LUẬN VĂN: Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
nước ta hiện nay

Lời mở đầu Trong lịch sử phát triển nền kinh tế của các nước XHCN trên thế giới nói chung và ở
Việt Nam nói riêng, chúng ta chỉ thấy một mô hình kinh tế thuần nhất đó là mô hình kinh
tế chỉ huy tập trung bao cấp. Có thể nói đây là một mô hình kinh tế kém năng động và khó
thích nghi với sự phất triển chung của kinh tế thế giới, chính vì vậy mà một số các quốc
gia và cả nước ta khi áp dụng mô hình này đã gặp phải những khó khăn không nhỏ. Từ
việc nhận thức đúng đắn những ưu khuyết tật trong thực tiễn tồn tại của nền kinh tế lúc bấy
giờ nên đại hội đảng VI đã đi đến quyết định mang tính cách mạng trong con đường cái
cách nền kinh tế. Bắt đầu từ đó mô hình nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành

nghiên cứu của mình, điều này tất yêu dẫn đến rất nhiều sự trùng lặp, và do đó cũng gây ra
cho thầy giáo không ít những khó khăn trong công việc đánh giá kết quả.
Trong quá trình nghiên cưu về dề tài này, em đã cố gắng hết sức, song em tin chắc
mình không thể tránh khỏi những thiếu xót. Dù vậy, em cũng mong ước rằng bài viết của
em được kết quả tốt, được thầy giáo đánh giá cao. Điều này vô cùng quan trọng, tạo điều
kiện ban đầu về kiến thức và sự tự tin cho việc thi hoặc viết luận văn tốt nghiệp của em sau
này.

Phần i
đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
tính tất yêu khách quan vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế
i. Tính tất yêu khách quan vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước Đẩi với nền
kinh tế thị trường
1.Những điều kiện hình thành nền kinh tế hàng hoá & nền kinh tế thị trường
*KTHH là sự phát triển kế tiếp và biến đổi về chất so với nền kinh tế tự nhiên trên
cơ sở phân công lao động xã hội đã phát triển. KTHH là nền kinh tế hoạt động theo quy
luật sản xuất và trao đổi hàng hoá, sản xuất sản phẩm cho người khác tiêu dùng thông qua
trao đổi mua bán, trao đổi hàng-tiền. Nừu sản xuât để tư tiêu dùng thì không phảI là nền
KTHH,mà là nền kinh tế tự nhiến tự cấp tự túc. Ngay cả khi sản xuất cho người khác tiêu
dùng như phan phối dưới dạng hiện vạt ( hàng đổi hàng ) cũng không gọi là KTHH
Vậy, KTHH hình thành dựa trên sư phát triển của phân công lao động xã hội, của
trao đổi giữa những người sản xuất với nhau. Đó là kiểu tổ chưc kinh tế xã hội, trong đó
quan hệ trao dổi giữa người và người được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá
giá trị(*
*KTTT là nền kinh tế vận động theo những quy luật của thị trường trong đó quy
luật giá trị giữ vai trò chi phối và được biểu hiện bằng quan hệ cung cấp trên thị trường.
Các vấn đề về tổ chức sản xuất hàng hoá được giải quyết bằng sự cung ứng hàng hoá, dịch

kiện tiên quyết cho các chủ thể sản suất kinh doanh tồn tại và phát triển.
+Trong nền KTTT, một sản phẩm hàng hoá trao đổi phải thông qua giá cả thị
trường. Giá cả là hình thái biểu hiện bằng tiền của giá trị, có thể cao hơn hay thấp hơn đối
với một số hàng hoá nào đó.Song giá cả vẫn xoay quanh trục giá trị, xét trên một thời gian
dài tổng giá cả luôn bằng tổng giá trị. Và giá cả thị trường là hạt nhân của cơ chế thị
trường.
Muốn hình thành và phát triển KTTT, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải
tuân thủ giá cả thị trường. Đương nhiên giá cả thị trường không phảI là yếu tố duy nhất có
tác động quyết định đến người sản xuất. Căn cứ vào yêu cầu phát triển chung của nền kinh
tế, Nhà nước có thể cần phải điều tiết giá cả ở một số mặt hàng thiết yếu quan trọng có,
liên hệ chặt chẽ đến sự ổn định đời sống kinh tế xã hội, có lợi cho quốc kế dân sinh nhằm
hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường…
Thứ tư: Trong điều kiện phân công lao động quốc tế đã vượt ra khỏi biên giới quốc
gia, việc tham gia phân công lao động quốc tế, gắn thị trường trong nước với thị trường
quốc tế là một yêu cầu khách quan. Không thể có một nền KTTT nào phát triển được nếu
hoạt động của nó bó hẹp trong khuôn khổ một quốc gia nhất định. Do vậy việc tham gia
phân công lao động quốc tế, mở rộng quan hệ với bên ngoài, gắn thị trường trong nước
với thị trường nước ngoài là điều kiện quan trọng cho sự phát triển kinh tế nói chung và
nền KTTT mang mầu sắc Việt Nam nói chung.
2. Các mô hình kinh tế thị trường.
Trên thực tế thế giới đã tồn tại nhiều mô hình KTTT như sau:
_ KTTT truyền thông Tây Âu.
_ KTTT kiển Nhật Bản.
_ KTTT xã hội Công Hoà Liên Bang Đức.
_KTTT xã hội chủ nghĩa Trung Quốc.
_ KTTT có sự quản lý của Nhà nước.



nước không chơi mà đóng vai trò là người thiết kế luật chơi và dùng luật chơi để điều
khiển làm cho nền kinh tế có thể tránh được khủng hoảng thất nghiệp, lạm phát.
Khác với Mĩ và cộng hoà liên bang Đức, các Nhà nước Bắc Âu hình dung nền kinh
tế như một quá trình vận động từ sản xuất đến tiêu dùng, thông qua mắt khâu trung gian là
phân phối của cải dưới hình thức thu nhập. Bằng qyêfn lực hành chính Nhà nước có thể
can thiệp vào tất cả các mắt khâu hoặc vào một trong những mắt khâu nào đó. Can thiệp
vào đâu đó là tuỳ thuộc vào lợi ích thu được. Các Nhà nước bắc Âu đã lựa chọn phương
thức can thiệp vàokhâu phân phối lại thu nhập bằng công cụ thuế. Thông qua việc điều
chỉnh cơ cấu thuế và chi tiê các chính phủ Bắc Âu hướng nền kinh tế của họđến các mục
tiêu: Thu hẹp khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, bằng cách đem lại cho mọi
thành viên trong xã hội một phúc lợi như nhau được tạo ra từ nguồn thu chủ yếu từ thuế.
Các nước được kể ra trên đã rất thành công trong công việc tổ chức một nền kinh tế
thị trường có cự quản lý của Nhà nước. Mặc dù cách hể hiện vai trò của Nhà nước là rất
khác nhau. Điều này chứng tỏ vai trò điều tiết của Nhà nước là rất quan trọng, thêm nữa
không có mô hình nào là toàn diện và có thể áp dụng trên toàn thế giới, mỗi nước phải tự
tìm cho mình một cách thức riêng để điều tiết nền kinh tế của mình nhằm đạt được mục
tiêu mong muốn.
Về vai trò của Nhà nước, đây là vấn đề phức tạp, em xin được phép trình bày kỹ
hơn trong phần sau trong mục “Vai trò của Nhà nước trong nền KTTT có sự quản lý”
3. Xét về mặt nội dung của các giai đoạn phát triển của nền KTTT.
*Giai đoạn 1 : Những yêú tố cơ bản nhất của nền KTTT được tạo ra với ưu thế của
bàn tay vô hình của thị trường, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu đòi chế độ tự
quản.v.v Nhưng ngay từ đầu đã có sự can thiệp của bàn tay hữu hình của Nhà nước, đồng
thời phải tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá…
*Giai đoạn 2 : Tạo lập một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh mà ở đó vai trỏ của
Nhà nước ngày càng tăng. Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô theo đó được nâng lên bao hàm

Thứ nhất: Nền KTTT mang tính tự phát tìm kiếm lợi nhuận bằng bất kì giá nào,
không đi đúng hướng của kế hoạch nhà nước, mục tiêu về phát triển kinh tế vĩ mô của nền
kinh tế. Tính tự phát của thị trường còn dẫn đến tập trung hoá cao, sinh ra độc quyền, thủ
tiêu cạnh tranh, làm giảm hiệu quả chung.
Thứ hai: KTTT, “cá lớn nuốt cá bé” dẫn đến phân hoá đời sống dân cư, một bộ
phận dẫn đến phá sản, phân hoá giầu nghèo dẫn đến khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp và
số đông người lao động lâm vào cảnh nghèo khó.
Thứ ba: Xã hội phát sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội gắn liền với hiện trạng nền
kinh tế sa sút, gây rối loạn xã hội. Nhà kinh doanh thường tìm đủ thủ đoạn, mánh
khoé_làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế…không từ bỏ một thủ đoạn nào nhằm thu được lợi
nhuận tối đa.
Thứ tư: Vì mục tiêu lợi ích cá nhân, dẫn đến sự sử dụng bừa bãi, tàn phá các nguồn
tài nguyên và huỷ diệt một cách tàn khốc tài nguyên môi trường sinh thái.
Thứ năm: Nền KTTT vận hành theo CCTT, có chế này có thể gây ra sự mất ổn
định thường xuyên, phá cõ cân đối trong nền sản xuất xã hội. Hởu quả tiêu cực của nó
thường đi liền với những vấn đề nan giải.Thực tế phát triển nền KTTT trong mấy chục
năm qua chỉ rõ vấn đề lạm phát, thất nghiệp và chu ky kinh doanh là những căn bênh kinh
niên không thể khắc phục được nếu không có sự can thiệp của Nhà nước.
Thêm nữa, trong nền KTTT thường tồn tại những ngành nghề kinh tế thiếu sự cạnh
tranh vì ở đó có mức lợi nhuận thấp, số vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn rất chậm
nhưng rất càn cho sự ổn định phát triển kinh tế và rất cần cho việc giải quyết những vấn đề
xã hội…
Qua trên ta thấy, nền KTTT có khả năng tập hợp tự động được hành động, trí tuệ
và tiềm lực của hàng triệu con người và hướng đến lợi ích chung của cả xã hội. Nhưng
nền KTTT không phải là một hệ thống được tổ chức hài hoà mà trong hệ thống đó cũng
chứa đựng rất nhiều các yếu tố phức tạp và nan giải. Vì vậy để khắc phục, hạn chế những
tác động tiêu cực của cơ chế thị trường (CCTT) cần thiết phải có sự can thiệp của chính

ii. cơ chế thị trường ở nước ta và Các đặc đIểm, đặc trưng của kttt định hướng
XHCN .
1.Về đặc điểm của cơ chế thị trường hiện nay
Có nhiều cách tiếp cận, phân tích, lý giải khác nhau khi nhìn vào sự vận động của
nền kinh tế hiện nay. Trong mục này em xin được trinh bày những đặc trưng của cơ chế
thị trường trên cơ sở nhìn lại những năm đổi mới, đồng thờicó kiên hệ đến bước đi, những
quá trình có tính quy luật của bước chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị
trường có cự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Với cách tiếp cận như trên, những đặc điểm lớn của nền kinh tế thị trường_cơ chế
thị trường hiện nay ở nước ta là:
a) Từng bước thực hiện những quá trình mang tính quy luật của bước chuyển
từ nên kinh tế tập trung bao cấp sang CCTT có sự quản lý của Nhà nước, với tự do hoá
thương mại và tự do hoá giá cả là khâu trung tâm đột phá; từng bước chuyển lên CCTT
đích thực.
Cơ chế đó là phát huy vai trò điều tiết của thị trường, hình thành bước đầu một thị
trường canh tranh, làm cho hàng hoá được lưu thông thông suốt, cung cầu được cân đối,
khắc phục tình trạng khủng hoảng thiếu, giá cả ổn định dần, lạm phát được ngăn chặn.
CCTT đã góp phần thúc đẩy việc phải xử lý những vấn đề mấu chốt làm đảo lộn cả
hệ thống tư duy và quan điểm kinh tế cũ như vấn đề sở hữu, với sự thừa nhận và đánh giá
cao chính sách kinh tế nhiều thành phần, chuyển từ thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử với
kinh tế tư nhân sang chính sách đối xử binh đẳng; đồng thời cũng xác định được những
biện pháp nâng cao hiệu quả của khu vực kinh tế quốc doanh cho phù hợp với thực tiễn
nước ta.
Cơ chế tài chính, tiền tệ, tín dụng, giá cả, lãi suất… đã từng bước được đổi mới đặc
biệt cơ chế giá và tỉ giá được hình thành thông qua thị trường đã tạo ra bước ngoặt trong
cơ chế kinh tế.
b) CCTT còn thiếu đồng bộ, mang nhiều yếu tố tự phát, rối loạn-sản phẩm

Xuất phát từ thực tế thị trường nước ta đang trong thời kì hình thành và phát triển,
trong nó còn tồn tại những yếu tố mất ổn định. Từ chỗ nền kinh tế thực chất từ lâu là nền
kinh tế nhiều thành phần, nên đã không chủ chương tư nhân hoá một cách tràn làn, mà chủ
chương phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần và xây dựng thành phần kinh tế quốc
doanh làm chỗ dựa của Nhà nước ở các khâu và các lĩnh vực then chốt để nhằm ổn định
cho định hướng thị trường.
Đảng ta khảng định vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm chính sách xã hội, xử
lý hài hoà giữa tăng trưởng và ổn đinh; giữa phát triển kinh tế với việc thực hiện những
chính sách xã hội và công bằng xã hội. Thêm nữa để tiếp tự thực hiện phương châm ổn
định để phát triền, Nhà nước ta phải đổi mới hơn nữa, nhận thức rõ vai trò của mình trong
điều kiện mới, phải thay đổi chất lượng, tác phong của bộ máy, chuyển tử tác phong chỉ
huy mệnh lệnh sang tác phong hỗ trợ, tạo môi trường phuận lợi cho thị trường phát
triển…Điều đó nói lên tầm quan trọng đặc biệt của Nhà nước XHCN trong hoạt động của
thị trường nước ta.
2. Đặc trưng cơ bản của nền KTTT theo định hướng XHCN ở Việt Nam
Nền KTTT định hướng XHCN cũng có tính chất chung của nền kinh tế, nên kinh tế
vận động theo những quy luật vốn có của KTTT như quy luật giá trị, quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh. Thị trường có vai trò quyết định trong việc phân phối các nguồn lực
kinh tế. Giá cả do thị trường quyết định Nhà nước thực hiện điều tiết kinh tế vĩ mô để
giảm bớt những thất bại của thị trường.
Nhưng bất cứ nền KTTT nào cũng hoạt động trong những điều kiện lịch sử-xã hội
của một nước nhất định nên nó bị chi phối bởi những điệu kiện lịch sử và đặc biệt là chế
độ xã hội của nước đó, và do đó có những đặc điểm riêng phân biệt với nền KTTT của các
nước khác. Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam có những đặc trưng sau đây.
Thứ nhất : Nền kinh tế dựa trên cơ sở cơ cấu đa dạng về hình thức sỡ hữu.Trong đó
sở hữu Nhà nước làm chủ đạo. Do đó nền kinh tế gồm nhiều thành phần,trong đó kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

kinh tế thị trường nói chung, thị trường có vai trò quyết định đối với việc phân phối nguồn
lực kinh tế. Sự quản lý nhằm hạn chế, nhằm khắc phục những thất bai của thị trường, thực
hiện mục tiêu xã hội nhân đạo mà bản thân thị trường không thể làm được.
Thứ tư : Nền kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế mở, hội nhập với kinh tế
thế giới và khu vực, thị trường trong nước gắn với thị trường thế giới, thực hiện những
thông lệ trong quan hệ kinh tế thế giới, nhưng vẫn giữ được độc lập chủ quyền và bảo vệ
được lợi ích quốc gia dân tộc trong quan hệ kinh tế đối ngoai. Thực ra đây không phải là
đặc trưng riêng của kinh tế thị trường định hướng mà là xu hướng chung của nền kinh tế
thế giới hiện nay. Trong điều kiện hiện nay chỉ có mở cửa kinh tế hội nhập vào kinh tế thế
giới và khu vực mới thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý
tiên tiến để khai thác tiềm năng và thế mạnh của nước ta, thực hiện phát triển kinh tế thị
trường theo kiểu rút ngắn. thực hiện mở cửa kinh tế theo hướng đa phương hoá và đa dạng
hoá. Các hình thức kinh tế đối ngoại hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập
khẩu những sản phẩm kỳ mức sản xuất có hiệu quả.
Phần II
Mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước và
một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới và tăng cường
vai trò kinh tế của Nhà nước ya hiện nay
1. Mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước
1. Mục tiêu
Thông qua tác động đối với nền kinh tế, Nhà nước một mặt kiểm soát và hỗ trợ sự
phát triển của bản thân nền kinh tế và mặt khác điều chỉnh cơ cấu và thúc đẩy tiến bộ xã
hội. Tạo được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định là một thách thức đối với nền
kinh tế Việt Nam hiện nay. Nhưng kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội còn là
một thách thức lớn hơn.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này. Có ý kiến cho rằng cần tăng
trưởng trước sau đó mới đảm bảo công bằng xã hội. Với cách tiếp cận này, kinh tế sẽ phải

Khác với doanh nghiệp vai trò quản lý kinh tế của nhà nước là ở chỗ, Nhà nước
theo mục tiêu chung của dân tộc là làm cho dân giàu nước mạnh, làm cho nền kinh tế tăng
trưởng một cách ổn định, vững chắc đảm bảo hiệu quả và công bằng xã hội.
Bằng việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế, Nhà nước quản lý và can thiệp
vào các doanh nghiệp với mục tiêu làm giàu cho đất nước.Thực chất của sự định hướng sự
phát triển cả nền kinh tế là thông nhất các lợi ích khác nhau, quy tụcác lợi ích khác nhau
về cùng một lợi ích để khi mỗi người theo đuổi lợi ích cá nhân của mình thì cũng đồng
thời góp phần của mình vào việc theo đuổi lợi ích của dân tộc. Chính vì vậy để có thể
hoàn thành chức năng định hướng nề kinh tế nhà nước phải tạo ra công cụ định hướng để
quy tụ hành động của doanh nghiệp và người tiêu dùng cá biệt, để làm được đIều này nhà
nước cần phải có:
_Chiến lược phát triển kinh tế_xã hội dài hạn.
Vai trò điều tiến nền kinh tế của nhà nước chính là ở chỗ nhà nước là người hoạch
định các chương trình phát triển kinh tế xã hội, mà mỗi chương trình là một cơ hội đầu tư
mổ rông sản xuất cho doanh nghiệp. Như vậy, bằng cách hoạch định các chương trình
phát triển kinh tế, Nhà nước dẫn dắt các doanh nghiệp, chỉ cho họ thấy chõ nào là có thể
và cần phải đầu tư vào nơi nào là lợi cho mình đồng thời là lợi cho dân tộc. Bằng việc
hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế xã hội Nhà nước có thể thực hiện đựơc ý đồ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ, khai thác và sử dụng có hiệu
quả tài nguyên, đưa thị trường trong nước hoà nhập với thị trường thế giới làm cho nền
kinh tế phát triển tăng trưởng một cách vững chắc công bằng và hiệu qủa.
_Kế hoạch hoá định hướng .
Kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế xã hội do Nhà nước đề ra. Tuy vậy cần
phải có sự phân biệt, không nên nhầm lẫn giữa cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp và
kế hoạch hoá định hướng.
Nội dung kế hoạch và phương thức kế hoạch của nhà nước trong mô hình kinh tế
mới phải thay đổi theo hướng sau:

tay nghề và cả may mắn cũng dẫn đến sự khác nhau về thu nhập. Nhà nước phải biết phân
phối lại như thế nào cho hiệu quả trong giới hạn bất bình đẳng cho phép.
Để giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập, cần thiết phải xây dựng lạI
hệ thống thuế để đIều tiết một phần thu nhập của lớp người giàu có. Đồng thời cần giúp
đỡ những ngường nghèo có cơ hội trở thành giàu có. Nhà nước cần phải giúp đỡ họ tạo
công ăn việc làm, bồi dưỡng nâng cao trinh độ học vấn, trình độ nghiệp vụ, cho vay vốn
ban đầu với chế độ ưu đãi thích đáng. Đòng thời cần phảI hình thành các quỹ trợ cấp bảo
hiểm từ nguồn vốn ngân sách và tư nguồn vốn huy động của dân để giúp đỡ cho những
người tạm thời thất nghiệp, những người già yêu…
Càn chú ý rằng phân phối lại thu nhập, hình thành các quỹ trợ cấp là một trong
những công cụcó hiệu lực nhất để định hướng XHCN của một nền kinh tế. Thể hiện tính
cộng đồnhg dân tộc trong các chương trình phát triển kinh tế xã hội.
d) Can thiệp vào quá trình kinh tế khi cần thiết.
Định hướng, tạo môi trường, phân phối thu nhập là những công việc cần thiết thể
hiện vai trò của nhà nước trong một chiến lược dài hạn. Trong quá trình thực hiện các
chiến lược đó, dưới ảnh hưởng của cơ chế cung cầu-giá cả trong thị trường nội địa, đồng
thời dưới ảnh hưởng sủa quan hệ kinh tế quốc tế, chính vì vậy trong quá trình thực hiện
mục tiêu định hướng của các chương trình dài hạn, những cú sốc làm chệch mục tiêu là
điều không tránh khỏi. Trong trường hợp đó, Nhà nước cần phải sử dụng những công cụ
như lãi suất, thuế, khối lượng tiền tệ và chi tiêu ngân sách để làm giảm những trấn động
do cú sốc gây ra, đưa nền kinh tế đi theo định hướng.( Các công cụ như vậy sẽ được em
trình bày kỹ hơn trong phần sau.)
e) Quản lý tài sản quốc gia, phân bố các nguồn lực một cách hợp lý.
Trong nền KTTT ở nước ta, nhà nước cùng một lúc phải hoàn thành hai nhiệm vụ
lớn trong lĩnh vực kinh tế:
-Điều khiển sự vận động của một nền kinh tế bằng cách hoạch định các chiến lược
phát triển kinh tế xã hội dài hạn và ngắn hạn, quyết định các phương án phân phối và phân

quá trình tự do hoá giá cả, thương mại hoá nền kinh tế với các nội dung cơ bản là:
+ Xoá bỏ tình trạng độc quyền, xây dựng các đạo luật chống độc quyền bằng cách
tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.Thực tế giá cả trên thị trường
nước ta đối với một số mặt hàng vẫn còng trong tình trạng độc quyền, ví dụ như giá điện,
nước hay cước phí đện thoại v.v Việc xoá bỏ độc quyền đối với những mặt hàng phục vụ
đời sống nhân sinh là việc làm cần thiết và có lợi.
+ Tạo ra các điều kiện, các tiên đề kinh tế-pháp lý cho sự hoạt động của các thị
trường cần thết như thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường lao động. Đây là
các loại thị trường hiện đã hình thành và đang phát triển nhưng vẫn còn ở trình độ thấp so
với khu vực và thế giới.
- Nhà nước là người đảm nhận vai trò thiết lập và duy trì quyền sở hữu các
nguồn lực kinh tế theo hướng xác định rõ chủ sở hữu đích thực của công dân, của các
doanh nghiệp tập thể, tư nhân và Nhà nước.
- Nhà nước đóng vai trò “bà đỡ” cho sự ra đời của cơ chế thị trường, các
thành phần kinh tế, hướng dẫn các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
kinh doanh có hiệu quả. Muốn làm được điều đó Nhà nước cần phải:
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho các doanh
nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
+ Xây dựng các khuôn khổ pháp lý sao cho thoả mãn các yêu cầu: Một mặt các
doanh nghiệp tự do kinh doanh, mặt khác Nhà nước vẫn có thể kiểm soát nghĩa vụ của các
doanh nghiệp trước Nhà nước .
+ Ban hành các chính sách kinh tế hấp dẫn để khuyến khích các doanh nghiệp trong
và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất.
-Cải tổ bộ máy hành chính sao cho gọn nhẹ năng động, đơn giản hoá các thủ tục
hành chính. ( Thực tế hiện nay của nước ta, đây là một vần đề hết sức phức tạp. Bộ máy
môi sinh và tình trạng thất nghiệp. Hiện nay, hệ thống giáo dục đào tạo của Nhà nước ta
cồn chưa ổn định, cơ chế quản lí còn chưa đồng bộ, thống nhất trong cả nước. ở những
vùng cao “giáo dục đào tạo” còn quá xa vời. Chính sự thiếu hiểu biết là một trong những
nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm môi trường. Rừng bị khai thác bừa bãi, khói ô nhiễm ngày
một nhiều. Bên cạnh đó, tỉ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Hậu quả của nó là “sản sinh”
ra không biết bao nhiêu tệ nạn xã hội. Đây đều là những vấn đề gây cản trở nặng đến sự
phát triển kinh tế Việt Nam và luôn đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước.
Tất cả những khó khăn trên đặt Nhà nước trước những thử thách khắc nghiệt. Để
giải quyết tốt những vấn đề này, chúng ta phải không ngừng tăng cường vai trò kinh tế của
Nhà nước để Nhà nước đủ mạnh thực hiện thành công những chức năng của mình.
3. Một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước thực hiện sự quản lý của mình đối với nền kinh tế thông qua các công cụ
như pháp luật, chính sách kế hoạch hoá, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thu nhập-
phân phối và chính sách xuất nhập khẩu. Trước những khó khăn còn tồn đọng, để tăng
cường vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, chúng
ta cần thực hiện triệt để và có hiệu quả một số giải pháp cơ bản sau:
_ Đổi mới công tác kế hoạch hoá theo xu hướng kế hoạch hoá định hướng đồng
thời đổi mới hệ thống các mục tiêu định hướng.
Kế hoạch hoá là công cụ quản lý liên ngành của Nhà nước. vai trò chủ yếu của kế
hoạch hoá ở tầm vĩ mô là thúc đẩy hình thành cơ cấu hợp lí vì vậy cần đảm bảo tính thống
nhất trong cân đói các nguòn lực, lựa chọn phương hướng phát triển đúng đắn và động
viên được sức lực, trí tuệ của toàn xã hội thực hiện thắng lợi những mục tiêu đề ra
_ Đổi mới hệ thống pháp chế kinh tế theo hướng dân chủ hoá nền kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status