Tài liệu Tiểu luận “Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay” doc - Pdf 99


ĐỀ ÁN

VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hồng Huân
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong lịch sử phát triển nền kinh tế của các nước XHCN trên thế giới
nói chung và ở Việt Nam nói riêng, chúng ta chỉ thấy một mô hình kinh tế
thuần nhất đó là mô hình kinh tế chỉ huy tập trung bao cấp. Có thể nói đây là
một mô hình kinh tế kém năng động và khó thích nghi với sự phất triển chung
của kinh tế thế giới, chính vì vậy mà một số các quốc gia và cả nước ta khi áp
dụng mô hình này đã gặp phải nh
ững khó khăn không nhỏ. Từ việc nhận thức

gắng nêu được trọn vẹn bốn ý chính:
- Làm rõ tính tất yêu khách quan vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối
với nền kinh tế.
- Làm rõ những đặc trưng cơ bản c
ủa nền kinh tế thị trường theo đinh
hướng XHCN ở nước ta.
- Phân tích những mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước.
- Nêu được một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới và tăng cường vai trò
kinh tế của Nhà nước ta hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu về đề tài này, em đã cố gắng hết sức, song
em tin chắc mình không thể tránh khỏi những thiếu xót. Dù vậy, em cũng
mong r
ằng bài viết của em được kết quả tốt, được thầy giáo đánh giá cao.

Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
3
PHẦN I
Lí LUẬN CHUNG VỀ VAI TRề KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VAI TRÒ QUẢN LÝ VĨ MÔ CỦA NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

Thứ nhất
: Phải có nền KTHH phát triển, đIều đó có nghĩa là phải có
sự phân công lao động xã hội phát triển, có các hình thức, các loại hình sở
hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.
Thứ hai
: Phải có sự tự do trong trao đổi hàng hoá trên thị trường, tự
do lựa chọn bạn hàng giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh.
Trong một nền kinh tế có nhiều chủ thể cùng sản xuất một loại sản
phẩm; và ngược lại mỗi chủ thể sản xuất và tiêu dùng cũng cần nhiêu loại
hàng hoá khác nhau. Việc tự do lựa chọn, xây dựng các mối quan hệ bạn
hàng là điều kị
ên không thể thiếu được để các chủ thể kinh tế lựa chọn cho
mình những phương án tối ưu. Đó là một điều kiện rất quan trọng bảo đảm
cho nền KTTT phát triển.
Trước đây trong đIều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ
yếu tố đầu vào, đầu ra, sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, bằng cách nào và
phân phối theo địa chỉ nào…tấ
t cả đều theo một hệ thống pháp lệnh chi tiết,
cụ thể theo kế hoạch. Do vậy các quan hệ thị trường trao đổi ngang giá
không còn đúng nghiã nữa mà biến dạng đi rất nhiều.
Thứ ba
: Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuân theo những quy luật
của thị trường, theo giá cả thị trường.
+ Quy luật giá trị đòi hỏi : hao phi lao động cá biệt của mỗi đơn vị sản
phẩm của chủ thể sản xuất kinh doanh bất kì phải nhỏ hơn hao phí lao động
xã hội để sản xuất ra đơn vị sản phẩm cùng loại trong cùng một thời gian và
không gian nhất định. Đ
ó là điều kiện tiên quyết cho các chủ thể sản suất
kinh doanh tồn tại và phát triển.
Đề án kinh tế chính trị

nghĩa quan liêu đòi chế độ tự quản.v.v Nhưng ngay từ đầu đã có sự can thiệp
của bàn tay hữu hình của Nhà nước, đồng thời phải tiến hành sự nghiệp công
nghiệp hoá.
*Giai đoạn 2 : Tạo lập một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh mà ở đó
vai trò của Nhà nước ngày càng tăng. Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô theo đó
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
6
được nâng lên bao hàm một sự biến đổi căn bản trong các hình thức tổ chức
thị trường về cơ cấu quản lý KTTT. Sự tác động qua lại và quy định lẫn nhau
đó, theo nguyên tác tự dovà được kết hợp chặt chễ theo khuôn khổ mục tiêu
của nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước.
*Giai đoạn 3: Những yếu tố mới của sự tiến bộ xã hội (khoa học công
ngh
ệ, dân trí, quốc tế hoá) càng đòi hỏi ở nền KTTT sự phát triển cao, tính xã
hội của nền KTTT càng tăng ,vai trò cuả Nhà nước càng lớn và tương ứng
với nó là sự thay đổi phương thức quản lý thích hợp.
3. Những ưu, khuyết điểm của nền KTTT.
a/ Những ưu điểm của nền KTTT.
Thứ nhất: Thúc đẩy sản xuất, gắn sản xuất với tiêu thụ-m
ục tiêu của sản
xuất. Do đó người ta tìm mọi cách rút ngắn chu kì sản xuất, thục hiện tái sản
xuất mở rộng, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ…nhằm đat được
lợi nhuận tối đa
Thứ hai: Thúc đẩy và đòi hỏi các nhà sản xuất năng động thích nghi
với các điều kiện biến động của thị trường. Thay đổi mẫu mã sản xu
ất, tìm
mặt hàng mới và thị trường tiêu thị, mở rộng quan hệ trong kinh doanh, tìm
cách đạt lợi nhuận tối đa.
Thứ ba: Thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ, kích thích tăng

n kinh tế sa sút, gây rối loạn xã hội. Nhà kinh doanh thường tìm đủ
thủ đoạn, mánh khoé làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, không từ bỏ một thủ
đoạn nào nhằm thu được lợi nhuận tối đa.
Thứ tư: Vì mục tiêu lợi ích cá nhân, dẫn đến sự sử dụng bừa bãi, tàn
phá các nguồn tài nguyên và huỷ diệt một cách tàn khốc tài nguyên môi
trường sinh thái, không còn giữ lại cho đời sau, sự phát triển không bền vững.
Thứ năm: Nền KTTT vận hành theo CCTT, có chế này có thể gây ra sự
mất ổn định thường xuyên, phá vỡ sự cân đối trong nền sản xuất xã hội. Hậu
quả tiêu cực của nó thường đi liền với những vấn đề nan giải. Thực tế phát
triển nền KTTT trong mấy chục năm qua chỉ rõ vấn đề lạm phát, thất nghiệp
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
8
và chu kỳ kinh doanh là những căn bênh kinh niên không thể khắc phục được
nếu không có sự can thiệp của Nhà nước.
Thêm nữa, trong nền KTTT thường tồn tại những ngành nghề kinh tế
thiếu sự cạnh tranh vì ở đó có mức lợi nhuận thấp, số vốn đầu tư lớn, thời
gian thu hồi vốn rất chậm nhưng rất cần cho sự ổn định phát triển kinh tế và
r
ất cần cho việc giải quyết những vấn đề xã hội như: y tế, giáo dục, xây dựng
cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng khác.
Qua trên ta thấy, nền KTTT có khả năng tập hợp tự động được hành động,
trí tuệ và tiềm lực của hàng triệu con người và hướng đến lợi ích chung của
cả xã hội. Nhưng nền KTTT không phải là một hệ thống được tổ chứ
c hài
hoà mà trong hệ thống đó cũng chứa đựng rất nhiều các yếu tố phức tạp và
nan giải. Vì vậy để khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường (CCTT) cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế.
Từ đó hình thành khái niệm CCTT có sự quản lý của nhà nước. Đó là một
dạng đặc biệ

được những ưu thế vốn
có của KTTT.
Cũng từ những khuyết tật mà ta phân tích ở trên của nền KTTT , ta nhận
thấy tính tất yếu khách quan vai trò của Nhà nước đối với nền KTTT mà
không cần thiết phải đi sâu phân tích quá trình lịch sử rồi mới đi đến kết luận.
II. CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM, ĐẶC
TRƯNG CỦA KTTT ĐỊ
NH HƯỚNG XHCN .
1. Đặc điểm của cơ chế thị trường hiện nay.
Có nhiều cách tiếp cận, phân tích, lý giải khác nhau khi nhìn vào sự
vận động của nền kinh tế hiện nay. Trong mục này em xin được trinh bày
những đặc trưng của cơ chế thị trường trên cơ sở nhìn lại những năm đổi mới,
đồng thời có liên hệ đến bước đi, những quá trình có tính quy luật của bước
chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường có cự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN.
Với cách tiếp cận như trên, những đặc điểm lớn của nền kinh tế thị
trường_cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta là:
a/ Từng bước thực hiện những quá trình mang tính quy luật của bước chuyển
từ nên kinh tế tậ
p trung bao cấp sang CCTT có sự quản lý của Nhà nước, với
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
10
tự do hoá thương mại và tự do hoá giá cả là khâu trung tâm đột phá; từng
bước chuyển lên CCTT đích thực.
Cơ chế đó là phát huy vai trò điều tiết của thị trường, hình thành bước
đầu một thị trường canh tranh, làm cho hàng hoá được lưu thông thông suốt,
cung cầu được cân đối, khắc phục tình trạng khủng hoảng thiếu, giá cả ổn
định dần, lạm phát được ngăn chặn.
CCTT đã góp phần thúc

c/ CCTT có sự quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế đị
nh hướng XHCN là
vấn đề vẫn còn mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử và không có mô hình
vạch sẵn. Do vậy không thể ngay từ đầu hình dung toàn bộ các chi tiết của
mô hình thị trường; cũng không thể vạch ngay được một lịch trình cứng nhắc
của bước chuyển mà phải vừa thực hiện CCTT vừa tổng kết để tiếp tục thực
hiện.
d/ Chúng ta chủ chương chuy
ển sang CCTT trên cơ sở ổn định chính trị; lấy
ổn định chính trị làm tiền đề cho ổn định và cải cách kinh tế; mặt khác cũng
cũng nhận thức rõ phải đổi mới mạnh mẽ trong kĩnh vực hành chính, trên cơ
sở đổi mới quản lý Nhà nước, tiếp tục ổn định chính trị đưa cải cách tiến lên
một bước tiến mới, kiên định phát triển kinh tế-chính tr
ị theo con đường
XHCN.
Định hướng XHCN là không thay đổi, tuy vậy cũng có những nhận
thức mới về chủ nghĩa xã hội, khẳng định rằng CNXH có thể sử dụng những
công cụ phổ biến mà CNTB đã từng sử dụng như thị trường , các quan hệ
hàng hoá-tiền tệ, quy luật giá trị v.v cho mục tiêu của mình.
Xuất phát từ thực tế thị trường nước ta đang trong thời kì hình thành và
phát triển, trong nó còn tồn tại những yếu tố mất ổn định. Từ chỗ nền kinh tế
thực chất từ lâu là nền kinh tế nhiều thành phần, nên đã không chủ chương tư
nhân hoá một cách tràn làn, mà chủ chương phát triển một nền kinh tế nhiều
thành phần và xây dựng thành phần kinh tế quốc doanh làm chỗ dựa của Nhà
nước ở các khâu và các lĩnh vực then chốt để nhằm ổn
định cho định hướng
thị trường.
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
12

vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa với KTTT của các nước khác. Tính định hướng
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
13
XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta đã quy định kinh tế nhà nước
phải giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế.
Thứ hai : Trong nền KTTT định hướng XHCN ,thực hiện nhiều hình
thức phân phối thu nhập; phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế,
phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh.
Phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hộ
i, trong đó phân phối theo kết quả
lao động giữ vai trò nòng cốt, đi đôi với chính sách điều tiết thu nhập một
cách hợp lý. Chúng ta không coi bình đẳng xã hội như là một trật tự tự nhiên,
là điều kiện của sự tăng trưởng kinh tế, mà thực hiện mỗi bước tăng trưởng
kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công b
ằng xã
hội.
Như đã biết, mỗi chế độ xã hội có một chế độ phân phối tương ứng với
nó. Chế độ phân phối do quan hệ sản xuất thống trị, trước hết là quan hệ sản
xuất quyết định. Phân phối có liên quan đến chế độ xã hội, chính trị. Dưới
CNTB, việc phân phối tuân theo nguyên tắc giá trị; đối với người lao động
theo giá trị sứ
c lao động. Như vậy thu nhập của người lao động chỉ giới hạn ở
giá trị sức lao động mà thôi. Chủ nghĩa xã hội có đặc trưng riêng về sở hữu,
do đó chế độ phân phối cũng có đặc trưng riêng. Phân phối theo lao động là
đặc trưng riêng của chủ nghĩa xã hội. Thu nhập của người lao động không chỉ
giới hạn ở sức lao động mà nó phải vượ
t qua đại lượng đó, nó phụ thuộc chủ
yếu vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế.

ại hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản
phẩm kỳ mức sản xuất có hiệu quả.
PHẦN II
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ
QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KTTT.

I/ THỰC TRẠNG VAI TRÒ QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC
1/ Thành tựu.
Trong những năm qua nhờ sự quản lý kinh tế chặt chẽ và đúng đắn của
Nhà nước mà nền kinh tế của nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ.
1.1. Công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 2 năm 2005 ước đạt 29.261 tỷ đồng,
tăng 2% so với tháng 2 năm 2005. Tính chung cả 2 tháng, giá trị sản xuất
công nghiệp đạt khoảng 65.414 tỷ đồng, cao hơn mứ
c kế hoạch và tăng 16,1%
so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 15,6%), trong đó khu vực ngoài quốc doanh có
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
15
mức tăng trưởng cao nhất (tăng 27,2%), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và
khu vực doanh nghiệp nhà nước đều tăng thấp hơn mức tăng chung của toàn
ngành (tương ứng là 13,5% và 10,5%).
Nhờ có thị trường tiêu thụ và có công nghệ sản xuất tốt, một số sản phẩm đó
đạt được tốc độ tăng cao là than sạch khai thác tăng 28,3%, thuỷ sản chế biến
tăng 31,7%, ga hoá lỏ
ng tăng 20,1%, sữa hộp tăng 25,2%, bia tăng 24,6%,
phân hoá học tăng 52,8%, thuốc viên các loại tăng 19%, sứ vệ sinh tăng
61,6%, xi măng tăng 6,7%, gạch lát tăng 40,9%, máy công cụ tăng 22,9%,
động cơ điện tăng 85%, ô tô các loại tăng 37%, xe máy các loại tăng 43,5%.
Về địa bàn, địa phương đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ gồm: Vĩnh

cấy. Năng suất thu hoạch ban đầu tương đối khá.
Về thuỷ sản: Tổng sản lượng thuỷ sản 2 tháng đầu năm 2005 ước đạt 507
nghỡn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó sản lượng khai thác
hải sản ước đạt gần 272 nghỡn tấn, bằng 15,5% kế hoạch, tăng 0,35% so với
cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng và khai thác nộ
i địa ước đạt 235 nghỡn tấn, đạt
15% kế hoạch và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.
Về lõm nghiệp: Hai tháng đầu năm 2005 trồng rừng tập trung ước đạt 32,5
nghỡn ha; trồng cõy phõn tỏn ước đạt 64 triệu cây; chăm sóc rừng trồng 33,2
nghỡn ha; khoanh nuụi tỏi sinh và trồng dặm 161,2 nghỡn ha.
1.3. Dịch vụ.
Tháng 2 năm nay trùng với Tết Nguyên đán; thu nhập của các tầng lớ
p
dân cư được cải thiện một bước, nên sức mua của dân cư vào dịp trước và
trong Tết tăng khoảng 20-30% so với Tết năm trước.
Các doanh nghiệp sản xuất và thương mại trong nước đó chủ động sản xuất và
chuẩn bị nguồn hàng dự trữ từ trước Tết nên cung vẫn đáp ứng đủ nhu cầu.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 2 ướ
c đạt 33,59 nghỡn
tỷ đồng; tính chung cả hai tháng đạt 70,24 nghỡn tỷ đồng, tăng 18,5% so với
cùng kỳ (cùng kỳ năm 2003 tăng 10,5%, năm 2004 tăng 16,2%), trong đó
kinh tế nhà nước giảm 3%, thành phần kinh tế cá thể tăng gần 18%, kinh tế tư
nhân tăng 40%, kinh tế tập thể tăng 19% và thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài tăng 45%.
1.4. Xuất nhập khẩu.
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
17
Kim ngạch xuất khẩu tháng 2 ước đạt 1,9 tỷ USD, trong đó các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 650 triệu USD.

Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
18
14,3% kế hoạch). Vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch tháng 2 ước đạt 1.600 tỷ
đồng. Tính chung 2 tháng, nguồn vốn tín dụng đầu tư đạt 2.800 tỷ đồng, bằng
9,3% kế hoạch năm, trong đó nguồn vốn trong nước cho vay theo kế hoạch
thực hiện thấp, chỉ đạt 700 tỷ đồng, bằng 3,8% kế hoạch năm; nguồn vốn
ODA đạt 600 tỷ đồng, bằng 10% kế ho
ạch năm; nguồn vốn đầu tư hỗ trợ xuất
khẩu đạt 1.000 tỷ đồng.
Thu hút vốn ODA: Từ đầu năm đến 21/2/2005 nguồn ODA được hợp thức
hoá bằng việc ký kết các Hiệp định với các nhà tài trợ đạt trị giá khoảng 21
triệu USD, toàn bộ là dự án viện trợ không hoàn lại. Tính chung 2 tháng đầu
năm 2005, ước tổng giá trị giải ngân ODA đạt khoảng 158 triệu USD (trong
đó v
ốn vay khoảng 123 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 35
triệu USD), đạt khoảng 9% so với kế hoạch giải ngân năm 2005. Trong tổng
mức giải ngân 2 tháng, phần vốn vay của 3 nhà tài trợ lớn (JBIC, WB, ADB)
chiếm khoảng 95 triệu USD, tương đương với 77% tổng giỏ trị giải ngõn.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tháng 2 tiếp tục tăng khá, đạt 855 triệu
USD, tăng 554 triệu USD so với tháng tr
ước. Tính chung 2 tháng, tổng vốn
của các dự án được cấp giấy phép mới và đăng ký tăng thêm đạt 1.156 triệu
USD, tăng gần 64% so với cùng kỳ và bằng 25% kế hoạch, trong đó vốn đầu
tư được cấp giấy phép mới là 1.032 triệu USD với 97 dự án, tăng gần 140%
về vốn đăng ký và tăng hơn 21% về số dự án so với cùng kỳ năm trước; vốn
tăng thêm đạt 124 tri
ệu USD với 27 lượt dự án tăng vốn, bằng 45,2% về vốn
và tăng 58,8% về số dự án so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư đăng ký tập trung chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ, chiếm 18,9% về

Bội chi ngân sách ở mức 2.122 tỷ đồng, bằng 5,2% dự toán năm.
Chỉ số giá hàng hoá và dịch vụ tháng 2 tăng 2,5% so với tháng 1 năm 2005,
trong đó lương thực, thực phẩm tăng 4,1% (lương thực tăng 2,5%; thực phẩm
tăng 4,3%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,7%; văn hoá thể thao giải trí tăng
1,7%; hàng hoá và dị
ch vụ khác tăng 1,6%; phương tiện đi lại tăng 0,8%;
hàng may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,5%; các nhóm hàng nhà ở và vật
liệu xây dựng, thiết bị và đồ dùng gia đỡnh, dược phẩm y tế đều tăng 0,4%.
2/ Hạn chế.
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
20
Gắn các hoạt động nghiên cứu khoa học với sản xuất, đáp ứng các yêu
cầu phát triển của xó hội là mục tiờu của các hoạt động nghiên cứu khoa học
được nhà nước ta đặt ra từ rất sớm. Năm 1958, trong Nghị quyết Ban chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (khoá II) đó khẳng định "Khoa học kỹ
thuật là điều kiện khụng thể thiếu trong c
ụng cuộc xõy dựng chủ nghĩa xó hội
(CNXH) ". Tuy nhiên gắn kết giữa hoạt động khoa học và sản xuất là việc
làm khó khăn không chỉ ở nước ta mà là tỡnh trạng khỏ phổ biến ở nhiều
nước trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển. Trong tư duy của các
nhà lập chính sách ở tầm vĩ mô của Việt Nam để chuyển nền kinh tế sang hoạt
động theo cơ
chế thị trường thỡ đây là vấn đề phải giải quyết. Cho đến nay,
qua hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đó cú những chớnh
sỏch khuyến khớch gắn hoạt động nghiên cứu khoa học với sản xuất nhưng
kết quả của nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH&CN) được áp dụng vào
sản xuất vẫn chưa nhiều. Theo các nhà nghiên cứu và qu
ản lý vỡ cú nhiều lý
do khỏc nhau: Phần do ảnh hưởng của phía "cung"- năng lực của các tổ chức

được duyệt, 42 dự án nhóm B bố trí thời gian hoàn thành quá 4 nă
m, 46 dự án
nhóm C bố trí vốn quá 2 năm; Bộ Quốc phũng: 47 cụng trỡnh, dự ỏn nhúm B,
C (thuộc nguồn vốn ngân sách tập trung) chưa có thiết kế kỹ thuật, tổng dự
toán được duyệt, 41 dự án nhóm B, C bố trí vốn để hoàn thành vượt quá thời
gian quy định.
Bước đầu tổng hợp kế hoạch phân bổ vốn đầu tư năm 2005 của 49 tỉnh,
thành phố có 1.007 dự án nhóm B, C tương
ứng với 2.360 tỷ đồng bố trí vốn
hoàn thành vượt quá thời gian quy định. Một số địa phương bố trí vốn đầu tư
cũn phõn tỏn như bỡnh quõn 1 dự ỏn nhúm C của tỉnh Phỳ Thọ là 0,63 tỷ
đồng/dự án, Quảng Ninh 0,52 tỷ đồng/dự án, Hà Tĩnh 0,62 tỷ đồng/dự án,
Nam Hà 0,34 tỷ đồng/ dự án.
Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư đang
phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát kế hoạch phân bổ vốn đầu tư của
các Bộ, ngành và địa phương, đồng thời tổng hợp tỡnh hỡnh triển khai kế
hoạch đầu tư phát triển năm 2005 của các Bộ, ngành và địa phương để báo
cáo Chính phủ trong quý I năm 2005. Một số sai sót trong việc triển khai phân
bổ vốn đầu tư của các đơ
n vị so với quy định đó được Bộ Kế hoạch và Đầu tư
có ý kiến bằng văn bản.
Đề án kinh tế chính trị
SV: Nguyễn Hồng Huân - Lớp: CN 44C
22
Nhỡn chung, tiến độ thực hiện các dự án và kết quả giải ngân vốn đầu
tư cũn chậm. Tổng số kế hoạch vốn đó phõn bổ cho cỏc dự ỏn năm 2003 và
năm 2004 là 10.277 tỷ đồng; giá trị khối lượng hoàn thành đề nghị thanh toán
đến ngày 31/12/2004 đạt 6.670,8 tỷ đồng bằng 64,9% kế hoạch đó giao; trong
đó các dự án thuộc Trung ương quản lý đạt 6.151,8 tỷ đồ

- Giải phóng mặt bằng chậm, điển hỡnh là cỏc dự ỏn giao thụng triển khai
trờn địa bàn các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Sơn La, Tuyên
Quang, Hà Giang, Hà Nội,… , các dự án thuỷ lợi triển khai tại tỉnh Hà Tây.
- Công tác đấu thầu của một số dự án chậm.
- Cụng tác nghiệm thu khối lượng, hoàn thành thủ tục thanh toán giữa Bên A
và B để gửi đến cơ quan cấp phát thanh toán vốn vẫn c
ũn chậm, mặc dự khối
lượng thực hiện thực tế tại hiện trường là khá lớn.
Nguyên nhân chỉ số giá tiêu dùng tăng cao chủ yếu do sức mua có khả
năng thanh toán của xó hội trong dịp Tết Nguyờn đán tăng khoảng 20-30% so
với năm ngoái (do thực hiện chế độ tiền lương mới, tiền thưởng cho người lao
động của các doanh nghiệp trong dịp Tết, cùng với lượ
ng ngoại tệ, kiều hối
chuyển về nước chi dùng dịp Tết nhiều hơn); ngoài ra cũn do ảnh hưởng của
dịch cúm gia cầm kéo giá các loại thực phẩm khác tăng cao.
Tuy nhiên, đáng chú ý là chỉ số giỏ hai thỏng đầu năm tuy thấp hơn mức tăng
của cùng kỳ năm trước nhưng sau Tết mức giá hàng hoá hầu như không giảm
theo quy luật, vỡ vậy đũi hỏi cú sự
quản lý và điều hành giá cả hợp lý nhằm
bảo đảm chỉ số giá trong những tháng tới tăng trong tầm kiểm soát và không
vượt quá mức tăng giá do Quốc hội đó thụng qua.
4/ Nội dung công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước.
1.1. Hệ thống pháp luật.
Hệ thống pháp luật là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước , nó tạo
ra khuôn khổ pháp luật cho các chủ thể kinh tế hoạt
động , phát huy mặt tích
cực và han chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường , đảm bảo cho nền kinh tế
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Hệ thống pháp luật bao trùm
mọi hoạt động kinh tế xã hội , bao gồm những điều luật cơ bản về hoạt động
của các doanh nghiệp ( Luật doanh nghiệp ) , về hợp đồng kinh tế , về bả

- Chính sách tài chính: Đặc biệt là ngân sách Nhà nước có ảnh hưởng
quyết định đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và xa hội. Thông qua việc
hình thành và sử dụng ngân sách Nhà nước, Nhà nước điều chỉnh phân bố các
nguồn lực kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, đảm bảo công bằng trong phân
phối và thực hiệ
n các chức năng của mình. Nội dung của ngân sách Nhà nước
bao gồm các khoản thu và các khoản chi. Bộ phận chủ yếu của các khoản thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status