Tài liệu LUẬN VĂN: Phép biện chứng về mâu thuẫn và vận dụng phân tích mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay - Pdf 10



LUẬN VĂN:

Phép biện chứng về mâu thuẫn và vận
dụng phân tích mâu thuẫn biện chứng
trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay

A- Đặt vấn đề
Việt Nam trong công cuộc đổi mới đã thực sự đem lại nhiều kết quả to lớn, làm
thay đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và
chế độ XHCN, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Chúng ta có
được những thành công rực rỡ ấy là nhờ rất nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như
khách quan. Song nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi
mới đó là chiến lược phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, được khởi
xướng từ Đại hội Đảng lần thứ VI.
Bên cạnh những thành tựu to lớn ấy, chúng ta còn rất nhiều mặt hạn chế do chính
nền kinh tế thị trường (KTTT) đem lại, mặt khác từ một đất nước có nền kinh tế nghèo
nàn lạc hậu, chúng ta bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để xây dựng thời kỳ quá độ
chủ nghĩa, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, những tàn dư của chế độ tập trung quan liêu
bao cấp vẫn còn tồn tại khá nhiều. Khi chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý

hội: sản xuất đình đốn, lạm phát tăng vọt đất nước bị bao vây kinh tế, đời sống nhân
dân hết sức khó khăn. Trong thời kỳ này mọi hoạt động kinh tế không diễn ra trên thị
trường, quan hệ hàng hoá - tiền tệ bị xem nhẹ, các quy luật của KTTT không được
nhận thức vận dụng, các đòn bẩy kinh tế như lợi nhuận, tiền lương, giá cả, thuế bị
xem nhẹ, thay vào đó là quan hệ cấp phát hiện vật, sản xuất theo kế hoạch Nhà nước,
các chỉ tiêu kinh tế các quyết định kinh tế được soạn thảo từ Nhà nước, làm cho thị
trường bị biến dạng dẫn đến làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, đã dẫn đến
khủng hoảng kinh tế.
Chính thực tiễn đó buộc Việt Nam phải có nhận thức mới về nền kinh tế XHCN.
Đó là nền KTTT theo định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhà nước.
Như đã biết, vào cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ, đầu thời kỳ xã hội nô lệ loài
người đã có một bước tiến nhảy vọt trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất. Trong
sản xuất đã bắt đầu có sản phẩm thặng dư, mặc dù lúc đầu sự dư thừa đó chỉ là ngẫu
nhiên, nhưng cùng với chế độ tư hữu được xác lập, người lao động đã có thể làm chủ
những sản phẩm "dư thừa" đó, mang trao đổi với nhau để nhận lại những sản phẩm mà
mình thiếu do kết quả của phân công chuyên môn hoá đưa lại. Thị trường sơ khai xuất
hiện từ đó.

Tuy nhiên, phải trải qua quá trình phát triển lâu dài, mãi đến giai đoạn cuối xã
hội phong kiến đầu xã hội tư bản chủ nghĩa KTTT mới được xác lập hoàn toàn.
KTTT trước hết là kinh tế hàng hoá, với đặc trưng phổ biến của nó là người sản
xuất làm ra sản phẩm với mục đích để bán (để trao đổi) chứ không phải để tiêu dùng,
hay sản phẩm dư thừa ngẫu nhiên như trước. Ngày nay, khi KTTT hiện đại đã phát
triển một cách phổ biến thì đặc trưng cơ bản đó, không những không mất đi mà còn
được bổ sung, làm phong phú thêm bởi các hình thức và nhân dân của quan hệ trao đổi
và vai trò can thiệp của Nhà nước vào quá trình đó.
Như vậy nên KTTT phát triển từ sơ khai đến hiện đại là một công trình sáng tạo
của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi, đó là trình độ văn minh mà nhân
loại đã đạt được. Do đó mọi quan niệm cho rằng KTTT là phát minh riêng của CNTB
là không có căn cứ, việc đồng nhất KTTT với CNTB để rồi né tránh, hoặc sử dụng nó

nói đến điểm xuất phát của ta khi chuyển dịch cơ chế, từ nền kinh tế yếu kém, mang
tính tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi
phải có sự tích luỹ dồi dào, khoa học, công nghệ phát triển và một nền kinh tế vững
mạnh tiếp theo đó là cơ chế quản lý của Nhà nước, mặc dù đường lối của Đảng đặt
ra là đúng đắn, nhưng việc thực hiện nó không còn đồng bộ. ý thức hệ còn chưa được
rõ ràng tác phong cá nhân yếu kém
Mặt khác, bản thân KTTT có xu hướng tự phát, còn định hướng XHCN là hoạt
động có ý thức của con người dựa trên nhận thức các quy luật khách quan của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Đây là một trong những mâu thuẫn cơ bản có quan hệ đến nhiều
mâu thuẫn khác Chính những khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển
KTTT, đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn kìm hãm bước phát triển.
1. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ
bản trong quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thì vấn đề lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp. Xét tiên phương diện triết
học, thì lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hình thức, lực lượng
sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi, và là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất.
Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất lúc
này tỏ ra không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm. Để mở đường cho lực

lượng sản xuất phát triển thì cần thay đổi quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, lạc hậu bằng
quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn phù hợp với lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, nó
là thước đo để đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. ở Việt Nam , mặc dù
Nhà nước đã có rất nhiều chính sách để cân đối sao cho lực lượng sản xuất - quan hệ
sản xuất phát triển song song đồng bộ. Nhưng thực tế cho thấy, khi bắt tay vào xây
dựng và phát triển nền KTTT thì lực lượng sản xuất luôn tỏ ra mâu thuẫn với quan hệ
sản xuất.
Tính cạnh tranh và năng động là một trong những điểm cơ bản của nền KTTT,

định và được pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác
nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh
tranh bình đẳng, đôi bên cùng có lợi, là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền
KTTT định hướng XHCN. Phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từng bước
hình thành tập đoàn kinh tế mạnh.
Tiếp tục đổi mới và phát triển KTNN để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế. Phát triển doanh nghiệp Nhà nước trong những sản xuất và dịch vụ quan
trọng: xây dựng các tổng Công ty Nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốt trong những tập
đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới cơchế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của
doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo cơ chế Công
ty TNHH hoặc Công ty cổ phần. Bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ
trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật
xoá bỏ bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp.
Thực hiện chủ trương cổ phần hoá những doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm
giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động thúc
đẩy doanh nghiệp có hiệu quả.
Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng phát triển hợp tác xã
kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo
điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với nền KTTT.
Hình thành đồng bộ và tiếp tục phát triển hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với
việc xây dựng khuôn khổ pháp lý thể chế, để thị trường hoạt động năng động, có hiệu
quả, có trật tự kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai minh bạch,
hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.
Phát triển thị trường vốn và tiền tệ, tổ chức và vận hành an toàn hiệu quả thị
trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm. Hình thành và phát triển thị trường bất động

sản, thị trường lao động. Tạo điều kiện công ăn việc làm cho người dân từ đó nâng cao
đời sống xã hội.
Và việc cuối cùng là việc đổi mới chế độ sở hữu, đó là mấu chốt quan trọng nhất

thể phá hoại môi trường sống, có thể làm những việc phi pháp, phi đạo đức, phi nhân
tính, để có lợi cho bản thân, làm thất thoát tài sản của Nhà nước Trong trường hợp
này hậu quả do cá nhân đó tạo ra làm ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội.
Chúng ta cần phân biệt lợi ích chính đáng với lợi ích ích kỷ cá nhân. Lợi ích
chính đáng của cá nhân là động lực phát triển của xã hội, là cái mà xã hội phải tôn
trọng và phát huy, còn lợi ích ích kỷ của cá nhân là nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân,
là nguyên nhân đến sự thoái hoá, biến chất, trộm cắp, tham nhũng của một số cá nhân
trong bộ máy của Nhà nước. Nếu xã hội không có những biện pháp tích cực và có hiệu
quả thì những tệ nạn này chẳng những không giảm đi, mà trái lại càng gia tăng, vì
cùng với sự phát triển kinh tế, của cải xã hội, phúc lợi tập thể sẽ tăng lên và những thứ
này lại được giao cho cá nhân trực tiếp quản lý.
Thực tế cho thấy rằng ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tình trạng tham nhũng, suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên là
rất nghiêm trọng. Sở dĩ có tình trạng trên là do nguyên nhân chủ quan trong quá trình
thực hiện đường lối của Đảng:
Việc tổ chức thực hiện Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng chưa tốt, kỷ
luật, kỷ cương chưa nghiêm. Tình trạng tuỳ tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh
thần trách nhiệm, không chấp hành chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp luật, chính sách
của Nhà nước, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho đường lối của Đảng khó
đi vào cuộc sống. Công tác chỉ đạo, điều hành ở các cấp, các ngành còn bất cập, thiếu
kiểm tra, đôn đốc và chưa có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu lực và hiệu quả chưa cao.
Nhiều cán bộ, Đảng viên vi phạm pháp luật và Điều lệ của Đảng còn chưa được xử lý
thật kiên quyết.
Một số quan điểm, chủ trương chưa rõ, chưa có sự nhận thức thống nhất và chưa
được thông suốt ở các cấp, các ngành. Cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên
quyết, hiệu quả thấp. Tổ chức bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh, trùng lặp chức năng
với nhiều tầng nấc trung gian và những thủ tục hành chính phiền hà, không ít trường
hợp trên và dưới, trung ương và địa phương hành động không thống nhất, gây khó
khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội và là giảm động lực phát triển. Một số người và

đoán, lôi cuốn họ vào thị trường trao đổi và trở thành chủ thể của sự vận hành kinh tế.
KTTT đòi hỏi mọi người phải quan tâm đến giá trị của sản phẩm lao động tức là phải
quan tâm đến hiệu quả kinh tế trong nhận thức và hoạt động của con người. Nếu như

trước đây chúng ta quá nhấn mạnh đến giá trị tinh thần mà xem nhẹ lợi ích vật chất,
không quan tâm đến lợi ích cá nhân, thì giờ đây cơ chế thị trường đòi hỏi phải nhìn
nhận đúng mức lợi ích vật chất và lợi ích cá nhân là động lực của sản xuất. KTTT làm
biến đổi những chuẩn mực đánh giá năng lực và phẩm chất con người, cũng như
những định hướng giá trị xã hội.
Bản chất của KTTT là cạnh tranh, năng động và sáng tạo không ngừng. Nó đòi
hỏi mỗi người phải nỗ lực, độc lập và sáng tạo trong hoạt động của mình để có thể
vượt lên thực tại, đứng vững và khẳng định mình trong thử thách. KTTT là một loại
hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh tế giữa con người với con người được
biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ
trên thị trường. Trong KTTT, các quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển, mở rộng, bao
quát trên mọi lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và tiêu dùng. KTTT
phản ánh đầy đủ trình độ văn mình và phát triển xã hội, là nhân tố phát triển sức sản
xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, KTTT cũng có những
khuyết tật như: sự cạnh tranh lạnh lùng, tính tự phát mù quáng dẫn đến phá sản, thất
nghiệp, khủng hoảng chu kỳ
Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta đã thấy rằng đổi mới ở nước ta hiện
nay, không thể xây dựng con người nếu thiếu yếu tố KTTT. Do hậu quả của nhiều năm
chiến tranh, nền kinh tế kém phát triển, mô hình kinh tế không còn phù hợp, nước ta
đã bị tụt hậu nghiêm trọng so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong bối
cảnh đó, KTTT là điều kiện rất quan trọng đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng
hoảng và đi vào phục hồi, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, bắt kịp bước tiến của thời đại.
Trong những năm qua, KTTT ở nước ta đã được nhân dân hưởng ứng rộng rãi,
và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, làm cho nền kinh tế sôi động hơn. Đây là kết quả
đáng mừng và cần được phát huy, nó thể hiện sự vận dụng đúng đắn các quy luật
khách quan của xã hội. Quá trình biện chứng đi lên CNXH từ khách quan đang trở

mục tiêu xây dựng con người CNXH. Việc áp dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải
nâng cao năng lực quản lý tầm vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác nhận đầy đủ chế độ
tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Thực hiện tốt vấn đề này sẽ phát huy được
những tác động tích cực to lớn, cũng như ngăn ngừa hạn chế khắc phục những tiêu
cực, khiếm khuyết của nền KTTT. Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào
phục vụ công cuộc xây dựng nguồn lực con người cần phải tiến hành các hoạt động
văn hoá, giáo dục nhằm loại bỏ tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường
các giá trị nhân văn. Phải ra sức phát huy các giá trị tinh thần nhân đạo, thẩm mỹ cácdi

sản văn hoá nghệ thuật của dân tộc. Đây chính là công cụ, phương tiện quan trọng để
tác động góp phần giải quyết những mâu thuẫn nêu trên.
4. Mâu thuẫn giữa KTTT với việc thực hiện công bằng xã hội.
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là những vấn đề gay cấn trong nền
KTTT, đặc biệt là thị trường tự do. Quan niệm và giải quyết mối quan hệ này ở từng
nước có khác nhau, tuỳ theo mô hình phát triển kinh tế, chế độ chính trị - xã hội,
truyền thống văn hoá của nước đó.
Nhìn chung, trong các nền KTTT ở các nước phương Tây các nhà lý luận chỉ đề
cao các nhân tố kinh tế và kỹ thuật của sự tăng trưởng mà không chú ý thoả đáng đến
các nhân tố xã hội, nhân tố con người. Họ ra sức chứng minh: tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội là 2 mục tiêu mâu thuẫn không thể dung hoà. Nếu muốn tăng trưởng
nhanh thì phải hy sinh công bằng xã hội. Còn nếu để cao công bằng xã hội thì không
tăng trưởng được theo họ, bất bình đẳng xã hội không chỉ là kết quả của tăng trưởng
kinh tế mà còn là nguyên nhân của sự tăng trưởng ấy.
Đất nước ta đã trải qua hơn 15 năm đổi mới. Việc phát triển nền KTTT đã có
nhiều tác dụng tích cực đến mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực
kinh tế. Song cơ chế thị trường cũng tạo ra nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội, trong
đó, công bằng xã hội là một trong những vấn đề gay cấn nhất. Với cơ chế quản lý kế
hoạch hoá tập trung nền kinh tế và quan liêu bao cấp đối với mọi hoạt động xã hội
trước đây đã làm cho chúng ta tự bằng lòng với mình rằng chúng ta đã có CNXH, và
đã lầm tưởng "chủ nghĩa bình quân" là công bằng xã hội, mà thực chất, đó chỉ là sự

cơ sở, điều kiện thuận lợi cho phát triển xã hội, ngược lại, phát triển xã hội tạo ra động
lực phát triển đất nước, trong đó trước hết là chủ yếu là phát triển kinh tế.
Như vậy, công bằng xã hội là vấn đề rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội Trong thời gian đó, ở nước ta, để tăng trưởng kinh tế
gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, vai trò của Nhà
nước phải được tăng cường trên các mặt.
Thứ nhất: Nhà nước phải tạo ra môi trường, điều kiện cho phát triển sản xuất thu
hút lao động, giải quyết việc làm.
Thứ hai: Nhà nước cần tưng cường đầu tư cho giáo dục - đào tạo, dạy nghề, nhất
là ở các vùng nông thôn, miền núi.
Thứ ba: Nhà nước cần có chính sách bảo trợ xã hội đối với những người tàn tật,
cô đơn, mất sức lao động. Một xã hội công bằng, văn minh là xã hội có nền kinh tế
phát triển cao, con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, được tự do, ấm no,
hạnh phúc, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, đồng thời, mọi người có sự quan

tâm đến nhau. Con người không chỉ là chủ thể của xã hội, của sự phát triển, mà còn là
chủ thể của tương lai vì sự phát triển nhanh, bền vững, vì sự tiến bộ, công bằng xã hội
và môi trường nhân tính và văn hoá.
III- Những biện pháp khắc phục, hoàn thiện cơ chế KTTT theo định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay.
Nước ta đã và đang đặt nền kinh tế vào quỹ đạo của nền KTTT và dang ở giai
đoạn vận hành cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XHCN sao cho trôi chảy thuận lợi để đưa sự nghiệp CNH - HĐH đi tới thành công.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:
"Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xoá bỏ cơ chế tập trung quan
liêu, bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN" Việt Nam sau những năm đổi mới đã đạt được những
kết quả rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tiếp tục có những biện pháp
nhằm hoàn thiện hơn nữa cơ chế kinh tế ở nước ta hiện nay.
1. Tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hoá trên cơ sở tôn trọng và sử dụng các

Mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trong công cuộc đổi mới và đã đạt được
rất nhiều thành tưụ to lớn. Song đứng trước xu thế phát triển không ngừng của thế giới,
chúng ta vẫn phải luôn phấn đấu về mọi mặt: kinh tế cũng như đời sống xã hội.
Kinh tế thị trường - với mặt trái của nó là điều hoàn toàn không thể tránh khỏi.
Đảng và Nhà nước ta đã khéo léo vận dụng những ưu điểm của kinh tế thị trường để
phát triển nền kinh tế nước nhà, đó là sự vận dụng có sự phù hợp với điều kiện khách
quan cũng như chủ quan. Để giảm bớt những tiêu cực, những mâu thuẫn xung quanh
vấn đề phát triển nền kinh tế thị trường thì sự quản lý của Nhà nước đóng vai trò rất
quan trọng.
Một xã hội phát triển hài hoà các mặt kinh tế, đạo đức, văn hoá thực chất đó là
một xã hội đậm đà tính người.
Vì vậy có thể nói, khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN mà chúng ta
xây dựng đồng nghĩa với khái niệm kinh tế thị trường nhân văn. Phấn đấu từng bước
đạt tới những mục tiêu của nền kinh tế thị trường nhân văn đó chính là từng bước
chúng ta thực hiện lý tưởng nhân văn của nhân loại. Và cũng chính vì vậy, công cuộc
xây dựng và phát triển đất nước ta hôm nay hoà được vào dòng chảy chung của nhân
loại, chúng ta được cả cộng đồng tiến bộ trên thế giới hưởng ứng và ủng hộ. Chúng ta
đang đi trên con đường mà Đảng và Nhà nước đã lựa chọn và chúng ta tin rằng Đảng
sẽ lái con thuyền Việt Nam cập tới bến bờ vinh quan và hạnh phúc.
Danh mục tài liệu tham khảo 1. TS. Đào Duy Huân "Mối quan hệ giữa KTTT và định hướng XHCN ở Việt Nam"
Báo PTKT số 105 năm 1999.
2. Nguyễn Chí Mỹ "Sự biến đổi thang giá trị đạo đức trong nền KTTT với việc xây
dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay" CTQG, 1999.
3. Mai Ngọc Cường "KTTT định hướng XHCH ở Việt Nam" CTQG, 2001.

III- Những biện hpáp khắc phục hoàn thiện cơ chế KTTT theo định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay.

C- Kết luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status