LUẬN VĂN:
Vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế.
Và một số giải pháp nhằm đổi mới và tăng cường
vai trò kinh tế của nhà nước. Đặc trưng của nền
kinh tế thị trường ở nước ta
lời nói đầu
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoà tập trung sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay là
một tất yếu khách quan. Quá trình chuyển đổi đó được bắt đầu từ đại hội VI năm
nông thôn và thành thị. Với sự nỗ lực cao độ của nhân dân ta, có thêm sự giúp đỡ
tận tình của các nước XHCN cũ mô hình kế hoạch hoá tập trung đã phát huy được
tính ưu việt của nó. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và phân tán bằng công
cụ kế hoạch hoá. Ta đã tập trung được vào tay một lực lượng vậ chất quan trọng
về đất đai, tài sản, tiền vốn để ổn định và phát triển kinh tế. Vào những năm đầu
của thập kỷ, ở miền Bắc đã có những chuyển biến về kinh tế xã hội. Trong thời kỳ
đầu, nền kinh tế tậpt rung đã tỏ ra phù hợp với nền kinh tế tự cung, tự cấp vốn có
của ta lúc đó, đồng thời nó cũng thích hợp với kinh tế thời chiến lúc đó.
2 - Nhược điểm.
Sau ngày giải phóng Miền Nam bức tranh về hiện trạng kinh tế xã hội đã
thay đổi. Trong một nền kinh tế cùng một lúc tồn tại cả ba loại hình kinh tế tự cấp
tự túc, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế hàng hoá.
Đó là thực tế khách quan, tồn tại sau năm 1975, nhưng chúng ta vẫn tiếp
tục chủ trương xây dựng nên fkt tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trong phạm vi
cả nước. Do các quan hệ kinh tế đã thay đổi rất nhiều, việc áp dụng cơ chế quản lý
kinh tế cũ vào điều kiện nền kinh tế đã thay đổi làm xuất hiện rất nhiều hiện tượng
tiêu cực. Do chủ quan cứng nhắc không cân nhắc tới sự phù hợp của cơ chế quản
lý kinh tế mà chúng ta đã không quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên sản
xuất của đất nước, trái lại đã dẫn đến việc sử dụng lãng phí một cách nghiêm trọng
các nguồn tài nguyên đó. tài nguyên thiên nhiên bị phá hoại, môi trường bị ô nhiễm, sản xuất kém hiệu quả, nhà nước thực hiện bao cấp tràn lan. Những sự việc
đó gây ra rất nhiều hậu qủa xấu cho nền kinh tế, sự tăng trưởng kinh tế “gặp nhiều
khó khăn, sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bị thâm hụt nặng nề, thu nhập từ
nền kinh tế không đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng năm hầu như không có. Vốn đàu tư
chủ yếu dựa vào vay viện trợ của nước ngoài. Đến cuối những năm 80, giá cả leo
thang, khủng hoảng kinh tế đi liền với lạm phát cao làm cho đời sống nhân dân bị
giảm sút thậm chí một số địa phương nạn đói đang rình rập. Nguyên nhân sâu xa
về sự suy thoái nền kinh tế ở nước ta là do ta đã rập khuôn một mô hình kinh tế
thự hiện cơ chế kinh tế cho dù chúng ta đã liên lục đổi mới hoàn thiện cơ chế quản
lý kinh tế, nhưng hiệu quả của nền sản xuất xã hội đạt mức rất thấp. Sản xuất
không đáp ứng nổi nhu cầu tiêu dùng của Xã họi đạt mức rất thấp, tích luỹ hầu
như không có đôi khi còn ăn lạm cả vào vốn vay của nước ngoài.
- Do đặc trưng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc cái đó chỉ có tác
dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Và chỉ có tác dụng phát triển nền kinh tế theo
chiều rộng. Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài do đó nó không những
không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển mà nó còn sinh
ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng xuất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
- Xét về sự tồn tại thực tế ở nước ta những nhân tố của nền kinh tế thị
trường, Về vấn đề này có nhiều ý kiến đáng giá khác nhau. Nhiều nước cho rằng
thị trường ở nước ta là thị trường sơ khai. Thực tế kinh tế thị trường đã hình thành
và phát triển đạt được những mức phát triển khác nhau ở hầu hết các đô thị và vùng
hẻo lãnh và đang được mở rộng với thị trường quốc tế. Nhưng thị trường ở nước ta
phát triển chưa đồng bộ còn thiếu hẳn thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường
lao động thị trường vốn và thị trường đất đai về cơ bản vẫn là thị trường tự do, mức
độ can thiệp của nhà nước còn rất thấp.
- Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nước ta đang hoà
nhập với nền kinh tế thị trường thé giới, sự giao lưu về hàng hoá dịch vụ và đầu tư
trực tiếp của nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn với
nền kinh tế thị trường thế giới. Tương quan giá cả các loại hàng hoá trong nước gần
gũi hơn với tương quan giá cả hàng hoá quốc tế. - Xu hướng chung phát triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của
môix nước không tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế, sự cạnh tranh giữa
các quốc gia đã thay đổi hẳn về chất không còn là dân số đông, vũ khí nhiều, quân
đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế. Mục đích của các chính sách của các quốc gia là
tảoa đượcnhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình là tốc độ phát triển kinh
tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp, tiềm lực kinh tế đã trở
“người canh gác” cho nền kinh tế.
Quả thật tư tưởng ủng hộ nèn kinh tế thị trường từ do cỉa Adm Smith và các
nhà kinh tế học thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã tạo điều kiện cho nền kinh tế thị
trường phát triển. Song sự phát triển tự do cũng gây nên những tệ nạn như khủng
hoảng thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, bất nình đẳng. Từ đó dẫn đến khủng
hoảng chính trị, xã hội sâu sắc, đe doạ sự tổn hại của chủ nghĩa tư bản đương thời.
Trong bối cảnh đó nhiều nhà kinh tế học thế kỷ XIX đã đưa ra những tư tưởng
Nhà nước phải can thiệp vào kinh tế. Nổi bật là tư tưởng của Karl marx (1818 -
1883) kế thừa quan điểm của những nhà không tưởn Châu âu đầu thế kỷ XIX, K.Mark nhìn nhận nguyên nhân sâu xa của những khủng hoảng thất nghiệp, phân
hoá, bất bình đẳng thừ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Chế độ
tư hữu này đã phân chia xã hội thành hai giai cấp tư sản và vô sản. Giai cấp tư sản
là người nắm trong tay về tư liệu sản xuất. Họ là chủ sở hữu, có quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền định đoạt về tư liệu sản xuất và những kết quả của sản xuất.
Còn giai cấp vô sản là những người bị tước hết tư liệu sản xuất. Để sống họ phải
bán sức lao động cho nhà tư bản chủ nghĩa và quan hệ giữa tư bản và lao động cho
nhà tư sản và họ bị bóc lột giá trị thặng dư. Chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa và
quan hệ giữa tư bản và lao động như vậy làm cho nền kinh tế phát triển tự do, vô
chính phủ lâm vào tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, phân hoá bất bình đẳng.
Để khắc phục những tệ nạn đó giai cấp vô sản phải thông qua cách mạng xã hội
về tư liệu sản xuất, từng bước tiền dần tời một xã hội phồn thịnh, bình đẳng và văn
minh.
Có nhiều người đã đi theo con đường của Kmark và nhiều nơi trên thế giới
đã tiền lên xây dựn XHCN, mà nền tảng của xã hội mà nền tảng của đó là chế độ
sở hữu ch về tư liệu sản xuất.
Mặc dù có nhiều cách lý giải khác nhau, sự thể hiện có những đặc điểm
riêng biệt, song những người theo tư tưởng này đều cho rằng, thông qua sở hữu xã
hội về tư liệu sản xuất, nhà nước nắm được các điều kiện vật chất của sản xuất từ
trường lý tưởng là nền kinh tế - Trong đó các hàng hoá và dịch vụ tự nguyện trao
đổi bằng tiền theo giá thị trường. Hệ thống này cho phép tạo lợi ích tối đa từ các
nguồn tiềm năng sẵn có của xã hội mà không cần sự can thiệp của chính phủ.
Nhưng trên thực tế không có nền kinh tế nào hoàn toàn là lý tưởng của “bàn tay vô
hình”. Mỗi nền kinh tế đèu có những khuyết tật dẫn đến những căn bệnh như ô
nhiễm, thất nghiệp, chênh lệch giàu nghèo quá mức nên bất cứ nơi nào trên thế
giới không có chính phủ, dù bảo thủ tới đâu lạ không nhúng tay vào nền kinh tế.
II - Vai trò nhà nước Việt nam trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý.
1 - Nhà nước ta quản lý kinh tế hay làm kinh tế. Mặc dù không có nhà nước đứng trên nền kinh tế hay ngoài nền kinh tế
nhưng phải nhấn mạnh rằng nhà nước theo nguyên nghĩa của từ này “các nhà chủ
nô, phong kiến, tư sản cổ điển không làm kinh tế hay “quản lý nền kinh tế “ khi
chủ thể của hoạt động này ý thức được rằng: Tài nguyên là khan hiếm một cách
tương đối do đó các giá trị sử dụng cũng khan hiếm một cách tương đối cho dù đát
nước ở bất kỳ trình độ phát triển nào trên thang bậc của nền văn minh nhân loại.
Chính vì vậy chính phủ luôn phải lựa chọn các phương án phát triển kinh tế - xã
hội sao cho với một nguồn lực hiện như đang có của nền kinh tế có khả năng thoả
mãn một cách tốt nhất nhu cầu của dân cư về hàng hoá và dịch vụ, các doanh
nghiệp phải lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh sao cho đạt được lợi
nhuận tối đa. Tuy nhiên, sự khácnhau giữa nhà nước với doanh nghiệp (kể cả
doanh nghiệp nhà nước) chỉ là ở chỗ:
- Các doanh nghiệp làm kinh tế theo nghĩa của từ này: tính hiệu quả kinh tế
bằng thước đo lợi nhuận.
- Nhà nước không “làm kinh tế”như doanh nghiệp làm nhà nước quản lý vĩ
mô nền kinh tế tức là: Lựa chọn phương án phát triển kinh tế - xã hội can thiệp,
điều khiển mỗi hi nền kinh tế đi chệch ngoài phương án bởi các chấn động kinh tế
- chính trị - xã hội bên trong và bên ngoài.
2 - Vai trò kinh tế của nhà nước ta trong nền kinh tế thị trường .
Vai trò quản lý của nhà nước vào cơ chế thị trường những công cụ gián tiếp
không có nghĩa là giảm vai trò của nhà nước trong việc quan rlý kinh tế ch ở nước
ta. Ngược lại , vai trò của nhà nước rất lớn là yeu cầu rất cao. Khi việc quản lý, vĩ
mô của nhà nước mạnh, nhà nước đủ sức can thiệp một cách giản tiếp vào thị
trường thông qua các công cụ của mình nhưng lại rất hiệu qủa đối với nền kinh tế.
Ví dụ, Nhà nước không cần kiểm soát thông qua việc đặt giá, nâng giá mà thông
qua công cụ thuế , luật chống độc quyền, chống đầu cơ buôn lậu, chống hàng gỉ và
nhiều biện pháp kế hoạch hoá vùng, lãnh thổ quy hoạch đô thị quy hoạch xây
dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng, xây dựng chiến lược và kế hoạch đào tạo nguồn nhân
lực con người, kế hoạch lựa chọn công nghệ mới cũng sẽ làm tăng rất nhanh nguồn lực của đất nước. Vai trò can thiệ của nhà nước trong việc ổn định và phát
triển nền kinh tế nước ta đã có ý nghĩa thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế hiện nay.
III - đặc trưng cơ bản của nèn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta.
Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta là cần
thiết và có tính khách quan. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần rồi
chuyển lên kinh tế thị trường không có gì mâu thuẫn với định hướng xã hội chủ
nghĩa. Vậy nội dung định hướng của XHCN là gì ? Đây là vần đề rất phức tạp,
theo ý kiến của đa số các nhà khoa học Việt Nam thì định hướng XHCN nền kinh
tế thị trường ở nước ta có những nội dung chính sau:
Một là: hai mặt kinh tế và xã hội của nền kinh tế thị trường được hcủ động
kết hợp với nhau ngay từ đầu thông qua luật pháp, chính sách kinh tế và chính
sách xã hội trên cả tầm quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô. nếu ở tầm vi mô, các
doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm mụ tiêu xác định hiệu quả của hoạt động sản xuất
kinh doanh thì ở tầm vi mô. Nhà nước dùng hiệu quả kinh tế xã hội là mục tiêu
quản lý nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Hai là: Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, môi trường sinh thái
được chủ động bảo vệ và phát triển qua các dự án đầu tư môi sinh và qua việc
bằng xã hội trong phân phối và mở rộng phúc lợi xã hội cho toàn dân bằng hệ
thống hàng hoá công cộng. Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta
đánh giá tổng quát và rút kinh nghiệm đổi mới ở nước ta như sau: “ cùng với sự
kích thích sản xuất phát triển kinh tế thị trường cũng là một môi trường thuận lợi
để nảy sinh và phát triển nhiều loại tệ nạn ch. Để hạn chế và khắc phục được
những hậu quả tiêu cực ấy, giữ cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng và phát huy
bản chất tốt đẹp của XHCN, Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế -
xã hội bằng luật pháp , kế hoạch, chính sách, thông tin, tuyên truyền giáo dục và
các công cụ khác”.
Sáu là: Nền kinh tế thị trường hướng tới ở nước ta là nền kinh tế dân tộc
hoà hợp với nền kinh tế quốc tế. Với xu hướng phát triển kinh tế mở rộng, nội
dung trên có ý nghĩa rất lớn, một mặt nó phát huy được lợ thế so sánh của nền kinh tế nước ta về vị trí địa lý vè lao động và về tài nguyên thiên nhiên. Mặt khác
nó làm cho nền kinh tế từ đó có điều kiện tiếp thu các yếu tố khoahọc kỹ thuật
hiện đại thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển nhanh chóng hơn. Phần III
Mục tiêu và chức năng quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước Một số giải pháp
cơ bản nhằm đổi mới và tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước.
I - Mục tiêu và chức năng quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước.
1 - Mục tiêu:
Mục tiêu kinh tế của nhà nước được thể hiện trong văn kiện đại hội VIII là
xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sơ vật chất kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao. Quốc phòng an ninh vững
chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra
sức phấn đấu đưa ra nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp phát triển”.
đai trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
d - Củng cố và xây dựng kết cấu hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng là nền tảng phát triển kinh tế đất nước, nó được coi là nền
nhân tố không thể thiếu được hay nói cách khác là nhà nước nắm hầu hết (sở hữu)
phần lớn để đả bảo định hướng là kinh tế - làm như vậy nhà nước không ngừng
đầu tư cho giáo dục và đào tạo, đầu tư áp dụng khoa học kỹ thuật mới nhất của thế
giới để chuẩn bị cho tương lai đưa nứoc ta thành một nước công nghiệp phát triển.
e - Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội
góp phần vào sự hoà bình chung của thế giới, ổn định phát triển kinh tế, hoà nhập
với tấ cả các nước trên thế giới.
2 - Một số công cụ quản lý kinh tế vĩ mô.
Để đạt được những mục tiêu nêu trên nhà nước phải áp dụng các công cụ
kinh tế vĩ mô sau:
a - Hệ thống pháp luật: Nhà nước pháp quyền trước hết phải được thể hiện ở những bộ luật đồng
bộ, đầy đủ và hoa học, pháp luật phải được thực hiện một cách công minh, bảo
đảm sự bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân trước pháp luật phải phản ánh trong
bản thân nó sự vận động của cơ chế thị trường, tư tưởng nhân đạo, các nguyên tắc
tự do bình đẳng. Pháp luật là một biện pháp tạo độ tin cậy rất cao của các nhà đầu
tư vào nền kinh tế. Vì vậy có thể nói rằng nó có tính ổn định cao hơn so với các
chính sách tạo niềm tin vào sự bảo đảm cho vấn đề phát triển kinh tế. Công cụ
pháp luật sẽ kiểm soát được hành vi hoạt động sản xuất kinh doanh do đó sẽ hạn
chế được các mặt tieu cực do hoạt động kinh doanh gây ra.
b - Chính sách tài khoá.
Chính sách tài khoá nhằm diều chỉ thu nhậpvà chi tiêu của chính phủ để
hưởng nền kinh tế vào một nước sản lượng và việc làm mong muốn.
Chính sách tài khoá có 2 công cụ chủ yếu là chi tiêu của Chính phủ và thuế.
Chi tiêu của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô của chi tiêu công cộng
đông giá đông lươngg, những chỉ dẫn chung để ổn định tiền công và giá cả, những
qui tắc pháp lý ràng buộc sự thay đổi giá cả, tiền lương. Đến những công cụ mềm
dẻo hơn như việc hướng dẫn khuyến khiách bằng thuế thu nhập
e - Chính sách kinh tế đối ngoại.
Một nền kinh tế phát triển là nền kinh tế phải hoá nhập với nền kinh tế thế
giới, phải quan hệ hợp tác với các nước trên t hế giới trên quan điểm bình đẳng
cũng phát triển. Chính sách kinh tế đối ngoại nhằm ổn định tỷ giá hối đoái và giữ
cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhận được. Chính sách này
bao gồm các biện pháp giữ cho thị trường hối đoái cân bằng, các qui định về hàng
rào thuế quan bảo hộ mậu dịch và cả những biện pháp tài chính tiền tệ khác tác
động vào hoạt động xuất khẩu. Nhà nước phải biết lựa chọn phương pháp phân
phối lại để phải giải quyết được vấn đề đó Nhà nước dùng hệ thống thuế điều tiết
thu nhập của người giàu đồng thời giúp đơc người nghèo có cơ hội làm giàu, thực
hiện trợ cấp cho những người khó khăn không có khả năng lao đoọg người giá cô đơn, những người thất nghiệp tạm thời. Đó là công cụ có hiệu lực nhất để định hướng
xã hội một nền kinh tế.
II - Một số giải pháo cơ bản nhằm đổi mới và tăng cường vai trò kinh tế
của Nhà nước.
1 - Tiếp tục quá trình tự do hoá giá cả, thương mại hoá nền kinh tế một
cách triệt để.
Nhà nước phải đề ra các biện pháp quản lý giá hết sức linh hoạt và đa dạng
phù hợp với diễn biến của môí loại hình thái thị trường đang từng bước chuyển
mình trong cơ chế mới.
+ Đối với thị trường độc quyền như ngành bưu điện, bưu chính viễn
thông phải có các biện pháp quản lý giá như sau:
- Qui định giá cước chuẩn đối với những dịch vụ độc quyền như giá điện,
cước thư, cước điện thoại trong nước.
- Qui định chính sách, cơ chế quản lý giá sử dụng cước bưu chính viễn
thông do đó cần phải có một chính sách tiền tệ đúng đắn để kiềm chế được lạm
phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế .
5 - Tăng cường phối hợp các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô
Sức mạnh của quản lý nhà nước chính là nhờ ở phương pháp hoạt động
đúng đắn và nghệ thuật phối hợp các hoạt động toàn xã hội theo trật tự và phương
hướng đề ra. Quản lý mệnh lệnh tác động trực tiếp đối tượng thực hiện. còn quản
lý vĩ mô tác động gián tiếp đến các đối tượng, gây nên phản ứng dây chuyền và từ
đó có thể gặt hái được những thành tựu to lớn. Nếu sử dụng các công cụ quản lý vi
mô một cách riêng rẽ như quản lý theo mệnh lệnh, chẳng những kém hiệu quả mà
có thể gây nên những tác hại nặng nề do tác động triệt tiêu lẫn nhau trong cả hệ
thống dây chuyền. Vì vậy cần phải:
- Tổ chức một bộ phận cán bộ chuyên trách đủ mạnh để: Giúp Chính phủ
nghiên cứu mọt cách đồng bộ hệ thống mô hình cần tạo lập và lộ trình thực
hiệnphù hợp với điều kiện thực tế của nước ta. Giám sát hoạt động của các cơ quan chức năng của chính phủ trong việc phối
hợp các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô: kế hoạch, ngân sách, tiền tệ.
Tăng cường hơn nữa vai trò của nhà nước trong việc thiết lập kỉ cương trật
tự mới để tạo môi trường cho cơ chế thị trường vận động có hiệu quả.
- Quản lý nhà nước cần được đổi mới cho phù hợp với cơ chế thị trường
của nền kinh tế.
- Cần hệ thống hoá việc sử dụng các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô là tác
động gián tiếp gây phản ứng dây truyền đẻe đạt hiệu quả tổng thể. Kết luận
Quá trình chuyển đổi cơ chế trong nhưngc năm qua thu đợc những tành tựu
to lớn. Tốc độ tăng trưởng luôn đạt kết quả cao, năm 2000 là 9,5 %, năm 1999 là
3%. Năm 2001 GDP đạt khoản 6% là một trong số ít nước có tốc độ tăng trưởng
Cần phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ cao để hoàn thiện hơn
bộ máy quản lý của nhà nước từ đó sẽ thực hiện tốt được các vấn đề quản lý kinh
tế và đưa nền kinh tế tăng trưởng, phát triển mạnh dẫn đến tạo được việc làm cho
người lao động và hạn chế lạm phát. Thu hút vốn đầu tư của nước ngoài trong sản
xuất, đầu tư những ngành có trọng điểm, hướng mạnh thị trường xuất khẩu để tăng
sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Đứng trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, thế kỷ của trí tuệ, là sinh viên kinh
tế em tự cho mình phải phấn đấu học tập, rèn luyện để sau này trở thành một cán
bộ kinh tế tốt sẽ cống hiến sức mình góp phần vào xây dựng đất nước trở thành
một đất nước có nền kinh tế phát triển mạnh đứng trong hàng ngũ các nước phát
triển trên thế giới. mục lục
lLời nói đầu 1
Phần I
Sự cần thiết và tính tất yếu của việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá
tập trung sang kinh tế thị trường có sụ quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN 3
I - Kinh tế kế hoạch hoá tập trung những ưu điểm và nhược điểm 3
1- ưu điểm 3
2 - Nhược điểm. 3
II - Sự cần thiết phải chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN ở nước ta. 4
Phần II
Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Những đặc trưng cơ
bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta 7
I - Tính tất yếu khách quan vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với
nền kinh tế. 7
II - Vai trò nhà nước Việt nam trong nền kinh tế thị trường có sự quản