Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá
nền kinh tế nước ta đòi hỏi cần có một khối lượng vốn rất lớn. Điều đó tạo điều
kiện cho các Ngân hàng thương mại thực hiện vai trò “trung gian tài chính” của
mình. Tuy nhiên trong một vài năm gần đây các hoạt động của ngân hàng có xu
hướng chững lại và xuất hiện tình trạng ứ đọng vốn trong khi các doanh nghiệp,
các thành phần kinh tế lại đang nằm trong tình trạng thiếu vốn để tổ chức sản
xuất và thực hiện các dự án.
Nguyên nhân của tình trạng trên thì rất nhiều nhưng một trong những
nguyên nhân chủ yếu đó là chất lượng của công tác thẩm định tài chính dự án
đầu tư tại các ngân hàng chưa được quan tâm một cách đúng mức, hoạt động
cho vay còn nặng về trường hợp “ bảo đảm vốn vay bằng tài sản thế chấp”
Qua thời gian thực tập tại Sở Giao Dịch NHNoVN em nhận thấy đây cũng
là một trong những mối quan tâm của Sở Giao Dịch đã và đang được xem xét,
nghiên cứu để tìm ra các giải pháp để khắc phục tình trạng trên. Xuất phát từ
tình hình thực tế của Sở Giao Dịch em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả công tác thẩm định tài chính trong cho vay trung dài hạn
tại Sở Giao Dịch NHNoVN”
Đề tài đi tìm hiểu từ lí luận đến thực trạng của Sở Giao Dịch và cuối cùng
đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện qui trình thẩm định, góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động cho vay trung dài hạn nói riêng và hiệu quả hoạt động kinh
doanh của Sở Giao Dịch nói chung.
Kết cấu của đề tài:
Phần I: Những vấn đề chung về thẩm định tài chính của NHTM
Phần II: thực trạng công tác thẩm định tài chính trong cho vay trung dài
hạn tại Sở Giao Dịch NHNoVN
Hoạt động đầu tư hay ngắn gọn là đầu tư hiểu theo nghĩa rộng nhất là quá
trình sử dụng các nguồn lực để đạt được những mục tiêu nhất định trong một
khoảng thời gian nhất định.
Trong lĩnh vực kinh tế, hoạt động đầu tư được hiểu một cách ngắn gọn là
hoạt động bỏ vốn nhằm thu lợi trong tương lại. “Vốn” ở đây được hiểu là toàn
3
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
bộ vốn bằng tiền mặt, giá trị thiết bị, nhà xưởng, tài nguyên, đất đai... và “lợi”
được hiểu là lợi nhuận và các lợi ích kinh tế khác.
2. Dự án đầu tư.
Theo nghĩa rộng dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với
những mục tiêu, phương pháp và phương tiện để đạt được trạng thái mong
muốn.
Về nội dung, dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động dự kiến với các
nguồn lực và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch
thời gian và địa điển xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng
nhất định nhằm thực hiện mục tiêu lợi nhuận hoặc những mục tiêu kinh tế xã hội
nhất định.
Trong hoạt động thẩm định cho vay của ngân hàng thì : Dự án đầu tư là
một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải taọ
những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến
hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng
thời gian xác định.
Như vậy, dự án đầu tư không phải là một ý định hay phác thảo mà có tính
cụ thể và mục tiêu xác định nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định. Nó còn là
phương tiện thuyết phục chủ yếu để tìm kiếm sự tài trợ từ các tổ chức tài chính,
suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố. Chính điều này là một trong những vấn
đề hệ trọng tính đến trong mọi nội dung phân tích, đánh giá quá trình thẩm định
dự án.
3.3. Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích
trong tương lai.
Đầu tư về phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại đánh đổi
lấy lợi ích trong tương lai (vốn để đầu tư không phải là nguồn lực để dành) Vì
vậy luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai.
Rõ ràng nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích
thu trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện tại mà họ tạm thời phải hi sinh.
3.4. Hoạt động đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.
Hoạt động đầu tư là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro bởi vì kết quả của
hoạt động đầu tư là không thể dự tính một cách khách quan tại thời điểm Quyết
định đầu tư, Quyết định đầu tư phần nào mang tính chủ quan của nhà đầu tư và
không thể lường hết những thay đổi của môi trường tác động vào dự án trong
5
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
tương lai (thay đổi về thị trường, về sản phẩm đầu vào, đầu ra, lạm phát...). Vì
vậy, chấp nhận rủi ro như là bản năng của nhà đầu tư. Tuy nhiên nhận thức rõ
ràng điều này nhà đầu tư cũng có những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay
hạn chế để khả năng rủi ro xảy ra là thấp nhất.
Thông qua những đặc trưng của hoạt động đầu tư giúp nhà đầu tư có đựơc
cái nhìn bao quát về mọi khía cạnh của dự án. Từ đó giúp cho quá trình phân
tích, đánh giá dự án một cách cặn kẽ và chính xác. Đồng thời tìm ra phương
pháp, biện pháp nhằm hạn chế rủi ro bởi các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình
thực hiện dự án.
khả năng tự có cũng như khả năng huy động các nguồn vốn, và giảm chi phí
chuẩn bị cũng như tiến hành hoạt động đầu tư đem lại lợi nhuận cao trong tương
lại để Quyết định đầu tư.
Về phía các cơ quan quản lí vĩ mô của nhà nước: Việc thẩm định dự án
đầu tư sẽ giúp các cơ quan này đánh giá được tính cần thiết và phù hợp của dự
án với chiến lược, chương trình, kế hoạch kinh tế quốc dân thông qua các
chương trình phát triển liên kết, kế hoạch sản xuất ngành, địa phương, các công
trình hỗ trợ trên các mặt: Mục tiêu, quy hoạch và hiệu quả. Nó giúp xác đinh
được cái lợi, cái hại của dự án trên các mặt khi đi vào hoạt động như công nghệ
cũ, vốn, gây ô nhiễm môi trường và các lợi ích kinh tế xã hội khác.
Về phía các nhà tài trợ: Việc thẩm định sẽ giúp họ đánh giá, xem xét lại
các chi phí và hiệu quả của dự án, các luồng dịch chuyển về giá trị trên cơ sở đó
có chấp nhận các kế hoạch trả nợ không và từ đó có Quyết định tài trợ đúng đắn.
Điều này giúp cho các nhà tài trợ hỗ trợ chủ dự án sử dụng đồng vốn có hiệu quả
đồng thời bảo đảm sự an toàn tài chính cho chính nhà tài trợ.
Tóm lại, thẩm định dự án đầu tư là một công việc cần thiết, mặc dù đôi
khi khá phức tạp do có sự tồn tại của các cơ hội kinh tế thay thế lẫn nhau để tận
dụng các nguồn lực.
Nội dung thẩm định dự án đầu tư:
Có nhiều khía cạnh có liên quan, tương hỗ khác nhau cùng tạo nên một dự
án tổng thể. Nhìn chung, chúng thuộc loại hình kỹ thuật, kinh tế, kinh tế, tài
chính và pháp luật, nhưng quan hệ của chũng làm rõ tới mức toàn bộ chúng cần
phải được cân nhắc, xem xét trước khi ra Quyết định đầu tư.
+ Thẩm định các điều kiện pháp lý và mục tiêu của dự án:
7
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
mức kinh tế - kỹ thuật phải rà soát cho phù hợp với điều kiện cụ thể của dự án
như:
- Kiểm tra những sai sót trong tính toán: tính toán không đúng, không
đủ, không phù hợp.
- Kiểm tra tính phù hợp của công nghệ thiết bị đối với dự án, cũng như
tác động của chúng đến môi trường.
+ Thẩm định khía cạnh nhân lực và tổ chức quản lí.
Việc thẩm định dự án để cho được hiệu quả thì không thể chỉ hạn chế
trong việc đánh giá về tài chính và kinh tế các chi phí và lợi ích với giả thiết
rằng dự án sẽ được xây dựng và hoạt động đúng kỳ hạn. Điều này giả thiết là
phải có sự hỗ trợ về mặt hành chính để thực hiện dự án, điều này đặc biệt quan
trọng đối với các nước đang phát triển, mà ở nhiều nước việc đó lại hoàn toàn
không có. Rất nhiều dự án đã thất bại vì chúng đã được thực hiện trong điều
kiện không có sự hiểu biết về quản lí hành chính cần thiết cho việc triển khai dự
án theo đúng yêu cầu quy định. Triển vọng các lợi ích về mặt kinh tế tài chính
có đạt được hay không là tuỳ thuộc vào năng lực quản lí hành chính của cơ quan
có trách nhiệm thi hành dự án.
Bên cạnh đó thị trường lao động cần phải được nghiên cứu kỹ nhằm đảm
bảo rằng các tính toán về các mức tiền lương phải trả là chính xác, cũng như
nguồn cung cấp nhân lực dự trù là hợp lí trong điều kiện cụ thể của thị trường
lao động đảm bảo được chất lượng công việc trong dự án.
+ Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án.
Quá trình phân tích tài chính là khâu tổng hợp đầu tiên các biến số tài
chính với các biến số kỹ thuật đã được tính toán trong các phần nêu trước đây và
là dữ liệu đầu vào cho các khâu thẩm định kinh tế - xã hội về sau.
Do quá trình thẩm định gồm nhiều giai đoạn nên việc thẩm định các khía
cạnh trên sẽ được tiến hành ở bất kỳ giai đoạn nào. nếu là giai đoạn soạn thảo thì
do các nhà lập dự án thẩm định. Song một dự án hình thành xong, phân tích các
khía cạnh nêu trên phải được tiến hành một cách nghiêm túc và khách quan, để
trên cơ sở đó ra Quyết định chứ không phải ngược lại chỉ là hình và nhằm chứng
minh cho một Quyết định đã có. Chính vì vậy mà các cơ quan tư vấn hoặc
chuyên gia được giao trách nhiệm thực hiện công việc thẩm định, người thực
hiện công việc không thể là người của dự án.
10
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Thẩm định dự án cần phải được tiến hành ở tất cả các khía cạnh nêu trên.
Nó nằm tăng cường mức độ chính xác của việc tính toán các biến cố chủ yếu mà
chủ dự án đã lập. Việc đưa ra các kết luận đánh giá trên các khía cạnh sẽ cho
phép đưa ra các Quyết định đầu tư hay Quyết định tài trợ đúng đắn và là cơ sở
cho khả năng dự án sẽ đứng vững trong vòng đời hữu dụng của nó.
Tóm lại, ta có thể nghĩ về một dự án như là một tập hợp các quan hệ giao
dịch, qua đó các cá nhân hay tổ c hức phải chịu các chi phí khác nhau và nhận
được những lợi ích khác nhau. Việc thẩm định dự án từ một số quan điểm khác
nhau là rất quan trọng vì chúng cho phép các nhà phân tích xác định xem các
thành viên liên quan đến dự án có thấy đáng tài trợ, đáng tham gia thực hiện dự
án hay không. Để đảm bảo cho việc phê chuẩn và thực hiện thành công một dự
án phải hấp dẫn đối với tất cả những người đầu tư và những người thực hiện có
liên quan tới dự án.
II. PHƯƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG.
1.Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư.
Thành phần vốn gồm có vốn cố định và vốn lưu động :
+ Vốn cố định: Nhằm tạo ra năng lực mới tăng thêm để đạt mục tiêu của
dự án. Bao gồm:
Vốn chuẩn bị đầu tư gồm các chi phí điều tra, khảo sát, lập, thẩm định
dự án đầu tư.
Vốn chuẩn bị xây dựng bao gồm:
Chi phí ban đầu về đất đai (đền bù, giải phóng mặt bằng, chuyển quyền sử
dụng đất).
Chi phí khảo sát, thiết kế, lập và thẩm định thiết kế, tổng dự toán. chi phí
đấu thầu, hoàn tất các thủ tục đầu tư (cấp giấy phép xây dựng, giám định, kiểm
tra thiết bị...)
Chi phí xây dựng đường điện, nước, thi công, lán trại thi công.
Vốn thực hiện đầu tư:
Chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo các hạng mục công trình, lắp đặt thiết
bị. Chi phí thiết bị: Chi phí mua sắm thiết bị, chi phí vận chuyển về công trường,
bảo quản thiết bị.
Chi phí quản lí, giám sát thực hiện đầu tư.
Chi phí sản xuất thử và nghiệm thu bàn giao
12
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Chi phí huy động vốn: Các khoản lãi vay vốn đầu tư và các chi phí phải
trả trong thời gian thực hiện đầu tư.
+ Vốn huy động: là khoản vốn đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên sau khi
kết thúc giai đoạn thực hiện đầu tư gồm:
Vốn sản xuất: tiền, nguyên vật liệu, nhiên liệu, lương...
Vốn lưu thông: sản phẩm dở dang, thành phẩm tồn kho, hàng hoá bán
- Chi phí mua sắm thiết bị (loại thiết bị, số lượng, đơn giá).
- Chi phí khác.
- Biểu tính vốn lưu động.
- Tổng chi phí sản xuất.
- Doanh thu.
- Dự trù lỗ lãi.
- Thời gian hoàn vốn.
+ Thông qua xem xét cần có các kết luận chính xác về:
- Dự án đã đưa đủ các yếu tố chi phí vào giá thành chưa?
- Sự hợp lý các định mức tiêu hao nguyên liệu vật liệu ?
- Tỷ lệ trích khấu hao đã hợp lý chưa ?
- Các chi phí khác có điểm nào chưa phù hợp ?
- Tỷ lệ đạt công suất hoạt động qua các năm ?
- Doanh thu và khả năng thực tế đạt được ?
Sau khi các số liệu trên bảng tính toán đã được kiểm định là hợp lý, cán
bộ thẩm định tiến hành thẩm định một số chỉ tiêu tài chính quan trọng giúp
lượng hoá hiệu quả tài chính của dự án, giúp cho các nhận định về dự án có tính
chính xác và khoa học. Được thể hiện các phương pháp sau:
1.2.Các phương pháp sử dụng khi thẩm định dự án đầu tư:
Từ trước đến nay các nhà đầu tư đã sử dụng một trong các phương pháp
sau:
- Giá trị hiện tài ròng (NPV)
- Tỷ suất nội hoàn (IRR)
- Thời gian hoàn vốn (PP)
- Điểm hoà vốn.
- Tỷ số lợi ích - chi phí (BCR).
14
Website:
Email :
Hệ số chiết khấu = 1
( 1+ r)
t - x
Trong đó:
r: tỷ lệ chiết khấu
15
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
t: năm thứ t của dự án
x: năm được chọn làm mốc quy đổi (thường = 0).
1.2.1 Phương pháp giá trị hiện tại ròng (Net Present Value - NPV).
Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị
hiện tại của các luồng tiền kỳ vọng trong tương lai với giá trị hiện tại của các chi
phí của dự án đầu tư.
Có thể biểu diễn bằng phương trình sau
Trong đó:
B1,B2.......Bn: luồng thu nhập của các thời kỳ.
C1, C2....Cn: luồng chi phí của các thời kỳ.
t: năm thứ t của dự án.
r: tỷ lệ chiết khấu
Co vốn đầu tư
n: thời gian hoạt động của dự án.
Xác định chính xác tỷ lệ chiết khấu của từng dự án đầu tư là một việc làm
không đơn giản. có thể hiểu tỷ lệ chiết khấu là phần lợi nhuận thích hợp bù đắp
rủi ro. Rõ ràng là khi mức rủi ro của dự án bằng với mức rủi ro của doanh
nghiệp và chính sách tài trợ của doanh nghiệp phù hợp với dự án, thì tỷ lệ chiết
khấu thích hợp bằng với chi phí trung bình của vốn (WACC).
trước được thì giá trị hiện tại ròng của một dự án tính như sau:
NPV = -Co + B1- c1 + B2-C2 + Bn-Cn
1+r
1
(1+r
1
)(1+r
2
) (1+r
1
)(1+r
2
).. (1+r
n
)
trong đó: r
1
,r
2
,r
3
......rn : là tỷ lệ chiết khấu các năm tương ứng.
Nguyên tắc sử dụng phương pháp NPV làm tiêu chuẩn đầu tư.
Trong trường hợp dự án đầu tư cần đánh giá độc lập so với các dự án khác
thì chấp thuận hay bác bỏ dự án đó tuỳ thuộc vào giá trị của NPV. Có 3 khả
năng có thể xảy ra:
NPV > 0 chấp thuận dự án
NPV < 0 loại bỏ dự án.
NPV = 0 doanh nghiệp sẽ không thiên vị trong việc chấp thuận
- Không thể so sánh được các dự án nếu thời gian của chúng khác nhau.
- Phụ thuộc vào cách lựa chọn r – tỷ lệ chiết khấu.
- NPV chỉ cho thấy giá trị tuyệt đối của lợi nhuận mà không cho thấy tỷ
lệ phát sinh của dự án, do đó sẽ có thể bỏ qua những dự án có tỷ lệ sinh lời cao.
- Tất cả các khoản tiền này lại xảy ra trong suốt các kỳ.
1.2.2. Phương pháp tỷ suất nội hoàn ( Internal Rate of Return - IRR )
Phương pháp tỷ suất nội hoàn nội bộ (IRR) là phương pháp xếp hạng các
dự án đầu tư sử dụng tỷ lệ lãi suất đối với một khoản đầu tư tài sản. Trong đó tỉ
lệ lãi suất này được tính bằng cách tìm một tỷ lệ chiết khấu mà nó làm cân bằng
giá trị hiện tại của những luồng tiền tương lai và chi phí đầu tư.
Về phương diện tính toán IRR của một dự án là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó
NPV = 0
Ta có phương trình dùng để tính toán IRR.
∑
=
+
−
+−
0
1 IRR
CtBt
C
Trong đó
IRR: tỷ suất nội hoàn (cần xác định).
Co : vốn đầu tư ban đầu
Bt thu nhập trong năm t
Ct : chi phí trong năm t
n: thời gian phân tích dự án.
Việc giải phương trình trên theo một phương pháp toán học nào đó là hết
sức khó khăn (trường hợp n lớn) nhiều khi là không thực hiện được, để xác định
< r
2
- NPVr
1
, NPVr
2
< 0 và NPVr
1
, NPVr
2
rất gần 0.
Nguyên tắc sử dụng IRR làm tiêu chuẩn đầu tư:
-Trường hợp các dự án đầu tư là độc lập về mặt kinh tế, quy tắc áp dụng
để các Quyết định đầu tư như sau:
IRR > chi phí cơ hội của vốn ⇒ chấp nhận dự án.
IRR < chi phí cơ hội của vốn ⇒ bác bỏ dự án.
IRR = chi phí cơ hội của vốn ⇒ tuỳ theo những yêu cầu khác đối với
dự án, chủ dự án có thể chấp nhận hay bác bỏ.
-Trường hợp các dự án loại trừ nhau thì chúng ta chọn dự án có IRR cao
nhất. Tuy nhiên nếu IRR cao nhất nhỏ hơn tỷ lệ sinh lời cần thiết của dự án (hay
chi phí cơ hội của vốn) thì không dự án nào trong các dự án đó không được chấp
nhận.
Ưu điểm của phương pháp IRR:
- Đo lường bằng tỉ lệ phần trăm, nên dễ dàng so sánh với chi phí sử dụng
vốn, nó chỉ rõ tỷ lệ lãi vay tối đa mà dự án có thể chịu đựng được. Không có
phương pháp nào khác để cung cấp thông tin quan trọng như vậy và đây chính là
ưu điểm rất quan trọng của tiêu chuẩn IRR.
- Tỷ suất nội hoàn là một tiêu chuẩn hay được sử dụng để mô tả tính hấp
cho một dự án đầu tư. Mặt khác, các nhà quản trị còn sử dụng thời gian hoàn
vốn để đánh giá các dự án đầu tư bằng cách thiết lập chi tiêu thời gian hoàn vốn
cần thiết và thời gian hoàn vốn tối đa có thể chấp nhận được của dự án. Những
dự án có thời gian hoàn vốn dài hơn thời gian cho phép tối đa sẽ bị loại bỏ và
những dự án có thời gian hoàn vốn ngắn hơn chỉ tiêu thời gian hoàn vốn tối đa
sẽ được chấp nhận.
+ Quy tắc thời gian hoàn vốn đã được sử dụng rộng rãi trong việc Quyết
định đầu tư bởi :
20
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
- Dễ áp dụng và khuyến khích đầu tư vào các dự án có thời gian hoàn
vốn nhanh.
- Nếu sử dụng hợp lý, nó có thể tạo ra một hình ảnh ban đầu về dự
án.
+ Tuy nhiên, phương pháp này còn có nhiều nhược điểm.
- Phần thu nhập ngoài thời gian hoàn vốn bị bỏ qua hoàn toàn mà
không được tính trong dự án. Do đó không biết chính xác về doanh lợi của dự án
đầu tư.
- Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được
xem xét, đánh giá.
- Không đo lường được tác động trực tiếp của dự án đối với thu nhập
của cổ đông.
- Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận của chủ sở hữu.
- Yếu tố thời gian của tiền tệ không được đề cập đến trong quá trình
tính toán (đối với thời gian hoàn vốn không chiết khấu).
lựa chọn các dự án loại trừ lẫn nhau, quy tắc là chọn dự án nào có tỷ số lợi ích –
chi phí lớn nhất.
+ Nhược điểm khi áp dụng phương pháp tỷ số lợi ích - chi phí :
- Tiêu chuẩn này có thể làm ta xếp hạng sai các dự án nếu các dự án này
khác nhau về quy mô, các dự án loại trừ nhau.
- Tỷ số này rất nhạy cảm với các định nghĩa về chi phí trên phương diện
kế toán. Trong cách tính BCR nêu trên, ta quan niệm lợi ích là toàn bộ các
nguồn thu gia tăng của dự án, còn chi phí đầu tư là tổng của chi phí sản xuất gia
tăng, chi phí vận hành và bảo dưỡng, chi phí đẩu tư hay chi phí đầu tư thay thế
(nếu có). Việc xếp hạng hai dự án có thể trái ngược nhau tuỳ theo cách người ta
xử lý chi phí hiện thời (Current Cost).
1.2.5. Phương pháp theo tiêu chuẩn điểm hoà vốn (H) :
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu bằng chi phí bỏ ra. Phân tích
điểm hoà vốn được tiến hành nhằm xác định mức sản lượng sản xuất hoặc mức
doanh thu thấp nhất mà tại đó dự án có thể vận hành không gây nguy hiểm tới
22
∑
∑
=
=
+
+
=
n
t
t
r
Ct
BCR
0
VC : Biến phí trên một đơn vị sản phẩm.
Q : Sản lượng dự kiến sản xuất và tiêu thụ hàng năm.
Doanh thu ở điểm hoà vốn :
Trong đó :
TR
o
: Tổng doanh thu ở điểm hoà vốn.
TR : Tổng doanh thu dự kiến trong năm của dự án.
TFC : Tổng chi phí cố định trong năm của dự án bao
23
TVC -TR
TFC
H hoµ vèniÓm§
==
TR H Q hay
VC -P
TFC
Q
LToo
×==
TR H TR hay
P
VC
- 1
TFC
TR
LToo
×==
Website:
thuÇn thu Doanh
hoµ vènthu Doanh
Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
Bên cạnh việc đánh giá hiệu quả kinh tế vốn đầu tư cần phải tiến hành
phân tích khả năng thanh toán và cơ cấu vốn nhằm xem xét đánh giá khả năng
thanh toán của dự án.
+ Phân tích khả năng thanh toán :
Trong quá trình đầu tư, việ thiếu hụt hoặc dư thừa tiền mặt cũng như một
cơ cấu vốn không hợp lý sẽ làm cho việc sử dụng vốn đầu tư thiếu hiệu quả. Nếu
như đánh giá hiệu quả vốn đầu tư chỉ chú trọng và các nguồn lực thực sự được
sử dụng trong dự án và do đó không tính tới các khoản thu, chi có ảnh hưởng tới
bảng cân đối tiền mặt trong dự án thì phân tích khả năng thanh toán có nhiệm vụ
đánh giá tình trạng tiền mặt trong suốt quá trình hạot động của dự án, nó tính
đến tất cả các khoản thu, chi bằng tiền (thu tiền bán sản phẩm, chi trả nợ, trả cổ
tức ...) của dự án. Trong bảng phân tích khả năng thanh toán có 3 phân fchính :
Dòng tiền vào, dòng tiền ra, tình trạng tiền mặt.
Dòng tiền vào : Bao gồm tất cả những khoản thu bằng tiền mặt của dự án
(bán các sản phẩm, dịch vụ ...). Lưu ý là không phải toàn bộ giá trị sản lượng
của dự án là các nguồn thu bằng tiền mặt. Bởi vậy, khi tính dòng tiền vào ta cần
trừ đi phần sản lượng của dự án không được đem bán ngoài thị trường.
Dòng tiền ra : Bao gồm tất cả các khoản chi bằng tiền mặt của dự án như
chi mua nguyên vật liệu, trả lương công nhân, thanh toán các khoản nợ và lãi
cho các khoản vay, trả chậm ...
Tình trạng tiền mặt :
Tình trạng tiền mặt của dự án có thể là dư thừa hay thiếu hụt tại một thời
điểm nào đó và được xác định trên cơ sở tổng các nguồn thu bàng tiền mặt trừ đi