1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của những năm kháng chiến và
thành tựu sau nhiều năm đổi mới. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Kim
Bôi - Hòa Bình đã nỗ lực vượt mọi khó khăn, chủ động, sáng tạo và đạt được
những bước tiến quan trọng về mọi mặt. Đảng bộ, chính quyền huyện Kim Bôi
đã lãnh đạo đẩy mạnh công tác phát triển văn hóa, tổ chức các lễ hội truyền
thống và tổ chức các cuộc thi về tìm hiểu nền văn hóa dân tộc Mường như: cuộc
thi viết về nền văn hóa dân tộc, cuộc thi ẩm thực văn hóa Mường, để nhằm
nâng cao hiểu biết và tinh thần trách nhiệm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc trong thời kỳ đổi mới. Nhiều nét đẹp cũng như tinh hoa văn hóa của dân
tộc được kế thừa và phát huy. Các đám hiếu, đám hỷ được tổ chức trang trọng,
gọn nhẹ mà vẫn mang đậm bản sắc văn hóa địa phương. Nhiều gia đình được
công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, nhiều xóm đủ tiêu chuẩn là xóm bản văn
hóa. Một số lễ hội truyền thống đã được khuyến khích khôi phục và duy trì
nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và giữ gìn di sản văn hóa dân
tộc.
Kinh tế thị trường với những ưu điểm và hạn chế của nó, đã có ảnh hưởng
không nhỏ đến nền văn hóa truyền thống của dân tộc trong cộng đồng các dân
tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa dân tộc Mường ở huyện Kim Bôi - Hòa Bình.
Trước sự tác động của cơ chế thị trường, mở rộng hội nhập quốc tế và giao lưu
văn hóa với các nước bên ngoài, nhiều giá trị truyền thống của dân tộc Mường
nói chung và người Mường ở Kim Bôi nói riêng đang ngày càng bị mất dần, mai
một, pha trộn, nguy cơ không còn giữ được bản sắc văn hóa. Trước tình hình đó
cần có những giải pháp như thế nào để giữ gìn được nền văn hóa dân tộc Mường
đậm đà bản sắc dân tộc đang là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước đặc
biệt là Đảng bộ cùng toàn thể nhân dân huyện Kim Bôi - Hòa Bình.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách
nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
liệu này được biên soạn với mục đích đánh giá, phân tích một cách toàn diện,
3
khách quan về thực trạng đời sống văn hóa của một số dân tộc thiểu số vùng Tây
Bắc trong công cuộc đổi mới đất nước.
“Văn hoá ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình” của hội văn nghệ dân gian
Việt Nam, Bùi Chỉ ( chủ biên), nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001.
Đây là tác phẩm nói lên những đặc trưng trong văn hóa ẩm thực cũng như
lao động sản xuất của người Mường “cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày
lui, tháng tới”.
“Mo sử thi dân tộc Mường”, Vương Anh, nhà xuất bản Văn hóa nghệ
thuật, Hà Nội, 1998. Đây là cuốn sách viết về lịch sử của dân tộc Mường bằng
những áng mo, trong áng mo này nói đến sự ra đời của người Mường từ khi hình
thành cho đến nay và quá trình xây dựng gian nan vất vả của người dân.
“Tín ngưỡng dân gian Mường tục thờ và lễ hội”, Sở văn hóa thông tin Hà
Sơn Bình, Hà Nội, 1993. Đây là tác phẩm nói đến tín ngưỡng dân gian của
người Mường trong các tục thờ cúng và các lễ hội, người Mường rất coi trọng
các tục cúng bái. Trong các lễ hội hay tục thờ họ đều thờ cúng rất nghiêm túc và
trong mọi dịp đều phải có lễ cúng bái để nhớ về tổ tiên đã xây dựng vùng đất
yên bình cho họ.
Giang Quỳnh Hương, “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Mường ở tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay”, khóa luận tốt nghiệp Học viện
báo chí và tuyên truyền, 2008. Trong tác phẩm này tác giả nêu lên những nét đặc
sắc trong văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Sơn La; những ưu điểm, hạn chế và
biện pháp khắc phục.
Nhóm tác giả: Lò Thị Mai, Trần Thị Nhẫn, Đinh Thị Trang, “vai trò của
Đảng đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở tỉnh Sơn
La trong giai đoạn hiện nay”, đề tài ngiên cứu khoa học Trường Đại học Tây
Bắc, năm 2012. Trong tác phẩm này tác giả nêu lên những nét đặc sắc trong văn
hóa dân tộc Thái và vị trí, vai trò của Đảng bộ tỉnh trong việc giữ gìn và phát
bản sắc văn hóa dân tộc Mường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của Đảng bộ huyện Kim Bôi - Hòa Bình đối với việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường trong thời kỳ đổi mới.
5
Phạm vi nghiên cứu
Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa
nói chung và Đảng bộ huyện Kim Bôi - Hòa Bình về vấn đề giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Mường nói riêng.
Những nét văn hóa đặc sắc và những thành tựu, hạn chế trong việc giữ gìn
và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường ở huyện Kim Bôi - Hòa Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp luận: đề tài nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là mối quan hệ biện chứng
giữa yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan, giữa kinh tế và văn hóa, giữa dân tộc
và giai cấp, giữa truyền thống và hiện đại, quy luật phủ định của phủ định …
- Phương pháp lôgic, quy nạp - diễn dịch, phân tích - tổng hợp, nghiên
cứu tài liệu …
Đây là những phương pháp rất quan trọng để tiếp cận vấn đề, những tài
liệu thu được về mặt lý luận giúp chúng ta nhận thức sâu sắc về vai trò của Đảng
bộ huyện Kim Bôi - Hòa Bình đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Mường trong thời kỳ đổi mới.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài là tư liệu cần thiết giúp chúng ta hiểu sâu hơn về nét đặc trưng của
văn hóa dân tộc Mường ở huyện Kim Bôi - Hòa Bình.
Đặc biệt, còn thấy rõ được vai trò của Đảng bộ huyện Kim Bôi - Hòa
Bình trong việc đề ra đường lối, chủ trương đối với việc giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc Mường trong thời kỳ đổi mới.
C.Mác viết : “ một tác phẩm nghệ thuật, cũng như mọi sản phẩm khác
tạo một công chúng nghệ thuật và có khả năng thưởng thức cái đẹp. Bởi vậy, sản
xuất không chỉ là sản xuất ra vật phẩm cho chủ thể mà còn sản xuất ra chủ thể
vật phẩm” [12; 50].
C.Mác và Ph.Ăngghen còn cho rằng: văn hóa là phương thức hoạt động
đặc thù của con người, đặc thù ở đây là con người nhào nặn vật chất theo qui
luật của cái đẹp. Bằng những hoạt động và lao động sáng tạo ấy, con người đã
xác định được ranh giới trong phương thức hoạt động của họ với phương thức
hoạt động của loài vật và phương thức ấy. Mác viết: “súc vật chỉ nhào nặn vật
chất theo thước đo và nhu cầu của giống loài nó, còn con người thì chỉ có thể
sản xuất theo thước đo của bất cứ giống loài nào và ở đâu cũng có thể áp dụng
thước đo thích dụng của đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo
qui luật của cái đẹp” [12;23].
Như vậy, văn hóa không chỉ mang tính chất sản xuất thích dụng (đáp ứng
nhu cầu sử dụng của con người) mà còn sáng tạo theo qui luật của cái đẹp, cái
8
đẹp bao giờ cũng hướng đến sự hoàn mĩ và văn hóa không thể không có tính
sáng tạo theo qui luật của cái đẹp.
Các quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen sau này được V.I.Lênin phát
triển cụ thể hóa khi bàn về cách mạng văn hóa. Theo quan điểm của V.I.Lênin:
văn hóa vô sản là sự kế thừa tất cả nền văn hóa trong lịch sử nhân loại và chỉ ra
tính kế thừa biện chứng của sự phát triển văn hóa “văn hóa vô sản không phải
bỗng nhiên mà có, nó không phải do những người tự cho mình chuyên gia về
văn hóa vô sản phát minh ra. Đó hoàn toàn là điều ngu ngốc. Văn hóa vô sản
phải là sự phát triển phù hợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài người
đã tích lũy được dưới ách thống trị của xã hội tư bản… tất cả những con đường
đó, lớn và nhỏ, đã, đang và sẽ tiếp tục đưa tới văn hóa vô sản” [25; 80].
V.I.Lênin còn khẳng định văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh
thần do loài người sáng tạo ra nhờ những hoạt động không biết mệt mỏi của họ.
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới.
Tháng 8/1943, Hồ Chí Minh đã đúc kết quan điểm của mình về văn hóa
trong nhận định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, khoa học, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa. Văn
hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà
loài người đã sản sinh ra. Nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn” [ 23; 43].
Với định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã khắc phục được quan niệm phiến
diện về văn hóa trong lịch sử và hiện tại, hoặc chỉ đề cập đến lĩnh vực tinh thần,
trong văn học nghệ thuật, hoặc chỉ đề cập đến lĩnh vực giáo dục, phản ánh trình
độ học vấn,… Trên thực tế, văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và
những giá trị tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra, nhằm đáp ứng sự sinh tồn
và cũng là mục đích cuộc sống của loài người.
Hồ Chí Minh cho rằng văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc
kiến trúc thượng tầng; văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và
chính trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.
Người nói: “trình độ văn hoá của nhân dân cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh
10
công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của
nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” [23; 181- 182].
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, văn hóa bao hàm ba tính chất: dân tộc,
khoa học, đại chúng. Tính chất dân tộc của nền văn hóa được Hồ Chí Minh biểu
đạt bằng nhiều khái niệm, như đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, nhằm nhấn
mạnh đén chiều sâu bản chất rất đặc trưng của văn hóa dân tộc, giúp phân biệt,
không nhầm lẫn với văn hóa của các dân tộc khác. Tính khoa học của nền văn
hóa mới thể hiện ở tính hiện đại, tiên tiến, thuận với trào lưu tiến hóa của thời
sắc văn hóa dân tộc.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác
định: “xây dựng nền văn hóa với đặc trưng dân tộc, hiện đại, nhân văn. Công tác
văn hóa, văn học, nghệ thuật phải được nâng cao chất lượng, mỗi hoạt động văn
hóa văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng, tâm
lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ
của nhân dân… Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho văn hóa nghệ
thuật, giữ gìn và tôn trọng những di tích lịch sử, văn hóa. Hoàn thành việc sưu
tầm vốn văn hóa và nghệ thuật các dân tộc, khuyến khích tìm tòi và thể nghiệm,
bảo đảm các đơn vị nghệ thuật hoạt động ổn định và ngày một nâng cao chất
lượng, ngăn chặn khuynh hướng thương mại và các hiện tượng tiêu cực khác”
[15; 149].
Từ mục tiêu, phương hướng của Đại hội VI, Đảng tiếp tục nhấn mạnh về
sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong đại hội VII. Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã vạch ra nhiệm
vụ: “tiếp tục xây dựng và phát triển sự ngiệp văn hóa Việt Nam bảo tồn và phát
huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại.Vận động toàn dân thực hiện lối sống cần, kiệm, văn minh, lịch sự. Phổ biến
rộng rãi trong nhân dân những kiến thức văn hóa cần thiết cho sản xuất và đời
sống. Thực hiện nam nữ bình đẳng, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ. Phát động phong
trào quần chúng bài trừ mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác” [16; 184].
12
Xác định được mục tiêu quan trọng cấp bách về văn hóa trong các kỳ Đại
hội trước, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996),
khẳng định: “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Mọi hoạt động văn hóa, nghệ
thuật, phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội…
củng cố và tăng cường mạng lưới văn hóa cơ sở. Quản lý tốt các hoạt động văn
nhấn mạnh: “phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo tồn và tôn tạo các di sản văn
hóa vật thể và phi vật thể làm nền tảng cho sự giao lưu văn hóa giữa các cộng
đồng, giữa các vùng cả nước và giao lưu văn hóa với bên ngoài. Tiếp tục đưa
các hoạt động văn hóa thông tin về cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các
dân tộc; phát động phong trào toàn dân tham gia nếp sống văn minh, gia đình,
bản, làng văn hóa; tiến tới hệ thống thiết chế văn hóa bằng nguồn lực nhà nước
và mở rộng xã hội hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư…” [18;
136].
Để khắc phục những hạn chế trong công tác lãnh đạo của Đảng về văn
hóa, Đảng đã tiếp tục đưa ra các mục tiêu mới để nhằm giải quyết vấn đề cấp
bách trước mắt chính là giữ gìn và phát huy nền văn hóa dân tộc. Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) đã khẳng định mục tiêu chính
là: “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc,
phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần
nhân văn, dân chủ tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào
toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng và phát
triển”[19; 99].
Để tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại mà vẫn giữ được nét đặc sắc
trong văn hóa Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa trong Đại hội lần thứ XI. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng (2011) đã đưa ra nhiệm vụ tổng quát đó là: “Phát triển, nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công
nghệ và kinh tế tri thức. Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho
người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tạo bước
tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội,
14
giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Tiếp
tục xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa
các cộng đồng, giữa các vùng cả nước và giao lưu văn hoá với bên ngoài” [18,
222]. Ở đại hội này, phát triển văn hoá được nhấn mạnh vào việc xây dựng “đời
sống văn hoá”, “nếp sống văn minh”, đẩy mạnh “giao lưu văn hoá” trong biên
giới và liên biên giới. Có thể thấy rõ, đường lối phát triển văn hoá theo tinh thần
hội nhập đã được Đảng kiên trì quán triệt.
Đại hội X (2006) của Đảng đã khẳng định lại phương hướng coi phát triển
văn hoá là “nền tảng tinh thần của xã hội”. Cụ thể là phải “làm cho văn hoá thấm
sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới
của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu
tinh hoa văn hoá của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hoá đồi truỵ độc
hại. Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh
hoạt của nhân dân” [19, 213].
Gần đây nhất, ngày 16 - 6 - 2008, Đảng đã ban hành Nghị quyết 23 – Nghị
quyết Trung Ương của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học,
nghệ thuật trong thời kỳ mới. Đây là nghị quyết đầu tiên của Đảng dành riêng
cho văn học nghệ thuật, một lĩnh vực cụ thể của văn hoá, như là sự cụ thể hoá
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng nền văn hoá Việt Nam. Trong
Nghị quyết lần này, Đảng cũng khẳng định quyền tự do sáng tác khi nói đến
thành tựu của văn học nghệ thuật thời gian qua: “Tự do trong sáng tạo nghệ
thuật và sự đa dạng về nội dung, phong cách sáng tác, phương thức biểu hiện
được tôn trọng; dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo được khẳng định” [19, 5 - 6].
Và trong phần “Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo ”, Đảng chủ trương: “Tiếp tục đổi
mới, tạo điều kiện thuật lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học,
nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể
nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà.” Đây
là sự quan tâm sát sao của Đảng đối với việc xây dựng và phát triển văn hoá và
16
đời sống văn hoá của người Việt Nam, là sự quyết tâm của Đảng đối với sự
nghiệp đổi mới văn hoá.
chắc, đảm bảo cho Việt Nam phát triển về kinh tế và có một nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
1.2. Cơ sở thực tiễn việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Mường
1.2.1. Sự cần thiết phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường
Văn hóa dân tộc Mường là nền văn hóa rất đặc sắc, trải qua bao nhiêu
thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn giữ được nhiều nét văn hóa đậm đà của dân
tộc mình. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập như hiện nay cùng sự giao lưu kinh
tế - văn hóa với các khu vực bên ngoài đã khiến nền văn hóa dân tộc Mường
ngày dần bị mai một và không còn giữ vững được bản sắc như trước nữa. Bên
cạnh đó hiện nay khu vực Kim Bôi là một khu vực mà ngành du lịch đang rất
phát triển, tiêu biểu như một số điểm du lịch như: “suối khoáng Kim Bôi”, “thác
bạc Long Cung”, “khu du lịch sinh thái”,… những khu du lịch này có rất nhiều
khách du lịch đến để nghỉ ngơi và vui chơi vào những dịp lễ, và có rất nhiều
khách nước ngoài đến đây để đi du lịch. Bởi những yếu tố tác động bên ngoài
như vậy nên các thế hệ thanh thiếu niên bây giờ ít ai còn nhớ và biết đến nền văn
hóa của chính dân tộc mình, hầu như thế hệ trẻ đang dần sống theo phong cách
hiện đại, hướng ngoại và quên hết đi bản sắc văn hóa dân tộc Mường. Trong thời
kỳ đổi mới như hiện nay sự giao lưu văn hóa giữa các khu vực cũng ảnh hưởng
to lớn đến nền văn hóa dân tộc Mường, nền kinh tế thị trường ngày càng phát
triển kéo theo sự mai một về văn hóa, mọi người chạy đi kiếm tiền mà không
còn quan tâm đến việc giữ gìn các giá trị văn hóa của dân tộc nữa. Chính vì vậy
việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường trong thời kỳ đổi mới
là vấn đề cần thiết, đó chính là làm thế nào để có thể vừa hội nhập, giao lưu văn
hóa với các khu vực, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại mà vẫn giữ được bản
sắc văn hóa dân tộc Mường.
Trước tình hình đó Đảng bộ huyện Kim Bôi đã chỉ ra nhiệm vụ cấp bách
là giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường trong giai đoạn hiện nay,
đồng thời đưa ra các chính sách nhằm giữ gìn các giá trị văn hóa để nền văn hóa
trong những năm gần đây.
19
Ở Hòa Bình người Mường tập trung định cư hầu hêt trên tất cả các huyện
như Kim Bôi, Lạc Sơn, Tân Lạc, ….
Người Mường ở huyện Kim Bôi - Hòa Bình có số lượng là 65.000 người
chiếm 46% số dân trong toàn tỉnh.
Văn hóa của người Mường ở Tây Bắc cho đến nay là nền văn hóa đặc sắc,
phong phú, đa dạng và mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc ngày càng phát
triển.
* Những nét văn hóa đặc sắc
Người Mường nói chung và người Mường ở Kim Bôi nói riêng đã lưu giữ
được nhiều nét văn hóa truyền thống cổ xưa, mang đậm đặc trưng của dân tộc,
đó là những giá trị văn hóa vật chất và những giá trị văn hóa tinh thần. Nói về
dân tộc Mường có câu ca sau: “quần một ống, áo một gang, cơm đồ, nhà gác,
nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới”. Sau đây là một số những nét đặc sắc
trong văn hóa dân tộc Mường ở Kim Bôi.
Nhà ở
Nhà ở của người Mường là những ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị mang đậm
bản sắc văn hóa dân tộc, lưu giữ cho đến tận những thế hệ con cháu sau này.
Trong xã hội Mường cổ truyền ở Kim Bôi, người Mường ở nhà gác (nhà sàn).
Ngôi nhà sàn của người Mường ở Kim Bôi có 4 mái: hai mái trước và sau có
hình thang cân; hai mái đầu hồi có hình tam giác cân.
Kết cấu ngôi nhà sàn gồm có các cột trôn đất, xà luồn gỗ đục vì kèo gác.
Nhà có 2 vì kèo, 4 cái cột cái và 8 cái cột con, giữa 2 đầu cột cái nối với nhau
gọi là xà ngang (quết); ngoài ra có các đòn tay nối các vì kèo với nhau và trên
đòn tay có các hàng rui nối từ nóc nhà xuống tận mái hiên, trên rui có các hàng
mè nằm vuông góc với rui. Trên cùng, gác trên đầu các vì kèo (nóc nhà) có đòn
nóc.
Nhà được lợp bằng cỏ tranh hoặc lá cọ đan thành từng phên dài, sàn nhà
to. Trên ngực bên trái may 1 túi nhỏ có gân chéo ở gần miệng túi và làm bằng
vải màu trang trí. Áo không sẻ nách, tay dài buông tới mu bàn tay, ống tay may
vừa phải, có thể sắn lên tới khửu tay. Tổng thể, áo có dáng khỏe khoắn, giản dị.
“Áo dài (ạo chùng)” nam giới Mường thường mặc lồng 1 đôi áo chùng
(kiểu mặc kép). Áo chùng có hai loại: loại sang được may bằng lụa màu xanh,
21
màu tím hoặc màu vàng còn loại thường được may bằng vải bông (pải nhà), màu
đen sẫm. Về kiểu dáng, áo dài thường đến ngang đầu gối, cài khuy lệch sang bên
phải, hai bên xẻ tà cao tới ngang hông, cổ đứng và cứng. Áo thường được mặc
trong các lễ hội, cưới xin.
Quần nam giới: quần của nam giới Mường may ống rộng và đứng, đũng
rộng, cắt kiểu chân què, cạp quần rộng, khi mặc dùng sợi dây vải buộc hặt để
định vị. Quần thường may bằng vải màu trắng, màu nâu, màu hồng và màu
chàm, những màu này thường được chế biến bằng cây, lá tự nhiên.
Trang phục nữ giới
Trang phục nữ giới Mường in đậm bản sắc văn hóa dân tộc, bộ trang phục
nữ giới Mường là váy, về cơ bản bao gồm những chi tiết sau:
Trên đầu thắt một chiếc khăn trắng mà tiếng mường gọi là mũ, đó là một
giải trắng không viền rộng khoảng 1 gang tay. Áo ngắn, tiếng Mường gọi là “
Áo pẳn”, dài đến chấm eo lưng, phía sau có một đường can vải dọc theo sống
lưng. Tiếp theo là áo chùng, là cái áo ngắn được may kéo dài xuống đến đầu gối
hoặc quá đầu gối. Phía chân áo hơi xòe ra, phía trước áo hoàn toàn mở và không
cài cúc.
Yếm, người Mường gọi là “Áo báng”, tức là áo một bên. Nó là một miếng
vải hình vuông, cạnh trên khoét một cổ tròn và khít, dùng hai dây cài sau gáy.
Ba cạnh còn lại để nguyên và dùng hai dây cài để thắt đằng sau lưng. Váy, tiếng
Mường gọi là “wẳl” có nơi gọi là quần, được chia làm hai phần chính, phần từ
hông trở lên rực rỡ hơn bởi bộ đầu váy (gọi là cạp váy), từ hông trở xuống mắt
cá chân là thân váy, thân váy chỉ dùng mù đen hoặc màu xanh đen, phần cạp váy
( Bốn mươi giống lúa ruộng
Ba mươi giống lúa nương)
thì người Mường quý và ưa dùng các giống lúa nếp hơn.
Trong những bữa ăn của người Mường, cơm nếp được sử dụng thường
xuyên, không chỉ bởi mục đích no bụng thông thường mà còn bởi giá trị dinh
dưỡng vốn có của nó. Gạo nếp đem ngâm vài tiếng, vo sạch, vớt cho vào hông
bằng gỗ đặt lên viếng đồ. Khi cơm chín đổ vào trang hay mủng, tãi đều rồi quạt
cho nguội. Hạt cơm nếp do được quạt sẽ se mặt ngoài nhưng vẫn giữ được độ
23
ẩm bên trong nên không bị cứng. Ăn cơm rất mềm, dền. Khi ăn thường bốc ít
một rồi nắm cho dẻo thêm, càng nắm càng dẻo ăn càng ngon.
Cơm lam:
Đồng bào Mường thường làm cơm lam vào các dịp thu hoạch lúa mới
(tháng 11) hoặc tết Nguyên Đán. Để làm cơm lam phải dùng loại lúa nếp ngon
đem giã thành gạo rồi đem ngâm với nước lá mướp, gừng. Sau đó đem dồn vào
ống nứa, khi dồn gạo phải chú ý vừa dồn vừa lắc sao cho thật chặt, rồi đem
nướng bằng than củi cho đến khi vỏ ống nứa vàng đều là cơm lam đã chín. Khi
ăn ta dùng dao chẻ mỏng ống nứa và bóc lam ra bẻ thành khúc 2 - 3 cm, bày lên
đĩa cơm lam sẽ trắng, dẻo, thơm phức. Chấm cơm lam cùng mật mía hoặc muối
vừng, muối lạc đậm đà hương vị của núi rừng.
Cơm lam của người Mường ở Kim Bôi - Hòa Bình nướng bằng than củi
cho đến khi vỏ ống nứa vàng đều còn cơm lam của người Thái thì đưa lên bếp
đốt cho đến khi ống tre cháy sém.
Cá ốch đồ:
Cá đánh bắt được đem về làm sạch, cắt khúc sau đó ướp với muối, gừng,
lá sả, hành; đợi ngấm gia vị sẽ đồ bằng chõ. Khi bỏ cá vào đồ, lấy lá chuối hay
lá dong đã hơ qua lửa cho mềm để gói cá và buộc lại (còn gọi là ốch cá), mỗi gói
khoảng 1 đĩa cá. Món cá đồ càng lâu càng ngon, nhưng ít nhất cũng phải 1 - 2
tiếng mới dừ. Món cá đồ để nguội ăn càng ngon.
Văn hoá nghệ thuật của người Mường rất phong phú, đa dạng với ngững
thể loại như: hội sắc bùa, trò chơi ném còn, dân ca, múa bông, múa nàng
Khọt,…
Hội sắc bùa( xéc bùa): theo người Mường, sắc bàu hay còn gọi là “xéc
bùa” có nghĩa là xách cồng, là một hội vui, có tính chất giải trí, diễn ra vào dịp
đầu năm mới ở khắp bản Mường để cầu chúc cho nhau may mắn, mạnh khỏe
trong dịp đầu năm mới. Sắc bùa bao giờ cũng phải có phường do những người
biết hát, biết đánh cồng và biết đối gọi là phường bùa.
Phường bùa bao giờ cũng có một chủ phường là một người hát giỏi, biết
đánh cồng và ứng phó tốt. thường một phường bùa như vậy có khoảng 12 người
đánh chiêng, 2 người khiêng thúng đựng tặng phẩm đi cuối và trùm phường. Từ
sau mồng hai tết, phường bùa tiến hành đi sắc bùa các gia đình trong xóm. Trang
25
phục của họ phải đẹp, nam mặc áo dài, chít khăn đầu rìu; nữ mặc áo khoác màu
vàng, màu hồng, đội nón bằng, đeo vòng tay, kiềng bạc và xích…. đoàn sắc bùa
đi đến đâu, xóm làng rộn vang chiêng đến đó. Chiêng là loại nhạc cụ có âm
thanh độc đáo, có giá trị cả về vật chất và tinh thần của người mường ở Kim
Bôi. Khi đến các gia đình, phường bùa đứng ngoài ngõ đánh bài “khóa rác”, hát
xong cổng sẽ mở ra, phường sắc bùa tiến vào sân nhà, vừa đi vừa đánh cồng, sau
đó là những bài hát với ngững lời chúc tụng, ngợi ca gia đình sang năm mới sức
khỏe, hạnh phúc, thành đạt. Cứ như vậy mọi người vừa hát vừa đánh cồng say
xưa, mọi người đón nhận một cách nồng nhiệt, sau khi phường bùa kết thúc, nếu
gia chủ là những người giỏi thường, rang, bọ mẹng (những bài hát dân ca đối
đáp) thì có thể cất tiếng hát giữ chân phường bùa. Nếu không, gia chủ đem tặng
gạo, tặng quà thì phường bùa sẽ sang nhà khác để tiếp tục cuộc hát vui vẻ của
mình trong không khí ngày xuân ấp áp.
Trò chơi ném còn: trước sân đình, bãi cỏ, tổ chức hội tưng bừng náo nhiệt.
bạn bè gần xa đổ về dự hội, tham gia các trò chơi dân gian truyền thống.
Vào trò chơi họ cất lời mừng: