TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Hà Nội – 2015
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đươc công bố trên công trình khoa
học nào khác.
Tôi xin cam đoan: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Lý Thị Phương
MỤC LỤC
4
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xu thế toàn cầu hóa đã đặt ra nhiều vấn đề hệ trọng đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia, dân tộc, vừa tạo ra những cơ hội lớn cho sự phát triển, đồng thời cũng
đưa đến không ít những thách thức, khó khăn nhất là việc giữ gìn và phát huy
những giá trị văn hóa dân tộc đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển như Việt
Nam. Hòa chung với bối cảnh thế giới đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập
đa phương hóa đa dạng hóa các quan hệ quốc tế tạo điều kiện cho sự phát triển. Quá
trình đó vừa có những tác động tích cực, nhưng đồng thời cũng gây ra những hậu
quả tiêu cực nhất là đối với giá trị văn hóa dân tộc. Nhận thức được tính phức tạp
đó. Trong Hội Nghị trung ương 5 (khóa VIII), Đảng ta đã ra nghị quyết “về xây
dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và xác định
đang đặt ra ở nước ta hiện nay
Ý thức được điều đó, với mong muốn góp tiếng nói trong thực hiện nhiệm vụ
trên tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán
Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề văn hóa dân tộc là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới
nhiều khía cạnh khác nhau như: Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Văn hóa,
Dân tộc học… Bản “Đề cương văn hóa Việt Nam” năm 1943 của đồng chí Trường
Chinh đã cụ thể và đề ra việc xây dựng một mô hình văn hóa mới là “dân tộc, đại
chúng và hiện đại”
Bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với một quốc gia,
dân tộc. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng mục tiêu xây dựng và phát
huy các giá trị văn hóa dân tộc, cho đến nay đã có nhiều đề tài, nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này, phải kể đến như :
“Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay”, Luận văn thạc
sĩ Triết học của Lê Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH & NV – ĐHQG Hà Nội,
“Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai trong
điều kiện kinh tế thị trường hiện nay” của Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí văn hóa nghệ thuật,
số 7/200.
6
“ Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ trong công cuộc
đổi mới hiện nay” Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
2003 của Đỗ Văn Hòa.
“Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh
Phúc Thọ hiện nay”, Đinh Thị Hoa,. Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội , 2006.
“ Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số vùng tây bắc nước ta”, Viện
chủ nghĩa xã hội khoa học, kỷ yếu đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2007, Học viện chính trị -
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008.
Bên cạnh đó, những bài viết công trình nghiên cứu về văn hóa dân tộc Sán Dìu như:
của kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập vấn đề văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc
Sán Dìu đang có những biến đổi sâu sắc, do đó có những khía cạnh cần phải đi
sâu nghiên cứu thêm và từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu và xây dựng đời sống văn hóa tinh
thần cho đồng bào dân tộc Sán Dìu.
Hơn nữa, tỉnh Vĩnh Phúc (ngoài các công trình nghiên cứu về dân tộc học và
văn hóa các dân tộc của tỉnh) chưa có công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học nào
bàn về chính sách dân tộc của tỉnh một cách toàn diện và đầy đủ. Vì vậy, đề tài
không trùng lặp với các đề tài, công trình nghiên cứu đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Sán Dìu, tầm quan trọng và thực trạng giữ
gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay.
Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích những nhân tố tác động và thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
8
- Đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận của đề tài: Đề tài được thực hiện dựa trên những nguyên lý, lý
luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa và chính sách dân tộc, đồng thời đề tài
có kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn
có liên quan.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh cũng như những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Kết cấu luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương, 6 tiết, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1: Bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu – Nội dung và tầm quan trọng của
việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong
bối cảnh hiện nay
Chương 2: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh
Phúc hiện nay- những nhân tố tác động, thực trạng và giải pháp
B. NỘI DUNG
Chương 1:
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC SÁN DÌU – NỘI DUNG VÀ TẦM QUAN
TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
SÁN DÌU Ở TỈNH VĨNH PHÚC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
1.1. Khái niệm về văn hóa và bản sắc văn hóa
10
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là gì? Câu hỏi được đặt ra từ lâu đối với tư duy của nhân loại, điều
này chứng tỏ văn hóa đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, văn hóa được như
là một cái gì thiêng liêng đối với mỗi con người, linh hồn của dân tộc. Với tư cách
là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, văn hóa là một
khái niệm có nội hàm rộng, vì thế nó đã tạo nên diện mạo phong phú và đa dạng của
đời sống tinh thần của con người, thời đại.
Hơn nữa trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển,
trình độ tư duy của con người được mở rộng, thì nội hàm văn hóa càng được mở
rộng hơn. Văn hóa được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học,
trở thành thuật ngữ đa nghĩa, trên thế giới hiện nay có hàng trăm cách định nghĩa
khác nhau về văn hóa, và nhiều cách tiếp cận khác nhau:
* Một số quan niệm về văn hóa ở phương Đông và phương Tây
- Ở phương Đông: Thế kỷ VI –Trước Công Nguyên Khổng Tử đã dùng thuật
ngữ “Văn” để chỉ những giá trị đẹp của cuộc sống, trong sự giao tiếp, ứng xử của con
người với con người. Cái đẹp ấy không chỉ là cái đẹp ở hình thức, mà nó bao hàm cả
nhân thế mà xem văn hoá có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải như
vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm sự sinh
hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm
thường lại không phải là ở trong phạm vi của văn hoá hay sao? Hai tiếng “văn hoá”
chẳng qua chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta có
thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt”. [11,tr.9]Quan niệm này cũng đã đồng nhất
văn hoá với xã hội.
Cũng có những định nghĩa khác coi là phong tục, tập quán, tín ngưỡng; lúc thì
được coi là chuẩn mực, lối sống… thật vậy, thuật ngữ văn hóa được sử dụng rộng
rãi trong nhiều bộ môn khoa học cụ thể, làm cho mỗi nó tìm thấy những phương
diện phù hợp với vấn đề mà nó giải quyết.
- Ở phương Tây: Văn hóa theo tiếng Latinh là Cultus animi là trồng trọt
tinh thần.Cultus là văn hóa với hai khía cạnh:
Khía cạnh thứ nhất, Văn hóa được hiểu như là một sự “gieo trồng tư tưởng”;
Khía cạnh thứ hai, xem văn hoá như là “tự nhiên thứ hai” do con người sáng
tạo ra và đối lập với “tự nhiên thứ nhất”. Đây là cách xem xét phổ biến trong quan
niệm của các nhà tư tưởng thời kỳ Phục Hưng và Cận Đại. Ở giai đoạn này, người
12
ta đã nhận thấy văn hoá là kết quả của sự phát triển của con người, đồng thời văn
hoá là đặc trưng và cơ sở để hình thành nên con người xã hội.
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cả phương Đông và phương
Tây, về cơ bản đều thống nhất văn hóa là tất cả những do con người sáng tạo ra các
giá trị trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn. Do đó, văn hóa là đặc trưng cơ
bản nhất để phân biệt giữa con người và con vật.
Văn hóa không chỉ được nghiên cứu bởi nhiều chuyên ngành khác nhau, mà các
nhà triết học đã lấy đó làm đối tượng phục vụ cho quá trình nghiên cứu của mình.
Có thể nói, trường phái triết học duy tâm cổ điển Đức đã có nhiều đóng góp
đáng kể trong việc xây dựng khái niệm văn hoá, tiêu biểu là I.Kant và G.W.F.Hegel.
Theo I.Kant: Văn hoá là giá trị của con người, hay đó là: Sự phát triển những lực
lượng tự nhiên của con người và là khả năng lấy mình làm mục đích, bằng cách sử
con người cải biến tự nhiên, tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của mình, lao động
là đặc thù của con người.
Trong Bản Thảo kinh tế triết học 1844. C.Mác đã khẳng định: “Mỗi bước tiến của lịch
sử là một bước tiến của văn hóa”, chủ nghĩa Mác thú nhận nó với tư cách là một hệ giá trị,
bị chi phối bởi các điều kiện lịch sử, năng lực thực hiện. Khi so sánh hoạt động của con
người và động vật, C.Mác cho rằng: “Cố nhiên súc vật cũng sản xuất, nó xây dựng tổ, chỗ ở
của nó như con ong, con Hải Ly… nhưng súc vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó trực tiếp
cần đến, nó sản xuất một cách phiến diện; còn con người thì sản xuất một cách toàn diện;
con vật chỉ sản xuất và bị chi phối vởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuất
ngay cả khi được giải phóng khỏi nhu cầu của thể xác và chỉ khi giải phóng khỏi nhu cầu
mới sản xuất chân chính của chữ đó, con vật mới sản xuất ra bản thân nó, còn con người
sản xuất ra toàn bộ thế giới tự nhiên”. [5,tr.136,137]. Con vật chỉ chế tạo theo kích thước và
nhu cầu của loài đó, còn con người có thể sản xuất theo kích thước của bất cứ loài nào ở
đâu cũng biết vận dụng cái bản chất có hữu của mình; do đó con người cũng chế tạo theo
quy luật của cái đẹp.
Như vậy, có thể nói việc con người tạo ra “ thiên nhiên thứ hai” theo quy luật của cái
đẹp là cái thuộc tính bản chất, quy định cái văn hóa trong hoạt động của con người. Nếu tự
nhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành và phát triển con người thì văn hóa là cái nôi thứ
hai. Nếu tự nhiên là cái quyết định sự tồn tại của con người với tư cách là một thực thể sinh
vật thì văn hóa là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực của bản chất người gắn liền
với các hoạt động sống của con người.
14
Trong Luận cương thứ 6 về Phoi ơ bắc C.Mác đưa ra luận điểm: “Bản chất con người
là tổng hòa những quan hệ xã hội”. [2,tr.11]. Theo đó không có con người trừu tượng thoát
ly mọi hoàn cảnh xã hội. Trong điều kiện hoạt động thực tiễn của mình con người đã tạo ra
những giá trị vật chất và tinh thần đó chính là văn hóa. Có thể nói hoạt động xã hội của con
người là tiền đề cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội và văn hóa cũng được kế thừa trong tiến
trình phát triển của nhân loại.
- Quan điểm của Lênin về văn hóa
Kế thừa và phát triển các quan điểm của triết học Mác, V.I. Lênin đã phân tích sâu sắc
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo văn hóa nghệ thuật
những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng,
toàn bộ những phát minh đó là văn hóa, văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh
hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu
cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. [24,tr.431]
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 văn hóa được Chủ tịch Hồ Chí Minh
xác định là đời sống tinh thần của xã hội, văn hóa thuộc về kiến trúc thượng tầng,
có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, chính trị và xã hội.
Quan điểm về văn hóa của Người đã khái quát nội dung rộng nhất của phạm trù
văn hóa, qua đó chỉ ra văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con
người, mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất. Văn hóa với tư cách
là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội. Nó biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự
nhiên và xã hội, biểu hiện khả năng và sức sáng tạo của con người.
Từ góc độ tiếp cận văn hóa của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh khi nói đến văn hóa là nói đến con người, con người tạo ra
văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người. Có thể nói: Văn hóa là sự
phát triển lực lượng vật chất và tinh thần, biểu hiện trong lĩnh vực sản xuất vật chất
và sản xuất tinh thần của con người. Tuy nhiên, sự phân chia đó chỉ mang tính chất
tương đối, bởi giá trị “văn hóa vật chất” về thực chất là được vật chất hóa từ các
“giá trị tinh thần”. Hơn nữa, các giá trị tinh thần không bao giờ tồn tại dưới dạng
thuần túy tinh thần, mà tồn tại dưới dạng phi vật thể mang tính khác quan như văn
hóa trong các lĩnh vực giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán, tín
ngưỡng,v.v,…
- Quan điểm của Đảng ta về văn hóa
16
Nghị quyết Hội nghi lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII):
Về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đâm đà bản sắc dân tộc: “Văn
hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường
dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và
tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới không ngừng hoàn thiện mình.
văn hóa.
Nghiên cứu về vấn đề này Hồ Bá Thâm, đưa ra quan niệm bản sắc văn hóa:
“Là một kiểu tổng hợp, kết hợp những phẩm chất, những giá trị văn hóa nội sinh và
ngoại sinh tạo thành linh hồn, sức sống bền vững của dân tộc, có nét ưu trội đặc
biệt hơn một số dân tộc khác, vừa mang tính ổn định tương đối vừa biến đổi trong
quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng của dân tộc đó”.[22,tr.23]
Qua cách tiếp cận trên của các học giả Việt Nam, cho thấy: Bản sắc văn hóa
biểu hiện các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể
hiện tập trung ở truyền thống văn hóa. Đó là các giá trị được lưu giữ qua các thời kỳ
lịch sử nối tiếp từ thế hệ này qua thế hệ khác, hòa vào dòng chảy liên tục của lịch
sử văn hóa các dân tộc. Khi đã hình thành và trở thành truyền thống của bản sắc văn
hóa mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi
của cá nhân và cộng đồng. Song khái niệm bản sắc văn hóa không phải là sự cố
định, bất biến hoặc khép kín mà nó luôn vận động và phát triển, bên cạnh sự phong
phú và đa dạng, bản sắc văn hóa còn mang tính lịch sử. Mọi sự vật hiện luôn tồn tại,
vận động, bản sắc cũng vậy, làm thích nghi với yêu cầu của thời đại. Trong tiến
trình phát triển yếu tố đặc thù phù hợp với thực tiễn sẽ được phát huy, những yếu tố
bảo thủ lạc hậu sẽ bị bài trừ.
Bản sắc văn hóa luôn thể hiện nội dung bên trong có của văn hóa, đó là nét
riêng phản ánh độc đáo mối liên hệ thường xuyên, phổ biến giữa cái chung (văn hóa
nhân loại) với cái riêng (văn hóa dân tộc). Do đó, bản sắc văn hóa không đứng
ngoài văn hóa, mà chúng luôn có mối quan hệ bền chặt với nhau.
Như vậy, luận văn quan niệm bản sắc văn hóa: Văn hóa là tổng thể những tính
chất, tính cách, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và
phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính thống nhất, nhất
quán của mình trong tiến trình phát triển.
1.1.1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc
Từ góc độ triết học, xét trong mối quan giữa các nền văn hóa, bản sắc văn hóa
của mỗi dân tộc bao giờ cũng thể hiện tính hai mặt: thống nhất và đa dạng. Sự thống
nhất đó phản ánh những nét chung của nền văn hóa như văn hóa vùng, văn hóa
thức biểu hiện bên ngoài của nó, thật không nên đồng nhất bản sắc văn hóa dân tộc
với một số yếu tố hình thức bên ngoài của các nền văn hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc
vừa bao hàm các giá trị do dân tộc mình sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại, vừa
19
bao hàm các giá trị tinh hoa của nhân loại được dân tộc tiếp nhận một cách sáng tạo,
biến nó thành nguồn lực bên trong để xây dựng và bảo vệ đất nước.
“ Bản sắc văn hóa dân tộc” còn thể hiện với những khuynh hướng cơ bản trong
sáng tạo của văn hóa của mỗi dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ
thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư
tưởng,v.v trong quá trình vận động và phát triển không ngừng của dân tộc ấy.
Bản sắc văn hóa dân tộc hiểu một cách chung nhất – là hệ thống các giá trị đặc
trưng bản chất của một nền văn hóa được xác lập, tồn tại, phát triển thông qua
nhiều sắc thái văn hóa cụ thể khác nhau. Đó là toàn bộ những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử, những nét độc đáo của dân tộc này
so với dân tộc khác.
Văn hóa có tính dân tộc vì nó được tạo ra, lưu truyền trong cộng đồng dân tộc
với một sắc thái thiên nhiên, điều kiện xã hội lịch sử riêng: qua quá trình phát triển
lâu dài, những đặc điểm dân tộc được in dấu vào các sáng tạo của văn hóa của dân
tộc, trải qua những thách thức của thời gian dần dần lắng đọng, định hình tạo thành
bản sắc văn hóa dân tộc của văn hóa, từ đó tạo nên cốt cách, bản lĩnh sức sống nội
sinh của dân tộc.
Tai Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ ra
bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh
hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ
nước, tạo thành những nét đặc của cộng đồng dân tộc Việt Nam, con gn]ời Việt
Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết;
tính cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng – nước; lòng nhân ái, bao dung,
trọng nghĩa tình đạo lý;đầu óc thực tế; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; tế
nhị trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc dân tộc còn đậm nét trong
các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”. [8,tr. 23]
lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống
nhất, nhất quán của mình trong sự phát triển
.
1.2. Nội dung bản sắc văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc
1.2.1. Đặc điểm dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam
Là một dân tộc ít người trong cộng đồng hơn 54 dân tộc anh em trong cả nước.
Người Sán Dìu sống chủ yếu ở trung du miền núi của một số tỉnh phía bắc Việt
Nam. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu của các học giả về văn hóa dân tộc thiểu số,
dân tộc học ở Việt Nam, cho thấy: Dân tộc Sán Dìu là một tộc người được tạo lập từ
thời Nhà Minh ở Quảng Đông (Trung Quốc), di cư từ vào Việt Nam được khoảng
300 năm. Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước đồng bào luôn
có tinh thần đoàn kết và đóng góp to lớn trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam không đông, nhưng sống xen kẽ với nhiều dân
tộc khác trên khắp dải đất trung du bán sơn địa, năm 2009 có dân số khoảng
21
126.237 người theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê (2009). Từ lâu n gười
Sán Dìu đã tự nhận là San Déo Nhín theo âm Hán – Việt là Sơn Dao Nhân, các
tộc người xung quanh cư trú bên cạnh, gọi người Sán Dìu với nhiều tên gọi khác
nhau như: Trại Đất (người Trại ở nhà đất) để phân biệt với Trại Cao (tức người
Cao Lan ở nhà sàn), Mán Quần Cộc, Mán Váy xẻ, Năm 1960, Tổng cục Thống
kê Trung ương đã chính thức sử dụng tên Sán Dìu, và từ đó Sán Dìu trở thành
tên gọi chính thức được ghi trong văn bản Nhà nước. Đến nay, tên Sán Dìu được
sử dụng phổ biến trong toàn quốc.
Có nhiều ý kiến cho rằng từ rất xa xưa người Sán Dìu có nguồn gốc từ người
Dao, do chia thành những nhóm nhỏ phiêu bạt nhiều nơi, một trong những nhóm
đó, người Sán Dìu rất có thể sống cạnh người Hán (Phương Nam) nên dần quên
tiếng mẹ đẻ của mình và tiếp thu thổ ngữ Hán Quảng Đông. Thông qua truyện thơ
bằng chữ Hán “Vũ Nhi”, truyền thuyết như “Vua Cóc” (Kham Suy Vong) được lưu
truyền rộng rãi trong tộc người Sán Dìu. Cốt truyện nhiều lần nhắc đến các địa danh
như Tân Châu, Linh Sơn, Hà Nam. Song truyền thuyết cũng không cho biết lai lịch
Đứng trước sư tiến bộ của phương thức sản xuất kinh tế mới, xuất hiện sự mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là điều tất yếu không thể tránh
khỏi. Vì thế, trong điều kiện mới quan hệ sản xuất phong kiến cần được xóa bỏ và
nhường chỗ cho quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn. Điều này tác động cản bản đến
kiểu tổ chức xã hội của người Sán Dìu, tạo thành những bước thay đổi căn bản. Họ
đã cùng nhau xây dựng nông thôn mới tiến kịp với sự phát triển chung trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam.
Người Sán Dìu thường sống thành từng xóm nhỏ, có từ khoảng 200 – 300 hộ,
hoặc có thể ít hơn, Làng được thiết lập dưới những chân núi hoặc sườn đồi thấp,
trên đồi bằng. Người Sán Dìu ở nhà đất gần với kiểu nhà của dân tộc Kinh, sống
xen kẽ với nhiều tộc người khác, đồng bào người Sán Dìu thiết kế cho mình kiểu
kiến trúc nhà ở bằng nhà đất, lập bằng mái tranh hay mái lá bằng lá cọ, nhà dựa
lưng vào núi hướng mặt ra cánh đồng màu mỡ, hoặc nơi gần ruộng tiện lợi cho
sinh hoạt.
Nhà cửa của người Sán Dìu thường làm theo quy mô nhỏ, bộ sườn kết cấu đơn
giản, vì kèo thường là ba hay năm, kèo đơn nhỏ nguyên cây, xà và kèo gác lên
ngoàm đầu cột, được buộc lại với nhau bằng lạt (lạt tre, nứa hay dây rừng). Nhà
thường ba gian hai chái (sam ngạn lóng xá), gian bên trong nhô ra phía ngoài
khoảng 80cm, tạo nên một cái hiên nhỏ ở gian chính giữa. Mái nhà thường được
23
lợp bằng tranh hay rơm rạ. Tường nhà trái bằng đất (buộc đứng thưa rồi trát rơm
trộn bùn).
+ Về công cụ lao động: người Sán Dìu rất sáng tạo trong việc chế tạo công cụ
lao động để giải quyết cho khâu canh tác trên các địa hình khác nhau: Sử dụng cày
(lày), bừa một (tan phà), bừa đôi (sồng phà), bừa bàn có 11 đến 13 chiếc răng sắt,
và dùng sức kéo của trâu bò. Ngoài ra còn sử dụng cái cào bàn (thui phà) công cụ
lao động này dùng chủ yếu để trồng khoai lang, lên luống trồng ngô, trồng sắn. Bên
cạnh đó, còn dùng liềm để gặt hái (lèm) và Vàng (vố lèm).Công cụ không thể thiếu
đối với người Sán Dìu đó là chiếc xe quệt (phong) gần giống với xe bò, nhưng xe
quyệt chỉ có 2 dây kéo và ko có lốp, dùng để kéo lúa, củi, các vật dụng đi canh tác
trong có thể là màu trắng. Áo dài cắt theo kiểu áo tứ thân, cổ cao nẹp trơn, không
đính khuy, bên trong đắp bằng vải màu trắng, để khi mặc lộn ra phía ngoài. Cách
mặc áo cũng có sự khác biệt giữa lứa tuổi người già thường mặc áo vắt sang bên
phải, còn người trẻ thì ngược lại. Họ dùng thắt lưng màu màu xanh, đỏ, tím, hoa lý,
hoặc có hoa văn trang trí nhiều màu.
Đối với phụ nữ nuôi con nhỏ thường mặc áo ngắn cắt theo kiểu áo năm thân
nhưng không có khuy, chỉ đính dài để buộc. Phụ nữ Sán Dìu trước đây không có
yếm. Đối với trang phục nữ giới ở các dân tộc có nhiều nét độc đáo, nhưng không
có một một dân tộc nào có kiểu váy độc đáo như chiếc váy của phụ nữ Sán Dìu. Đó
là kiểu váy không khâu liền, gôm hai hoặc bốn mảnh vải cùng đính trên một cạp,
mảnh này chồng lên mảnh kia khoảng 10 – 15cm . Nếu là váy hai mảnh có từ ba
đến bốn bức can lại với nhau. Khi mặc váy thì một mảnh ở phía trước, một mảnh ở
phía sau, tạo thành hai khe hở dọc hai bên chân. Với kiểu váy này, khiến cho người
phụ nữ Sán Dìu luôn phải giữ ý tứ trong lao động cũng như trong sản xuất và giao
tiếp. Chiếc váy của phụ nữ Sán Dìu không thêu thùa nhiều kiểu hoa văn xanh đỏ,
đen, trắng như một số dân tộc khác mà vẫn đẹp, gọn gàng, mở từ hai vai khép lại ở
thắt lưng ngang eo bụng, tạo nên nét đẹp trong bản sắc của họ.
Nếu như phụ nữ dân tộc Nùng, Dao, Cao Lan đội khăn lệch trên đầu,… thì
phụ nữ Sán Dìu họ vấn tóc và đội khăn vuông màu đen, ở 4 góc khăn có trang trí
hoa văn ghép vải màu và có các tua vải, khi đội người ta thường buộc 2 tua vải
lên đỉnh đầu.
Thường ngày phụ nữ Sán Dìu đi giày vải, dép lốp, dép nhựa và các kiểu guốc.
Trong lao động hoặc đi đường còn cuốn xà cạp (Kịooc sen) bằng vải màu trắng
hoặc màu chàm. Bên cạnh đó, Phụ nữ sán Dìu còn sử dụng những trang sức phổ
biến mang đặc trưng riêng bao gồm: Khuyên tai, vòng cổ, nhẫn, xà tích bằng bạc.
25