LUẬN VĂN: Sự cần thiết khách quan phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta - Pdf 10

LUẬN VĂN:

Sự cần thiết khách quan phải phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta
Nội dung
I. Sự cần thiết khách quan phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta.
1. Kinh tế thị trường và những đặc trưng của nó.
1.1 Thế nào là kinh tế thị trường.
Về phương diện kinh tế có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất và đới
sống xã hội của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hôị, hai thời đại kinh tế
khác hẳn nhau về chất. Đó là: thời đại kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp và thời đại kinh tế
hàng hoá mà giai đoạn cao của nó được gọi là kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng, là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản.
Đó là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại, nó đã từng tồn tại và phát triển qua
những phương thức sản xuất khác nhau. Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của
kinh tế hàng hoá, cũng đã trải qua giai đoạn phát triển. Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn
chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường. Giai đoạn thứ hai là giai
đoạn phát triển kinh tế thị trường tự do. Đặc trưng quan trọng của giai đoạn này là sự
phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do Nhà nước không can thiệp vào hoạt động
kinh tế. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại. Đặc trưng của giai đoạn
này là Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu kinh tế với nước
ngoài. Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường thông qua việc xây dựng các
hình thức sở hữu Nhà nước, các chương trình khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, cùng với
việc sử dụng các công cụ kinh tế như tài chính, tín dụng, tiền tệ, … để điều tiết nền kinh
tế ở tầm vĩ mô. Sự phối hợp giữa Chính phủ và thị trường trong một nền kinh tế hỗn hợp
nhằm bảo đảm sự phát triển có hiệu quả của những nước có mức tăng trưởng kinh tế
nhanh.
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá tự phát sẽ “hàng ngày, hàng
giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản” (nói theo cách nói của VI.Lê-nin) và sự phát triển của kinh tế
Ba là, giá cả được hình thành ngay trên thị trường, vừa chịu tác động của quan hệ
cạnh tranh, quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ.
Bốn la, cạnh tranh là một tất yếu của nền kinh tế thị trường, có nhiều hình thức cạnh
tranh phong phú vì mục tiêu lợi nhuận.
Năm là, kinh tế thị trường là kinh tế mở.
2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN và yêu cầu của nó.
2.1 Thế nào là định hướng XHCN.
Định hướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường đã được báo cáo
chính trị tại Đại hội VIII chỉ rõ vơí các nội dụng sau:
Một là, thực hiện nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần lấy việc giải phóng sức sản xuất động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và
bên ngoài cho công cuộc công nghiệp hoá, hiên đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã
hội, cải thiện đời sông của nhân dân là mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát
triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh.
Hai là, chủ động đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, kinh tế
hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã. Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo cùng với kinh
tế hợp tác xã trở thành nền tảng. Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà
kinh tế tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài. Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết
giữa kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế khác cả ở trong và ngoài nước.
Ba là, xác lập củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong nền sản
xuất xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngày càng tốt hơn.
Bốn là, thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và
hiệu quả kinh tế làm chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp của các nguồn
lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Thừa
nhận sự tồn tại lâu dài các hình thức thuê mướn lao động nhưng không để biến thành
quan hệ thống trị, dẫn đến sự phân hoá xã hội thành hai cực đối lập phân phối và phân
phối lại hợp lý các thu nhập, khuyến khích làm giầu hợp pháp đi đôi với xoá đói , giảm


cực, bảo vệ lợi ích người lao động.
- Thực hiện phân phối chủ yếu kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối
theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua
phúc lợi xã hội.
- Tăng trưởng kinh tế gắn liền và đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội ngày càng từng
bước phát triển.
- Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá và giáo dục, xây dựng nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác-lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí,
giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
2.3 Những yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
Nền kinh tế thị trường khác hẳn với nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Nghiên
cứu dưới góc độ quân điểm toàn diện chúng ta nhận thấy rằng một mặt kinh tế thị trường
làm cho cạnh tranh kết thúc đẩy khoa học phát triển, tiếp thu được những công nghệ và bí
quyết mới. Nhưng mặt khác cũng làm cho hàng loạt các xí nghiệp, doanh nghiệp bị phá
sản.
Về mặt tích cực.
Kinh tế thị trường tạo ra được những con người năng động, quyết đoán có được kinh
nghiệm sau những lần cạnh tranh thắng lợi hay thất bại của mình nhằm.
+ Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nâng cao năng suất lao động xã hội.
+ Đẩy mạnh quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất.
+ Đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất.
+ Kích thích nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, hàng hoá dịch vụ dồi
dào và luôn được cải tiến. + Tăng tính năng động và điều chỉnh của nền kinh tế.
+ Thúc đẩy tiêu dung đổi mới công nghệ.
+ Nâng cao năng lực quản lý.
Về mặt tiêu cực và hạn chế.

tính chất TBCN, là sự phát triển cổ điển. Sự phát triển đem lại sự giầu có, phồn vinh,
hạnh phúc cho đại đa số nhân dân lao động, cho toàn thể xã hội, thì sự phát triển đó mang
tính chất chủ nghĩa là sự phát triển hiện đại. Cuộc đấu tranh cách mạng trường kỳ gian
khổ và quyết liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giả phóng nhân dân lao động, đem lại hạnh phúc và
giầu có cho nhân dân lao động. Vì vậy sự phát triển của Việt Nam trong hiện tại và tương
lai phải là sự phát triển vì sự giầu có, nước mạnh, mà còn bao hàm vấn đề quan trọng
mang tính hiện đại là thiết lập một tổ chức xã hội, một trật tự xã hội với nội dung công
bằng và văn minh. Nhà nước XHCN của dân do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam là đIều quan trọng đảm bảo thực hiện sự định hướng đó. Kinh tế thị
trường định hướng XHCN là sự tìm tòi, thể hiện mới cả về lý luận và thực tiễn của
CNXH trong thời đại hiện nay.
II. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong những
năm đổi mới thực trạng và phương hướng giải quyết.
1.Quan điểm của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đảng ta không coi cơ chế thị trường là liều thuốc vạn năng và khuyến khích phát
triển với bất cứ giá nào. Nếu tuyệt đối hoá nền kinh tế thị trường thì sẽ rơi vào một sai
lầm nguy hiểm từ phía khác. Bởi vì kinh tế thị trường vốn có những hạn chế, khuyết tật,
có tính tự phát bướng bỉnh và sự cạnh tranh quyết liệt; nó là môi trường thuận lợi để phát
sinh nhiều tiêu cực và tệ nạn xã hội. Thực tế những năm qua, việc áp dụng cơ chế thị
trường bên cạnh những mặt tích cực chúng ta phải trả giá không ít hiện tượng tiêu cực
như: lối làm ăn chạy theo lợi nhuận đơn thuần đãn đến lừa đảo, hối lộ, chốn thuế, thương
mại hoá tràn lan, làm cho giá trị đạo đức tinh thần đảo lộn và xuỗng cấp nhanh, lối sống
ích kỷ thực dụng thấp hèn có nguy cơ tái phát Bản chất chế độ mới không cho phép tồn tại những hiện tượng như vậy. Đảng ta
vạch rõ nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang áp dụng phải là nền kinh tế có sự quản
lý, hướng dẫn, điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN. Sự quản lý của nhà nước
đảm bảo cho kinh tế thị trường phát triển đúng đắn, chăm lo lợi ích của nhân dân, vì con

của chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng dẫu sao ĐạI hội VI chưa dùng
khái niệm kinh tế thị trường, cơ chế thị trường và nói đến phát triển hàng hoá còn dè dặt,
chưa bao quát hết các mặt của nó.
Phải đến hội nghị lần thứ 6 của ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VI (tháng 3-
1989) trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nhấn mạnh: phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế
hoạch gồm nhiều thành phần đi lên CNXH là vấn đề có ý nghĩa có chiến lược lâu dài, có
tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế cơ chế
thị trường … phải được vận dụng nhất quán trong kế hoạch hoá và chính sách kinh tế.
Các nghị quyết sau Đại hội VI của Đảng, nhất là về phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần … đã được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đi sâu vào cuộc sống rất nhanh,
góp phần khơi dậy nhiều tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho nền kinh tế
sống động hơn, các hoạt động kinh doanh, dịch vụ sôi động hơn, bộ mặt thị trường thay
đổi nhộn nhịp hơn. Có thể nói, một trong những thành tựu nổi bật về đổi mới kinh tế
trong những năm nay là chúng ta đã bước đầu chuyển được nền kinh tế từ chỗ mang nặng
tính hiện vật, tự cung tự cấp với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Điều này
mọi người, mọi nhà đều cảm thấy được, bạn bè trên thế giới thấy rất rõ. Ví dụ như: trong
giai đoạn 1986 – 1990 đầu tư toàn xã hội trung bình là 12,5% GDP, tăng trưởng kinh tế
trung bình là 3,9%, kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 1,3 tỷ USD/năm, về lạm phát năm
1986 là 774,7% đến năm 1990 giảm xuống còn 67,1% (nguồn: Tổng cục thống kê).
2.2 Giai đoạn từ 1991-2000.
Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát hơn vấn đề
kinh tế thị trường. Đại hội cho rằng phát triển “Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước là hoàn toàn cần thiết để giải
phóng và phát huy được các tiềm năng sản xuất trong xã hội”. Trong chiến lược ổn định
và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 và Báo cáo chính trị tại Đại hội đã nêu rõ: thị
trường ở nước ta bao gồm cả thị trường hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ và thị trường các yếu
tố sản xuất (vốn, tiền tệ, ngoại hối …) cả thị trường tư liệu sản xuất và thị trường sức lao

Trong 5 năm (1996 – 2000) đ]ợc xác định là bước rất quan trọng của thời kỳ phát
triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển
của kế hoạch 5 năm (1996 –2000) đã được xây dựng với mức phấn đấu rất cao, cả về tốc
độ, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế. Việc chuyển từ giai đoạn lấy ổn
định kinh tế xã hội làm trọng tâm sang giai đoạn lấy phát triển làm trọng tâm đặt ra yêu
cầu rất cao, rất toàn diện theo chiều sâu cải cách kinh tế, đặc biệt là phải chóng hình
thành cơ cấu kinh tế hợp lý đủ sức vận hành thông suốt, hướng nền kinh tế đi vào phát
triển và ổn định. Năm năm (1996 – 2000) bên cạnh một số thuận lợi, nước ta gặp nhiều
khó khăn, thách thức: những yếu kém vốn có của nền kinh tế, những đợt thiên tai lớn liên
tiếp, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực Châu á, tình hình thế giới và khu vực
diễn biến phức tạp. Trong hoàn cảnh đó, toàn Đảng và toàn dân ta ra sức thực iện Nghị
quyết Đại hội VIII, đạt được những thành tựu quan trọng: tổng GDP tăng trưởng bình
quân 6,7%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 12,2%/năm, giá trị các hàng
dịch vụ tăng 6,4%/năm, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt cao nhất từ trước đến nay: khoảng
50 tỷ USD, tăng bình quân 18,6%/năm (nguồn: văn kiện Đại hội Đảng IX). Bên cạnh
những thành tựu còn những yếu kém, khuyết điểm: nhịp độ tăng trưởng kinh tế mấy năm
đầu chậm ( năm 1996 9,3%, năm 1999; 4,8%, sáu tháng đầu năm 2000; 6,2%) một số chỉ
tiêu đề ra không đạt ( nhịp độ tăng trưởng GDP kế hoạch đề ra là 9 – 10% nhưng chỉ đạt
6,7%/năm).
Mặc dù có nhiều khó khăn, thử thách gay gắt, bị thiệt hại lớn do thiên tai liên tục
xảy ra, nhưng nhìn chung việc thực hiện chiến lược ( 1991 – 2000) đã đạt được những
thành tựu to lớn và rất quan trọng: tổng sản phẩm trong nước sau 10 năm tăng gấp đôi,
tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể đến năm 2000 đạt 25% GDP, tốc
độ tăng trưởng kinh tế trung bình 7,5%/năm ( nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư).
Từ tình trạng khan hiếm, sản xuất không đáp ứng được nhu cầu thiết yếu nay đã
đảm bảo lương thực, thực phẩm nhiều loại tiêu dùng có dự trữ kết cấu hạ tầng kinh tế
phát triển nhanh, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế các thành phần
kinh tế phát triển khá nhanh. Từ chỗ bị bao vây kinh tế, nước ta đã chủ động tranh thủ
thời cơ từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới, thu hút đáng kể đầu tư trực

mới. Ba là, phát triển thị trường vốn. Phát triển nhanh thị trường vốn, nhất là thị tr]ờng vốn dài
hạn và trung hạn là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển và có tăng
trưởng cao. Hình thành đồng bộ thị trường tiền tệ: tăng khả năng chuyển đổi của đồng
tiền Việt Nam. Tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán an toàn hiệu quả.
Bốn là, tổ chức quản lý tốt thị trường bất động sản. Đất đai là thuộc quyền sở hữu của
toàn dân, không phải của tư nhân, không cho phép việc mua bán đất đai, thực hiện tốt
đúng luật đất đai, xác định đúng giá các loại đất đai để sử dụng có hiệu quả. Chăm lo giải
quyết vấn đề nhà ở cho nhân dân ở những vùng đô thị phát triển, khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia xây dựng và kinh doanh nhà ở theo sự hướng dẫn và quản lý của
nhà nước.
3.2 Phát triển các thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX khẳng định: các thành phần kinh tế kinh doanh theo
pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Đối với các thành phần kinh tế cụ thể Đảng ta có những chủ trương phát triển như
sau:
Một là, kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất
quan trọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh
nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công
nghệ nêu gương về năng suất chất lượng hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật.
Hai là, kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã
là nòng cốt. Phát triển hợp tác xã hộ kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành.
Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học kỹ thuật, trong khi mở rộng
thị trường, xây dựng các quỹ hộ trợ phát triển hợp tác xã, giải quyết nợ tồn đọng. Khuyến
khích tích luỹ và phát triển có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã.


Hai là, nhà nước đầu tư vốn phát triển từ ngân sách nhà nước, căn cứ vào hiệu quả kinh
tế xã hội. Chuyển cơ chế phân bổ nguồn vốn vay nhà nước mang tính hành chính sang
cho vay theo cơ chế thị trường, xoá bỏ bao cấp thông qua tín dụng đầu tư, đồng thời phát
triển các quỹ hỗ trợ phát triển.
Ba là, khởi xướng hướng dẫn và hỗ trợ mọi nỗ lực phát triển thông qua các công cụ quản
lý vĩ mô: pháp luật, công cụ kế hoạch hoá để định ra các chiến lược phát triển, các cộng
cụ của chính sách tài chính tiền tệ để kích thích kinh tế phát triển theo mục tiêu kế hoạch.
Bốn là, thực thi các chính sách xã hội, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội. Tuy không
phải là chức năng quản lý trực tiếp của nhà nước, song nó đặc biệt quan trọng vì góp
phần ổn định xã hội, ổn định kinh tế, thực thi chiến lược con người tạo ra động lực mạnh
mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển.
3.4 Nâng cao phẩm chất và năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Năng lực và phẩm chất cán bộ là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại
của cách mạng. Nhận thức được tầm quan trọng đó trong suốt quá trình lãnh đạo của
mình Đảng ta đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã luôn quan tâm đến công tác đào tạo, sử dụng
cán bộ, giáo dục, rèn luyện họ trở thành những người có đủ đức, tài đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ của cách mạng trong từng giai đoạn.
Để nâng cao phẩm chất và năng lực cán bộ lãnh đạo quản lý trong nền kinh tế thị
trường hiện nay đòi hỏi phải tiếp tục thực hiện công tác chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch
đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, kiên quyết loại bỏ những kẻ cơ hội về chính trị, những
kẻ thái hoá biến chất, kiếm trác chức quyền, những kẻ bất tài, không có trí tuệ và chính
kiến. Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ. Đánh giá, bồi dưỡng lựa chọn sử
dụng cán bộ trên cơ sử tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân
dân làm thước đo chủ yếu. Đổi mới đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý theo hướng trẻ
hoá, kết hợp các độ tuổi, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và phát triển.
3.5 Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và cộng nghệ, xây dựng nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


cũng xong”.
Việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng XHCN là nội dụng cốt lõi của chính
sách đổi mới nền kinh tế của Đảng và nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, là mục tiêu
hướng tới tương lai vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Do
đó muốn thành công chúng ta phải vận dụng quan điểm toàn diện một cách cụ thể, thiết
thực, xem xét tổng thể các yếu tố để xây dựng nền kinh tế thị trường như Lênin đã nói:
“Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất
cả các mối quan hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”.
Cuối cùng, khẳng định dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta các lợi thế tiềm
năng của nền kinh tế Việt Nam về lao động, về tài nguyên thiên nhiên, về vị trí địa lý
trong khu vực sẽ được phát huy một cách cao độ, đưa nền kinh tế thị trường Việt Nam
tiến nhanh, sánh kịp với các nước có nền kinh tế hiện đại như NICs Châu á và ASEAN.
Chúng ta tin vào Đảng, vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status