Tài liệu Luận văn :"Sự hình thành và phát triển nền Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam" doc - Pdf 92


Luận văn
Sự hình thành và phát triển nền Kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam B:NỘI DUNG
I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG:
1.KHÁI NIỆM KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:
Kinh tế thị trường hình thành từ quá trình sản xuất hàng hoá.Sản xuất
hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra là để
bán trên thị trường.Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản
xuất_phân phối_trao đổi_tiêu dùng , sản xuất như thế nàovà cho ai đều thông
việc mua bán,thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định.
Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá và
phân công lao động xã hội và về kinh tế giữa người sản xuất này với người sản
xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.Khi sản
phẩm lao động trở thành hàng hoá thì người sản xuất trở thành người sản xuất
hàng hoá,lao động của người sản xuất hàng hoá vừa có tính chất tư nhân , cá biệt
, lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối
lập là tính chất xã hội và tính chất tư nhân , cá biệt lao động của sản xuất hàng
hoá.Đối với mỗi hàng hoá mâu thuẫn đó được giải quyết trên thị trường.
Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài .
Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn . Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất
hàng hoá nông dân , thợ thủ công dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và
sức lao động của bản thân họ.
Đây là một kiểu sản xuất nhỏ , dựa trên kĩ thuật thủ công và lạc hậu khi
lực lượng sản xuất phát triển cao hơn ,sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thành
sản xuất quy mô lớn . Quá trình chuyển biến này diễn ra trong một thời kì quá
độ từ xã hội phong kiến sang chế độ tư bản.
Trong một nền kinh tế sản xuất hàng hoá chiếm địa vị thống trị thì đó là

xuất hàng hoá độc lập " đối diện " với nhau, những người này chịu sự tác động
rất lớn của quy luật cạnh tranh.
Cơ sở của mọi sự phân công ao động phát triển là lấy trao đổi hàng hoá
làm mỗt giá và có sự tách rời giữa thành thị và nông thôn.
Đối với sự phân công lao động có một quy tắc chung là :puyền lực càng ít
chi phối sự phân công lao động trong xã hội bao nhiêu, thì sự phân sự phân công
lao động trong xí nghiệp sản xuất ngày càng phát triển bấy nhiêu, và ở đấy nó lại
càng phụ thuộc vào quyền lực của một cá nhân.
*Tác dụng:
Sự phân công lao động trong xã hội làm cơ sở chung cho mọi nền sản
xuất hàng hoá, chính sự phân công lao động trong xã hội làm cho sức lao động
trở thành hàng hoá.
Sự phân công lao động đặt cơ sở cho việc hình thành những nghề nghiệp
chuyên môn, những ngành chuyên môn nhằm nâng cao sức sản xuất.
Sự phân công lao động theo vùng với ngành sản xuất chuyên môm hoá
đặc trưng sẽ là yếu tố quyết định sự khai thác có hiệu quả và phát huy thế mạnh
của vùng. Sự phân công lao động trong xã hội khi đã phát triển đến một trình độ
nào đó thì sẽ dẫn đến sự phân công lao động ở tầm vi mô- các xí nghiệp, các
hãng sản xuất - điều này làm cho các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm bị chia
nhỏ,sản phẩm được hoàn thiẹn về chất lượng, dễ dàng ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật .Sự phân công lao động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làm việc
sản xuất đi vào chuyên môn hoá, nâng cao tay ngề của người sản xuất, tăng năng
suất lao động xã hội.
c. Hướng phân công và việc thực hiện ở nước ta:
Khi sản xuất hàng hoá ra đời, phát triển đến mức cao điển hình là ở xã hội
tư bản thì đòi hỏi sự phân công lao động sâu sắc để đi vào chuyên môn hoá cao,
đáp ứng nhu cầu, yêu cầu của nền kinh tế thị trường, từ trước tới nay trong xã
hội đã xuất hiện ba lần phân công lao đọng xã họi lớn :
Chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt
Xuất hiên nhiều ngành thủ công nghiệp

các quốc gia trong từng khu vực .
+ Tăng cường hợp tác và nhất thể hoá kinh tế thế giới, đặc biệt là phạm vi
từng khu vực
Là một quốc gia phát triển , Việt Nam có những lợi thế can bản để có thể
tham gia tích cực vào phân công lao động khu vực và quốc tế. Những lợi thế đó
trước hết là :
- Vị trí địa lý thuận lợi : Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa , tự nhiên
Việt Nam rất phong phú và đa dạng , khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây
á , Đông phi , Tây phi. Đặc điểm này có tác động sâu sắc đến cơ cấu, quy mô và
hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam . Việt Nam nằm ở rìa đông bán
đảo Đông Dương , gần trung tâm Đông Nam á có vùng biển chủ quyền rộng lớn
và giàu tiềm năng, dễ dàng phát triển kinh tế - thương mại, văn hoá và khoa học
kỹ thuật với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam nằm trong khu
vực diễn ra các hoạt động sôi động nhất thế giới trước thế kỷ 21, các nước
ASEAN mà Việt Nam là thành viên chính thức kể từ tháng 7/95 đang ngày càng
chiếm địa vị cao trong nền kinh tế thế giới/
- Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng.
- Nguồn tài nguyên nhân văn phong phú bao gồm bản thân con người và
hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử dân
tộc . Đường lối đổi mới và chính sách mở cửa do Đảng ta đề ra từ đại hội thứ
sáu đã mang lại kết quả rất uan trọng , tạo ra môi trường thuận lợi để Việt Nam
tham gia ngày càng tích cực vào phân công lao động trong khu vực và quốc tế ,
nhanh chóng hoà nhập vào thị trường quốc tế.
Để nâng cao vai trò và vị trí của Việt Nam trong hệ thống phân công lao
động khu vực quốc tế , đòi hỏi phát huy tinh thần tự lục tự cường và những lợi
thế nói trên.
2.2. Quá trình tự do hoá kinh tế qua đa dạng hoá các hình thức sở hữu
* Đa dạng hoá sở hữu- Nhân tố cơ bản hình thành nền kinh tế thị trường :
Trung tâm của nền kinh tế thị trường là quy luật sở hữu , sở hữu của
chính mình , sở hữu vật dụng và sở hữu trí tuệ, quyền được hưởng thụ ích lợi từ

trước , tuy nhiên đứng trên góc độ hệ thống pháp lý mà xét , việc tạo cơ sở rõ
ràng cho sở hữu và chuyển nhượng tài sản có tầm quan trọng vì hai lý do .Thứ
nhất ,luật chấp nhận chính thức điều này sẽ là dấu hiệu cho những người có thể
trở thành nhà kinh doanh tư nhân và các nhà đầu tư thấy rằng hoạt động kinh tế
tư nhân là chính thức được phép và khuyến khích. Khi chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường , loại khuyến khích chính thức này có thể
có trọng lượng đôi chút . Thứ hai , những cá nhân khởi sự hoạt động kinh tế tư
nhân trên cơ sở chính thức được phép có thể dựa vào pháp luật để bảo vệ hoạt
động kinh doanh của họ trong tương lai . Điều cần chú ý ở đây là hiến pháp của
Trung Quốc cũng có điều khoản về sở hữu tương tự như hiến pháp năm 1990
của Việt Nam , nhưng năm 1988 Trung Quốc phải bvan hành những điểm bổ
xung hiến pháp để bảo vệ quyền sở hữu tư nhân một cách rộng rãi.
Một mặt của hoạt động thương mại cần có cơ cấu khung về pháp lý có
hiệu lực trong điều kiện kinh tế thị trường là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để thúc
đẩy việc tạo ra mặt hàng và những quy trình sản xuất mới là mới ở Việt nam và
sử dụng hàng hoá và quy trình sở hữu có chủ sở hữu được tạo ra ở nơi khác
,khuyến khích phát triển và lưu hành nhãn hiệu thương phẩm được thị trường
công nhận.Đẩy mạnh việc phổ biến ở Việt Nam phần mềm tin học cũng như tác
phẩm văn học có chủ sở hữu tiến bộ trên tất cả các lĩnh vực này phải dựa trên
quyền và biện pháp hợp pháp đối với bằng sáng chế , nhãn hiệu thương hiệu bản
quyền .
Ngoài những hình thức sở hữu trên cùng với quá trình mở cửa nền kih tế
các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức như :liên
doan , mua cổ phiếu , đầu tư trực tiếp nên sẽ xuất hiện nhiều hình thức sở hữu
nước ngoà ở nước ta .
Tóm lại để cho cơ cấu quan hệ về các hình thức sở hữu thích ứng với nền
kinh tế thị trường đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải xây dựng một hệ thống pháp
luật đồng bộ về hình thức sở hữu , hình thức sở hữu đa dạng , tự nguyện sẽ nảy
sinh ra các hình thức tổ chức sản xuất mới thích hợp , hiệu quả và sáng tạo ở
nước ta. Quan hệ sở hữu đa dạng sẽ làm cho thị trường hoạt động uyển chuyển

với sự phát triển của khoa học- công nghệ ở nước ta .
Nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tác động tích cực
đến sự phát triển của khoa học công nghệ
Kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy sự thay đổi trong cơ cấu của lực lượng sản
xuất , điều này được thể hiện ở chỗ công nghệ , đối tượng lao động , cơ cấu lao
động phát triển theo hướng công nghệ nhiều trình độ , những công nghệ mũi
nhọn. Dưới tác động của nền kinh tế thị trường , đối tượng lao động được khai
thác ngày càng nhiều trong tự nhiên kết hợp với việc sử dụng nguyên vật liệu
tổng hợp mà trước hết nhập từ nước ngoài và tiến đến sản xuất trong nước .
Trong nền kinh tế thị trường , lao động trí óc sẽ được đánh giá và coi trọng đúng
mức , do đó hàm lượng lao động trí tuệ tăng lên trong tổng lao động xã hội .
Sự thay đổi cơ cấu của lực lượng sản xuất theo hướng công nghệ hoá và
sự tăng lên của tỷ lệ lao động trí óc trong tổng số lao động xã hội đến lượt nó sẽ
tác động một cách tích cực tới sự phát triển của khoa học - công nghệ . Như vậy
, dưới sự tác động của cơ chế thị trường ,sự phát triển của lực lượng sản xuất và
tỷ lệ lao động trí óc có tác động qua lại với sự phát triển của khoa học - công
nghệ.
Kinh tế thị trường với tư cách là đòn bẩy , là phương thức sinh hoạt kinh
tế thích hợp , nên tác động tích cực tới sự thay đổi cơ cấu kinh tế và trình độ văn
minh ở nước ta. Chính nhờ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa làm cho nước ta thực hiện có hiệu quả quá trình chuyển dịch cơ cấu theo
hướng công- nông - dịch vụ hiện đại và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế . Và
chính nền kinh tế thị trường này sẽ đưa xã hội ta vượt qua nhanh nền văn minh
công nghiệp và văn minh trí tuệ.
Sơ đồ: sự tác động của cách mạng khoa học- công nghệ đối với kinh tế
thị tường ở nước ta và sơ đồ : Sự tác động tích cực của kimh tế thị trường xã hội
theo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển khoa học- công nghệ
được thể hiện ở hai trang sau.
b. Hướng phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình chuyển sang
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:

Mặc dù có những đặc điểm riêng, nhưng tất cả các phương thức sản xuất
tiền tư bản chủ nghĩa đều có nét chung là nền kinh tế tự nhiên. Trong nền kinh tế
tự nhiên, sản xuất nhỏ chiếm ưu thế. Nền kinh tế tự nhiên do nhiều đơn vị kinh
tế thuần nhất hợp thành và mỗi đơn vị kinh tế ấy làm đủ việc để tạo ra những sản
phẩm cuối cùng.
Trong các nền kinh tế tự nhiên, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, nông
nghiệp là ngành sản xuất cơ bản, công cụ và kỹ thuật canh tác lạc hậu, dựa vào
lao động chân tay là chủ yếu, chỉ có trong một số trang trại của địa chủ hoặc
phường hội mới có hiệp tác lao động giản đơn. Trong nền kinh tế dưới chế độ
phong kiến, phân công lao động kém phát triển, cơ cấu ngành đơn điệu, mới chỉ
có một số ngành nghề thủ công tách khỏi nông nghiệp, sản xuất chủ yếu hướng
vào giá trị sử dụng, có tính chất tự cung, tự cấp.
Bước đi tất yếu của sản xuất tự cung, tự cấp là tiến lên sản xuất hàng giản
đơn. điều kiện cho quá trình chuyển hoá này là sự phát triển của phân công xã
hội. Phân công xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hoá. Xu hướng phát triển của
phân công xã hội là biến việc sản xuất không những từng sản phẩm riêng biệt,
mà việc sản xuất từng bộ phận của sản phẩm, từng thao tác trong chế biến sản
phẩm thành những ngành công nghiệp riêng biệt. Công nghiệp chế biến tách
khỏi công nghiệp khai thác và mỗi ngành công nghiệp đó lại chia thành nhiều
loại và phân loại nhỏ. Chúng sản xuất ra dưới hình thức hàng hoá - những sản
phẩm riêng biệt và đem trao đổi với những sản phẩm của các ngành sản xuất
khác. Chính sự phát triển ngày càng sâu rộng đó của phân công xã hội là nhân tố
chủ yếu dẫn đến hình thành thị trường trong nước. Hình thành nên những khu
vực nhà nước chuyên môn hoá và dẫn đến sự trao đổi không những giữa sản
phẩm với sản phẩm công nghệ, mà cả giữa các sản phẩm nhà nước với nhau.
Sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp, sự hình thành trung tâm
công nghiệp, sức hút của chúng đối với dân cư ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống
nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp hàng hoá phát triển.
Những người sản xuất ở những vùng khác nhau có những điều kiện tự
nhiên khác nhau, có khả năng và ưu thế trong sản xuất những sản phẩm khác

phân công, làm xuất hiện các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa. Công
trường thủ công là hình thức xí nghiệp tư bản thực hiện sự hiệp tác có phân công
dựa trên cơ sở kỹ thuật thủ công. Công trường thủ công hình thành bằng cách
tập hợp những thợ thủ công khác nghề, hoặc những thợ thủ công cùng nghề vào
trong một xưởng để cùng sản xuất ra một loại hàng hoá.
Đặc điểm về tổ chức và kỹ thuật của công trường thủ công là: Quá trình sản xuất
được phân chia thành những giai đoạn, những công việc bộ phận để có sản phẩm
hoàn chỉnh, trên cơ sở đó mỗi công nhân chỉ chuyên làm một công việc bộ phận.
Đặc điểm của sự phân công này là chuyên môn hoá hẹp.
Cơ sở kỹ thuật vẫn là thủ công với công cụ chuyên dùng, phân phối sản xuất
theo kinh nghiệm cổ truyền nên chủ yếu dựa vào tay nghề khéo léo của công
nhân. Cơ cấu tổ chức của công trường thủ công là những người lao động bộ
phận, sử dụng công cụ chuyên dùng thích ứng, hợp thành lao động tập thể.
Đại công nghiệp cơ khí:
Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể
được xác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển vững chắc. Do đó, trong quá
trình phát triển, chủ nghĩa tư bản tự tạo cho nó một cơ sở kỹ thuật tương ứng là
máy móc, đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn
đại công nghiệp cơ khí. Máy móc được sử dụng phổ biến trong xã hội thông qua
cuộc cách mạng công nghiệp. Đó là cuộc các mạng kỹ thuật thay thế lao động
thủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Công cuộc cơ khí hoá ở một ngành
dẫn đến việc thúc đẩy quá trình cơ khí hoá ở một ngành có liên quan. Cơ khí hoá
trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hoá ở các ngành liên
quan. Cơ khí hoá trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hoá
ngành giao thông vận tải… cơ khí hoá bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ đến các
ngành công nghiệp nặng. Máy móc và đại công nghiệp có tác dụng chủ yếu làm
năng suất lao động xã hội tăng vọt, xã hội hoá lao động và sản xuất ngày càng
cao, mở rộng thị trường, thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm công nghiệp và
những thành thị lớn; đồng thời, tạo ra những tiền đề vật chất kỹ thuật .
3.3. Từ nền kinh tế thị trường tự do chuyển sang nền kinh tế thị trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status