§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài : “Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay”
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
1
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.....................................................................................................1
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.......3
I. Tính tất yếu khách quan vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với
nền kinh tế thị trường.....................................................................................3
1. Những điều kiện hình thành nền kinh tế hàng hoá và nền kinh tế thị trường
...........................................................................................................................3
2. Các giai đoạn phát triển của nền KTTT........................................................5
3. Những ưu, khuyết điểm của nền KTTT........................................................6
II. Cơ chế thị trường ở nước ta và các đặc điểm, đặc trưng của KTTT
định hướng XHCN..........................................................................................9
1. Đặc điểm của cơ chế thị trường hiện nay......................................................9
2. Đặc trưng cơ bản của nền KTTT theo định hướng XHCN ở Việt Nam.....11
PHẦN II: THỰC TRANG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN
LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KTTT..........................................14
I. Thực trạng vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước..................................14
1. Thành tựu.....................................................................................................14
2. Hạn chế........................................................................................................19
3. Nguyên nhân................................................................................................21
4. Nội dung công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước..........................................23
II. Giải pháp để tăng cường vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước trong
nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay....................................25
1. Chính sách tài chính....................................................................................25
tích, và theo em thì dường như mọi người đã có những nhận định khá toàn
diện về những ưu, những khuyết của nền kinh tế thị trường. Nhưng vấn đề
chính lại là ở chỗ khi chung ta đã quyết tâm đi theo xây dựng nền kinh tế thị
trường rồi thì chúng ta phải làm như thế nào, phải dùng những công cụ nào và
ai là người đứng ra sử dụng những công cụ đó để hạn chế những khuyết tật,
phát huy những ưu điểm của nó.
Từ những lý do trên em lựa chọn đề tài : “Vai trò kinh tế của Nhà nước trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay”
Đi theo những định hướng nội dung mà thầy giáo đã cung cấp, em sẽ cố gắng
nêu được trọn vẹn bốn ý chính:
- Làm rõ tính tất yêu khách quan vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với
nền kinh tế.
- Làm rõ những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường theo đinh hướng
XHCN ở nước ta.
- Phân tích những mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước.
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
3
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
- Nêu được một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới và tăng cường vai trò kinh
tế của Nhà nước ta hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu về đề tài này, em đã cố gắng hết sức, song em tin
chắc mình không thể tránh khỏi những thiếu xót. Dù vậy, em cũng mong rằng
bài viết của em được kết quả tốt, được thầy giáo đánh giá cao.
PHẦN I
Lí LUẬN CHUNG VỀ VAI TRề KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VAI TRÒ QUẢN LÝ VĨ MÔ CỦA
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
lựa chọn bạn hàng giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh.
Trong một nền kinh tế có nhiều chủ thể cùng sản xuất một loại sản
phẩm; và ngược lại mỗi chủ thể sản xuất và tiêu dùng cũng cần nhiêu loại
hàng hoá khác nhau. Việc tự do lựa chọn, xây dựng các mối quan hệ bạn hàng
là điều kịên không thể thiếu được để các chủ thể kinh tế lựa chọn cho mình
những phương án tối ưu. Đó là một điều kiện rất quan trọng bảo đảm cho nền
KTTT phát triển.
Trước đây trong đIều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ yếu tố
đầu vào, đầu ra, sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, bằng cách nào và phân
phối theo địa chỉ nào…tất cả đều theo một hệ thống pháp lệnh chi tiết, cụ thể
theo kế hoạch. Do vậy các quan hệ thị trường trao đổi ngang giá không còn
đúng nghiã nữa mà biến dạng đi rất nhiều.
Thứ ba : Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuân theo những quy luật
của thị trường, theo giá cả thị trường.
+ Quy luật giá trị đòi hỏi : hao phi lao động cá biệt của mỗi đơn vị sản
phẩm của chủ thể sản xuất kinh doanh bất kì phải nhỏ hơn hao phí lao động
xã hội để sản xuất ra đơn vị sản phẩm cùng loại trong cùng một thời gian và
không gian nhất định. Đó là điều kiện tiên quyết cho các chủ thể sản suất kinh
doanh tồn tại và phát triển.
+Trong nền KTTT, một sản phẩm hàng hoá trao đổi phải thông qua giá
cả thị trường. Giá cả là hình thái biểu hiện bằng tiền của giá trị, có thể cao
hơn hay thấp hơn đối với một số hàng hoá nào đó. Song giá cả vẫn xoay
quanh trục giá trị, xét trên một thời gian dài tổng giá cả luôn bằng tổng giá trị.
Và giá cả thị trường là hạt nhân của cơ chế thị trường.
Muốn hình thành và phát triển KTTT, mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh đều phải tuân thủ giá cả thị trường. Đương nhiên giá cả thị trường
không phải là yếu tố duy nhất có tác động quyết định đến người sản xuất. Căn
cứ vào yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế, Nhà nước có thể cần phải
điều tiết giá cả ở một số mặt hàng thiết yếu quan trọng có, liên hệ chặt chẽ
đến sự ổn định đời sống kinh tế xã hội, có lợi cho quốc kế dân sinh nhằm hạn
Thứ nhất: Thúc đẩy sản xuất, gắn sản xuất với tiêu thụ-mục tiêu của sản
xuất. Do đó người ta tìm mọi cách rút ngắn chu kì sản xuất, thục hiện tái sản
xuất mở rộng, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ…nhằm đat được
lợi nhuận tối đa
Thứ hai: Thúc đẩy và đòi hỏi các nhà sản xuất năng động thích nghi với
các điều kiện biến động của thị trường. Thay đổi mẫu mã sản xuất, tìm mặt
hàng mới và thị trường tiêu thị, mở rộng quan hệ trong kinh doanh, tìm cách
đạt lợi nhuận tối đa.
Thứ ba: Thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ, kích thích tăng
năng suất lao động , nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất và nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành, đáp ứng yêu cầu nhiều mặt của khách hàng và
của thị trường
Thứ tư: Thúc đẩy sự tăng trưởng dồi dào của sản phẩm hàng hoá dịch
vụ, thúc đẩy và kích thích sản xuất hàng hoá phát triển, đề cao trách nhiệm
của nhà kinh doanh đối với khách hàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
xã hội.
Thứ năm: Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản, tập trung sản
xuất. Tích tụ và tập trung sản xuất là hai con đường để mở rộng quy mô sản
xuất. Một mặt, các đơn vị chủ thể làm ăn giỏi, có hiệu quả cao cho phép mở
rộng quy mô sản xuất. Mặt khác, chỉ những đơn vị làm ăn có hiệu quả thì
mới tồn tại, mới đứng vững được trên thị trường. Chính quá trình cạnh tranh
kinh tế là động lực thúc đẩy tích tụ và tập trung sản xuất.
b/ Những khuyết tật của nền KTTT.
Thứ nhất: Nền KTTT mang tính tự phát tìm kiếm lợi nhuận bằng bất kì
giá nào, không đi đúng hướng của kế hoạch nhà nước, mục tiêu về phát triển
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
6
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. Tính tự phát của thị trường còn dẫn đến tập
trung hoá cao, sinh ra độc quyền, thủ tiêu cạnh tranh, làm giảm hiệu quả
cổ điển, hoang dã tuân theo sự điều khiển của “bàn tay vô hình”
cung_cầu_giá cả thì sự vận động của nền KTTT có sự quản lý (điều khiển,
điều tiết) của Nhà nước tuân theo sự điều khiển song hành, tức là sự tác động
cùng một lúc của hai yếu tố :Yếu tố tự vận động bởi quan hệ cung_cầu và yếu
tố nhà nước tức là vai trò của Nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế. Theo
bản chất của mình, nền KTTT có sự quản lý của nhà nước không chỉ vận
động theo CCTT, cũng không chỉ vận động theo cơ chế chỉ huy mà vận động
bởi sự tác động đồng thời của hai cơ chế ấy. Chính vì vậy người ta gọi đó là
cơ chế hỗn hợp. Như vậy, nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế vận động theo
CCTT có sự quản lý của Nhà nước.
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
7
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
Trong KTTT, Nhà nước với tư cách là người điều hành, quản lý xã hội, đồng
thời là khách hàng lớn của các chủ thể kinh tế. Nhà nước thường bảo đảm các
dịch vụ bưu điện, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, giao thông vận
tải…Nhà nước dùng pháp luật để điều hành; dùng các chính sách như chính
sách đối nội, đối ngoại, chính sách kinh tế và những công cụ khác để tác
động, vạch ra kế hoạch phát triển, hạn chế những tiêu cực do KTTT sinh ra,
chống khủng hoảng và thất nghiệp v.v..
Sự can thiệp của Nhà nước một mặt nhằm định hướng thị trường, phục vụ tốt
các mục tiêu kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ; mặt khác, nhằm sửa chữa,
khắc phục những khuyết tật vốn có của KTTT, tạo ra những công cụ quan
trọng điều tiết thị trường mà không vi phạm cơ chế tự đIều chỉnh ở tầm vĩ mô.
Bằng cách đó, Nhà nước kiềm chế sưc mạnh nguy hiểm của tính tự phát chứa
đựng trong lòng thị trường, đồng thời phát huy được những ưu thế vốn có của
KTTT.
Cũng từ những khuyết tật mà ta phân tích ở trên của nền KTTT , ta nhận thấy
tính tất yếu khách quan vai trò của Nhà nước đối với nền KTTT mà không
cần thiết phải đi sâu phân tích quá trình lịch sử rồi mới đi đến kết luận.
bước ngoặt trong cơ chế kinh tế.
b/ CCTT còn thiếu đồng bộ, mang nhiều yếu tố tự phát, rối loạn-sản phẩm của
một nền kinh tế cơ bàn là sản xuất nhỏ, của sự yếu kếm của bộ máy quản lý
Nhà nước, tình trạng quan liêu thiếu hiểu biết, thậm chí trì trệ bảo thủ trước
bước ngoặt chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Trước hết có thể thấy thể chế thị trường chưa tạo môi trường ổn định và an
toàn cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt những yếu kém trong thể chế tài chính
tín dụng là lực cản của quá trình chuyển đổi.
CCTT còn thiếu đồng bộ, có sự không ăn khớp giữa hai thị trường: thị trường
hàng hoá thì phát triển khá mạnh mẽ trong khi thị trường các nhân tố sản xuất
thì có sự lạc hậu khá lớn.
Thêm nữa, sự hình thành và vận động của nềnn KTTT còn mang nhiều yêu tố
tự phát, cơ chế vận hành thô sơ tạo điều kiện cho làm ăn bất chính; cơ chế
quản lý thì đổi mới thiếu triệt để tạo mội trường thuận lợi cho tệ nạn tham
nhũng và các mặt tiêu cực của thị trường phát sinh, phát triển.
c/ CCTT có sự quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế định hướng XHCN là
vấn đề vẫn còn mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử và không có mô hình
vạch sẵn. Do vậy không thể ngay từ đầu hình dung toàn bộ các chi tiết của mô
hình thị trường; cũng không thể vạch ngay được một lịch trình cứng nhắc của
bước chuyển mà phải vừa thực hiện CCTT vừa tổng kết để tiếp tục thực hiện.
d/ Chúng ta chủ chương chuyển sang CCTT trên cơ sở ổn định chính trị; lấy
ổn định chính trị làm tiền đề cho ổn định và cải cách kinh tế; mặt khác cũng
cũng nhận thức rõ phải đổi mới mạnh mẽ trong kĩnh vực hành chính, trên cơ
sở đổi mới quản lý Nhà nước, tiếp tục ổn định chính trị đưa cải cách tiến lên
một bước tiến mới, kiên định phát triển kinh tế-chính trị theo con đường
XHCN.
Định hướng XHCN là không thay đổi, tuy vậy cũng có những nhận thức mới
về chủ nghĩa xã hội, khẳng định rằng CNXH có thể sử dụng những công cụ
phổ biến mà CNTB đã từng sử dụng như thị trường , các quan hệ hàng hoá-
tiền tệ, quy luật giá trị v.v.. cho mục tiêu của mình.