ổn vật giá, hạn chế lạm phát và
đương nhiên cũng hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế.
+ Tăng thuế có thể làm giảm thu nhập khá do đó giảm tiêu dùng, giảm đầu tư và
giảm nhu cầu xã hội quá mức khiến giá cả đi vào ổn định.
* Chính sách tín dụng.
Tín dụng là quan hệ kinh tế dưới hình thức quan hệ tiền tệ mà người chủ sở hữu tiền
tệ cho người khác vay trong thời gian nhất định để thu món lời gọi là lợi tức.
Kinh tế thị trường tạo khẳ năng mở rộng phạm vi hoạt động của tín dụng; đến lược
mình, tín dụng thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tích tụ tập trung sản xuất. Sự cạnh tranh các tổ
chức tín dụng đưa đến việc thu hút và huy động một lượng vốn lớn trong thời gian nhanh
nhất và với lãi xuất thấp nhất, kịp thời đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp. Thừa nhận
hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh tiền tệ thì lợi tức phải được xem như là giá cả
của loại hàng hóa - tiền tệ và nó thay đổi theo cung cầu trên thị trường tiền tệ. Chính sự
thay đổi của tỷ suất lợi tức trong từng thời kỳ góp phần vào việc điều hòa cung cầu về vốn
tiền tệ trong toàn nền kinh tế.

trên thế giới. Đi đôi với việc tăng dần tỷ trọng hàng công nghệ xuất khẩu, cùng cần đẩy mạnh xuất
khẩu các loại dịch vụ như dịch vụ du lịch, vận tải biển, vận tải không, sửa chữa tàu, kho
chứa hàng chuyển tải, xuất khẩu lao động, kinh doanh tiền tệ, tư vấn trao đổi khoa học kỹ
thuật, đào tạo.
Phải có một chính sách nhập khẩu "chủ động" tức là nhập khẩu phải đáp ứng trước
hết cho việc đổi mới công nghệ, đẩy mạnh sản xuất, tạo ra được nhiều giá trị gia tăng và
tạo nhanh được nguồn hàng xuất khẩu trong thời đại khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh
chóng như hiện nay
V- ý nghĩa vấn đề:
Trước kia trong nền kinh tế chỉ huy quan liêu bao cấp, Nhà nước can thiệp quá sâu
vào nền kinh tế làm cho các quy luật khách quan hoạt động sai lệch. Ví dụ: Việc ổn định
giá làm cho quan hệ trao đổi ngang bằng bị méo mó; Phân phối vật tư theo định hướng
thực chất cũng làm giảm đồng thời các yếu tố đầu vào, làm sao mà có sản phẩm đầu ra
tăng lên; để ổn định kinh tế Nhà nước chủ trương giải quyết việc làm cho tất cả làm biên
chế theo kiểu biên chế suốt đời, không có sự cạnh tranh nào, thực chất làm giảm lao động
xã hội xuống và cũng không còn động lực cho sự phát triển vì lợi ích bị xoá bỏ - do sự
can thiệp của Nhà nước vào vào kinh tế quá lớn, các nền kinh tế chỉ huy bị thất bại, trong
đó có nước ta (1986).
Trước tình hình đó Nhà nước có chủ trương đổi mới theo kinh tế thị trường có sự
định hướng XHCN. Bất cứ một cơ chế thị trường nào dù hoạt động ở đâu cũng có những
ưu khuyết điểm của nó. Thêm vào đó để đạt mục tiêu và chức năng đề sẵn của mình, Nhà
nước phải can thiệp vào kinh tế, vào cơ chế thị trường để đạt hiệu quả tốt nhất. Sự quản lý
vĩ mô nền kinh tế Nhà nước là một yếu tố chủ quan không thể thiếu khi nền kinh tế phát
triển dựa vào cơ chế thị trường phát triển theo định hướng XHCN và các mục tiêu định
sẵn, Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào nền kinh tế mà để các qua trình này cho
cơ chế thị trường tự giải quyết. Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước phải được đổi mới,
phát triển theo thời gian và ngày càng được cổng cố hoàn thiện để đáp ứng và khắc phục

D - tài liệu tham khảo 1 - Giáo trình kinh tế chính trị học - tập II
2 - Văn kiện hội nghị lần thứ VI, VII, VIII
3 - Cơ chế thị trường và vai trò Nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam
Giáo sư - Tiến sĩ: Lương Xuân Quỳ
4 - Kinh tế học của P.SamuellSon
5 - Kinh tế học của David Begg
6 - Thực trạng của cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay
Tiến sĩ: Nguyễn Thị Hiền
7 - Những biện pháp chủ yếu cần thực hiện để đổi mới vai trò quản lý kinh tế của
Nhà nước ta trong cơ chế thị trường
Phó giáo sư- phó tiến sĩ: Lê Du Phong
Mục lục
A. Đặt vấn đề 1
B. Giải quyết vấn đề 2
I. Lý luận về vai trò kinh tế của Nhà nước 2
1. Vai trò kinh tế của Nhà nước nói chung trong lịch sử 2
2. Tính tất yếu khách quan của quản lý vĩ mô
của Nhà nước đối với nền kinh tế 3
II. Đặc trưng kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
ở Việt Nam 8
1. Sự phát triển kinh tế phải gắn liền với sự giải quyết
những vấn đề xã hội 8
2. Phát triển kinh tế Việt Nam phải là phát triển bền vững 8
3. Tốc độ phát triển kinh tế cao 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status