Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc giáy ở tỉnh lào cai hiện nay - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Trung ương năm khoá VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được Đảng ta xác định là nhiệm
vụ cấp bách và lâu dài trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Bước vào thời kỳ hội nhập đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan
hệ giữa dân tộc và quốc tế, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn
minh, vấn đề xây dựng nền văn hoá mới đáp ứng yêu cầu phát triển chung của
đất nước, hòa nhập với khu vực và quốc tế lại càng có ý nghĩa quan trọng. Quá
trình hội nhập tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển, nhưng cũng đặt ra những
thách thức không nhỏ đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam.
Trước sự tác động của cơ chế thị trường, của mở rộng hội nhập quốc tế và
giao lưu văn hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa dân tộc đang bị mai một, pha
trộn, lai căng, không còn giữ được bản sắc. Do vậy khẳng định hệ giá trị văn
hoá các dân tộc đang là vấn đề cấp thiết vừa có tính thời sự, vừa lâu dài đảm bảo
cho quá trình hội nhập mà không bị hoà tan.Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị
quyết Trung ương năm, khóa VIII. Đảng ta chủ trương: Phải tiếp tục cụ thể bằng
hệ thống các chính sách mạnh, tạo điều kiện cần thiết để văn hóa các dân tộc
thiểu số phát triển trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Nước ta có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có những sắc thái, bản địa
riêng, chúng bổ sung cho nhau làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và củng cố
sự thống nhất dân tộc tạo nên nền văn hoá nước ta là nền văn hoá thống nhất
mà đa dạng. Trong cộng đồng đa dân tộc, dân tộc Giáy là dân tộc có số dân đứng
thứ 25 trong 54 dân tộc. Người Giáy là cư dân lúa nước. Họ cư trú ở nơi bằng
phẳng, có sông suối, hay ở thung lũng thuộc các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Hà
1
Giang, Cao Bằng. Riêng ở Lào Cai có 24.360 người Giáy cư trú tập trung thành
làng, thành bản. Sự phong phú về cảnh quan, môi trường đã tác động rất lớn đến
đời sống của người Giáy ở đây, làm nên một đời sống văn hóa dân gian khá
phong phú. Nó biểu hiện ở thế giới quan, nhân sinh quan, phong cách tư duy, lối

1996; Lò Giàng Páo "Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số", Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội, 1997; Ngô Văn Lệ "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam",
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998. Đề tài của Lê Thị Mỹ Vân "Văn hóa truyền thống
của các dân tộc Jrai và Bahnar ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải
pháp", Luận văn thạc sĩ Triết học, 1999, Đại học KHXH & NV - ĐHQG Hà
Nội; ; Nguyễn Khoa Điềm "Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân
tộc thiểu số", Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 7/2000; Đỗ Văn Hòa "Vấn đề giữ
gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Gia Lai trong điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 2003; Đinh Thị Hoa, "Nhân tố chủ quan với việc giữ
gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường Tỉnh Phú Thọ hiện nay", Luận
văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Hà Nội, 2006;
Trần Văn Bính (chủ biên), "Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những
vấn đề đặt ra", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Viện Chủ nghĩa xã hội
khoa học "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số vùng tây bắc
nước ta", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2007, Học viện Chính trị –
Hành chính Quốc Gia HCM, Hà Nội, 01- 2008.
Đặc biệt những bài viết và công trình nghiên cứu về văn hoá dân tộc
Giáy có liên quan trực tiếp đến luận văn như:
3
Lò Ngân Sủn, Sần Cháng (sưu tầm, tuyển dịch), "Tục ngữ Giáy", Nxb Văn
hóa dân tộc, Hà Nội, 1994; Lù Dín Siềng "Truyện cổ Giáy", Nxb Văn hóa dân
tộc, Hà Nội, 1995; Sần Tráng "Văn học dân gian Tỉnh Lào Cai – Dân tộc Giáy
Lào Cai", Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1996; Sần Tráng “ Vươn chang hằm
( dân ca Giáy)”, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 2000; Sần Tráng "Dân ca trong
đám cưới và trong tiệc rượu người Giáy", Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001;
Sần Tráng “ Giới thiệu Mo lễ tang dân tộc Giáy Lào Cai”, Hội văn học nghệ
thuật Tỉnh Lào Cai, 2003; Sần Tráng "Một số phong tục tập quán dân tộc Giáy
Lào Cai", Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2003.
Nhìn chung: Các công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc

+ Nêu phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn, phát huy
tốt bản sắc văn hóa dân tộc Giáy ở tỉnh Lào Cai hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác
định đối tượng nghiên cứu là bản sắc văn hóa dân tộc Giáy ở Lào Cai dưới
góc độ triết học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Văn hóa là một vấn đề rất rộng, văn hóa các dân tộc cũng rất đa dạng và
phong phú Luận văn không trình bày toàn bộ các vấn đề thuộc về văn hóa của
dân tộc Giáy mà chủ yếu khai thác một cách có hệ thống, ở khía cạnh triết học
5
những giá trị văn hóa tạo nên "Bản sắc văn hóa" của dân tộc Giáy ở Lào Cai
nhằm giữ gìn và phát huy nó trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa, về dân
tộc và chính sách dân tộc. Đồng thời có kế thừa các thành tựu một số công trình
liên quan đến nội dung được đề cập trong luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề; đồng thời kết
hợp nhuần nhuyễn các phương pháp: Lịch sử và logic; phân tích và tổng hợp;
quy nạp và diễn dịch; điều tra, so sánh nhằm đạt mục đích và nhiệm vụ mà
luận văn đã đề ra.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của dân tộc Giáy, phân
tích thực trạng việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Giáy ở Lào
Cai. Qua đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy tốt bản

văn hoá . Vì vậy lao động cũng được xem là nguồn gốc của văn hoá cho nên việc đưa
ra một quan niệm về văn hoá nhất thiết phải căn cứ vào hoạt động có tính đặc trưng
này của con người. Điều này đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác quán triệt
trong toàn bộ các luận giải của mình.
Quan điểm mácxít cho rằng lao động là hoạt động mà ở đó xác lập và thể hiện
sâu sắc mối quan hệ giữa con người – tự nhiên, con người – xã hội và con người - văn
hoá. Nếu như loài vật chỉ kiếm sống bằng cách lợi dụng những vật có sẵn trong tự
nhiên và nhờ đó xác lập bản chất của chúng – bản chất của loài vật , thì ngược lại, qua
lao động – tức là hoạt động cải biến tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người
8
thì bản chất của con người cũng được xác lập và phát lộ mà C.Mác gọi là “ lực lượng
bản chất người”. Sở dĩ Mác quan niệm như vậy, bởi vì lao động là một đặc thù của
chính con người. Con vật hành động một cách bản năng, còn con người hành động có
mục đích, có đối tượng và trước khi hành động con người đã có mô hình được xác lập
trong óc. Tuỳ theo mô hình đó và phương thức thực hiện trong hoạt động mà con
người sáng tạo ra văn hoá ở những trình độ khác nhau. Mặt khác, qua lao động các
quan hệ của con người được xác lập, được biến đổi , kể cả quan hệ với tự nhiên. Vì
vậy con người cũng được hoàn thiện dần, vì anh ta với tư cách là chủ thể của mọi hoạt
động nhưng lại là khách thể chịu sự biến đổi của môi trường do chính anh ta tạo ra,
cho nên cái bản năng tự nhiên của con người cũng được biến đổi và ngày càng có “tính
người”. Nhờ vậy, văn hoá được quy định bởi phương thức để kiếm sống và phương
thức sử dụng các sản phẩm được tạo ra.
Bàn đến văn hoá và sự phát triển của văn hoá , chủ nghĩa Mác còn thừa nhận,
với tư cách là một hệ giá trị, văn hoá bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử, bởi năng
lực thực hiện “ lực lượng bản chất người”. Vì vậy, mỗi bước tiến của lịch sử là một
bước tiến tương ứng của văn hoá. Và mặc dù hệ giá trị văn hoá rất đa dạng, luôn luôn
biến đổi cùng lịch sử nhưng hệ giá trị đó bao giờ cũng dịch chuyển về phía chủ nghĩa
nhân đạo mà hằng số là chân - thiện – mỹ.
Khi so sánh hoạt động của con người và động vật, C.Mác cho rằng: cố nhiên
súc vật cũng sản xuất, nó xây dựng tổ, chỗ ở của nó như con ong, con hải ly, con

đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, địa chủ và của xã hội quan liêu” [47,tr.
402]
Nói đến bản chất của văn hoá, Hồ Chí Minh người học trò xuất sắc của C.Mác,
Ph. Ăngghen, V. I. Lênin , người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế
giới – có quan niệm về văn hoá rất rộng; xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền
10
thống văn hiến ngàn đời của dân tộc Việt Nam, với tầm nhìn bao quát, Người đưa ra
khái niệm về văn hoá như sau : “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày
về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh
đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng
với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu
đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [26 ,tr.431]
Quan điểm đó của Người đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm
trù văn hoá, chỉ ra văn hoá không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con
người mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất. Người cũng chỉ ra
nguồn gốc sâu xa của văn hoá đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư
cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội. Nó biểu hiện sự thống nhất của
yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội trong con người,biểu hiện khả năng và sức sáng tạo
của con người.
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại
Pháp , Tổng thư kýý UNESCO định nghĩa:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt
của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng
như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ
thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc
tự khẳng định bản sắc riêng của mình.
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã
hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là yếu tố

tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là sự “vật chất
12
hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờ
cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được “vật thể hóa” trong các
dạng tồn tại vật chất. Ngoài ra, còn các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể,
nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực
đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán…
Từ một số khía cạnh đã trình bày ở trên có thể hiểu văn hoá là một hệ
thống các giá trị xã hội( giá trị vật chất và giá trị tinh thần) cũng như phương
thức tạo ra chúng, kỹ năng sử dụng các giá trị đó vì sự tiến bộ của con người và
sự truyền thụ các giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tuy nhiên văn hoá không phải là “cái chung trừu tượng” giống nhau ở mọi
xã hội, mọi cộng đồng- dân tộc. Nếu mỗi cộng đồng- dân tộc có đời sống xã hội
riêng biệt, đặc thù, một lịch sử hình thành và một hiện thực con người không
đồng nhất với các cộng đồng khác, thì tất nhiên văn hoá mang tính riêng biệt,
đặc thù của mỗi dân tộc. Một dân tộc tồn tại là tồn tại cùng với nền văn hoá do
chính mình tạo ra. Văn hoá in dấu mọi mặt của đời sống xã hội thuộc một dân
tộc nhất định, của một cộng đồng riêng biệt , chúng ta gọi là “bản sắc dân tộc của
văn hoá” hay “bản sắc văn hoá dân tộc”
Bản sắc văn theo nghĩa ban đầu “ bản của một sự vật” là cái gốc, cái căn
bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của sự vật; còn “sắc của một sự vật” là cái biểu hiện
ra bên ngoài của sự vật đó. Theo từ điển Tiếng Việt bản sắc là “màu sắc, tính
chất riêng tạo thành đặc điểm chính” [41,tr 31]
Có quan điểm cho rằng bản sắc là tính chất đặc biệt vốn có tạo thành phẩm
cách riêng…Như vậy theo quan điểm này bản sắc của một sự vật là những đặc
điểm riêng biệt chỉ có ở sự vật ấy.
Theo cách hiểu của chúng tôi, mỗi sự vật có nhiều thuộc tính( tính chất, đặc
điểm, dấu hiệu, nét…) trong đó có những thuộc tính chung và những thuộc tính
riêng, những thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Những tính cơ bản của một sự
13

Một số quan điểm khác cho rằng, tuy có sự tồn tại khác biệt giữa các dân tộc,
nhưng sự khác biệt này không phải là quan trọng và càng ít quan trọng hơn trong
xu thế toàn cầu hoá, mở rộng hội nhập quốc tế và giao lưu văn hoá. Đây là quan
điểm phủ nhận tính đặc thù dân tộc. Mỗi quan điểm trên đều có những khía cạnh
thực tế nhất định, nhưng tính cực đoan không bao giờ là chân lý. Vì thế bản sắc
của một dân tộc là thuộc tính cơ bản của dân tộc ấy mà nhờ đó chúng ta biết
được dân tộc ấy giống và khác dân tộc khác như thế nào.
Lịch sử loài người đã chứng minh rằng, loài người để được hoàn thiện
phát triển như hiện nay đã phải trải qua quá trình vận động và phát triển lâu dài,
với nhiều cộng đồng người khác nhau, ở những vùng miền khác nhau cả về địa
lý tự nhiên, cả về phương thức thoả mãn nhu cầu cuộc sống của con người. Như
thế về mặt lịch sử cái tự nhiên thứ hai – tự nhiên Người hay văn hoá không phải
là cái được tạo ra một lần cho tất cả và cho mãi mãi, mà ở các cộng đồng khác
nhau, với không gian khác nhau, nó đã được tạo ra theo những phương thức
không giống nhau và vì vậy diện mạo của nó cũng không hoàn toàn giống nhau
ở các cộng đồng khác nhau. Nói về sự không giống nhau ấy cũng chính là nói về
sự khác nhau trong bản sắc văn hoá của các cộng đồng. Nghĩa là khi nói bản sắc
văn hoá của mỗi cộng đồng, là người ta muốn nói rằng, mỗi cộng đồng đã hiện
hình bản chất Người của mình trong những sắc thái riêng, được quy định bởi
không gian sống với những điều kiện tự nhiên và lịch sử của cộng đồng ấy.
Như vậy bản sắc văn hoá dân tộc được hình thành và phát triển phụ thuộc
vào đặc điểm tộc người, điều kiện lịch sử, tự nhiên, môi trường cư trú, thể chế
chính trị, cũng như sự giao lưu với các nền văn hoá khác. Nói đến văn hoá là nói
đến việc dân tộc đã sáng tạo, đã vun trồng nền văn hoá đó; bản sắc dân tộc về
văn hoá cũng chính là bản sắc văn hoá của dân tộc ấy.
15
Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, là sức mạnh nội tại của dân tộc. Nó là hạt
nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này qua đời
khác. Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn là chính mình: “Một dân tộc
qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời đại nào đó có thể mất độc lập, bị

chẳng những không bị đồng hoá mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập
tự do cho dân tộc. ở đây chứa đựng những tinh hoa mang đậm cốt cách, diện
mạo, tâm hồn của con người, của các tộc người. Nói cách khác là có những giá
trị tinh tuý nhất, quan trọng nhất, bền vững nhất, là những sắc thái gốc riêng biệt
của mỗi dân tộc, có thể làm căn cứ để phân biệt dân tộc này nới dân tộc khác. Đó
chính là bản sắc văn hoá của chính dân tộc ấy.
Trong chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, Đảng ta chỉ rõ:
“Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch
sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là lòng yêu nước
nồng nàn, ýý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ýý thức cộng đồng gắn kết
cá nhân- gia đình- làng xã- Tổ quốc; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo
lý dân tộc thực tế, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, tế nhị trong cư xử,
giản dị trong lối sống…Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức
biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo. [19, tr.56]
Sự đặc sắc trong văn hoá dân tộc Việt Nam là một nền văn hoá vừa đa dạng
vừa thống nhất, là sự đan xen, tiếp xúc, biến đổi, bổ sung lẫn nhau của văn hoá
các tộc người. Sự cố kết cộng đồng của 54 dân tộc anh em sống xen kẽ nhau
trong một lãnh thổ, chung một ngôn ngữ phổ thông. Quá trình dựng nước và giữ
17
nước đã hun đúc nên ý thức cộng đồng; cùng chung một cái nôi sinh thành, cùng
một dòng văn hoá chủ đạo. Các dân tộc Việt Nam có chung một khát vọng là
muốn cùng sinh sống, cùng chung một ý thức dân tộc, ý thức người Việt Nam.
Tuy nhiên mỗi một vùng văn hoá nước ta, do điều kiện tự nhiên, phương thức
canh tác, sự giao lưu văn hoá, tâm lý cộng đồng, nguồn gốc lịch sử mà có những
sắc thái văn hoá riêng thể hiện ở tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán, lối
sống, lối ứng xử trong các sinh hoạt xã hội và trong giao tiếp văn hoá. Ở đây thể
hiện tính thống nhất và tính đa dạng phong phú không loại trừ nhau mà bổ sung

Châu, Cao Bằng.
Người Giáy thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. thuộc hệ tiếng nói Thái-
Kađai. Theo các nhà nghiên cứu, tộc người Giáy di cư vào Việt Nam từ thế kỷ
XVI do: “Sự chèn ép của các tộc người phương Bắc đối với các ngành Dao ( từ
thế kỷ XIV đến nay) và các tộc người Sán Chay, Sán Dìu, Giáy…( từ thế kỷ
XVI đến gần đây) và nạn đói kém, loạn lạc, áp bức đã khiến họ di cư vào Việt
Nam”
[35, tr.32]
Đồng bào Giáy sống định cư và họ gọi đơn vị cư trú của mình là làng
“Luổng”, bản “ Bán”. Địa vực cư trú chủ yếu của người Giáy là ven sông, suối,
thung lũng và những bãi bằng , cho nên dân tộc Giáy là cư dân lúa nước từ rất
sớm. Trong tục ngữ Giáy có câu: “ Xịp ba rì - tý bỏ đáy xì ná” có nghĩa là
( Mười đám nương không so được một góc ruộng). Người Giáy cư trú quần tụ
với hàng trăm nóc nhà và thành từng làng, làng người Giáy thường nằm xen kẽ
các làng của tộc người khác như: Tày, Nùng, Thái Người Giáy tự cho là không
có quốc gia riêng của dân tộc mình và người Giáy không có vua ( Giáy bỏ mý
pướng, Giáy bỏ mý vướng), cho nên trong cuộc sống luôn hoà đồng với các tộc
19
người khác.Trải qua mấy thế kỷ sinh sống trên các địa bàn trên lãnh thổ Việt
Nam, dân tộc Giáy đã cùng các dân tộc anh em tham gia đấu tranh chống giặc
ngoại xâm rất dũng cảm. Cũng như các tộc người khác ở Việt Nam, người Giáy
mặc dù sống xen cư và trải qua bao biến thiên của lịch sử nhưng vẫn gìn giữ, bảo
tồn được những giá trị văn hoá độc đáo, riêng có của dân tộc mình. Những giá
trị văn hoá vật thể và phi vật thể được kết tinh trong ăn, ở, trang phục, lễ hội,
phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tri thức dân gian… của đồng bào Giáy góp phần
tạo nên nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Dân tộc Giáy ở Lào Cai trước đây có khoảng 3.800 người( theo tài liệu
điều tra dân số 1-1-1930 của Pháp để lại), đến 1963 qua tài liệu điều tra dân số
có 9.671 người. Hiện nay ở Lào Cai Dân tộc Giáy có 24.360 người, là dân tộc
có số dân khá đông đứng thứ 5 trong 25 dân tộc thiểu số ở Lào Cai.

phong phú Như đã trình bày ở phạm vi nghiên cứu, Luận văn không trình bày
toàn bộ các vấn đề thuộc về văn hóa của dân tộc Giáy mà chủ yếu khai thác một
cách có hệ thống, những giá trị văn hóa đặc trưng thuộc về văn hoá dân tộc
Giáy.
Bên cạnh những nét chung mang đậm nét đặc sắc của bản sắc văn hoá dân tộc
Việt Nam, đó là tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tình thương yêu con
người tôn trọng cuộc sống và đề cao nhân phẩm con người, tinh thần đoàn kết
cộng đồng, tương thân, tương ái, ham học hỏi, khả năng thích ứng nhanh…văn
hoá dân tộc Giáy còn có những nét riêng mang dấu ấn độc đáo của tộc người Giáy
có thể khái quát một số nét đặc trưng như sau
Thứ nhất, Văn hoá dân tộc Giáy là một loại hình văn hoá lúa nước thể
hiện trong nhà ở, trang phục,văn hoá ẩm thực….
21
Trước hết, nói đến văn hóa của dân tộc Giáy là phải nói đến một loại hình
văn hoá lúa nước Bởi lẽ, Người Giáy lựa chọn vị trí địa lý để lập làng bao gồm
các vùng tự nhiên như: những thung lũng bằng phẳng, ven sông, suối, những bãi
bằng …Là những nơi thuận tiện cho việc sản xuất, gieo trồng cây lúa nước, cho
nên dân tộc Giáy là cư dân lúa nước từ rất sớm. Một đặc điểm của loại hình văn
hoá này là tất cả các ngày tết, lễ hội trong năm đều theo mùa vụ của cây lúa
nước, với những đặc thù như vậy đã hình thành nên một nền văn hóa tương
ứng, đó là loại hình văn hóa lúa nước. Những nét văn hoá đặc trưng của tộc
người Giáy thể hiện trong nhà ở, trang phục,văn hoá ẩm thực…
+ Nhà ở: Người Giáy dựng nhà theo hai kiểu cấu trúc nhà trệt và nhà sàn.
Trong đó cấu trúc nhà sàn chỉ thuộc về một số nhóm người Giáy sống ở Hà
Giang, Cao Bằng. Còn cấu trúc nhà trệt phổ biến hơn, là kiểu giáng của tất cả các
nhóm người Giáy sống ở Lào Cai, Lai Châu và được xem như là mô hình đại
diện của ngôi nhà người Giáy.
Ngôi nhà trệt điển hình của người Giáy là nhà khung gỗ lợp hai mái gianh
cao vút. Hai đầu hồi trên nóc nhà có thể được trang trí hoa văn gỗ hoặc để thông
thoáng. Tường nhà 4 bức được nện bằng đất hoặc làm bằng gỗ tấm hay phên tre

chế biến thức ăn, phát cây cỏ Trong cung cách làm ăn ấy, dao được xem như
công cụ vạn năng hầu như lúc nào cũng được người chủ mài sắc cho vào bao dao
được làm bằng ống tre, hoặc vầu, có dây buộc và luôn đeo bên hông.
+ Trang phục
Nam giới mặc quần ống rộng nhưng ống lại được thắt chéo( lá toạ), áo
ngắn cổ tròn có chân, mở giữa cúc cài khuy bằng vải, đầu đội khăn vải bông
nhuộm chàm với những nút thắt, chít để khi nhuộm nước chàm không thấm tạo
23
thành những chấm trắng như sao với các hình vuông, chữ nhật, tam giác, quả
trám, hình cây, hình lá Màu sắc quần áo của nam giới là màu đen và chàm
thẫm.
Phụ nữ Giáy mặc áo ngắn xẻ nách phải cài khuy vải hoặc bạc, cổ đứng viền
vải khác màu, tay áo và tà áo cũng viền vải khác màu. áo nữ đủ các loại màu
nhưng tuyệt đối không có màu trắng. Các cô gái trẻ thường mặc áo màu xanh lá
cây và trang trí áo với chiếc cúc cài đầu tiên phía cổ áo, được tết bằng vải nhiều
mầu thành hình hoa. “Nụ hoa” duy nhất này cùng với các viền cổ viền tà áo khác
màu làm cho áo của các thiếu nữ Giáy tuy giản dị nhưng trông lại nổi bật, hấp
dẫn. Quần của phụ nữ Giáy màu đen, cạp quần dùng vải màu thường là vải đỏ
khâu luồn dây thắt (giải rút). Phụ nữ Giáy thường vấn tóc tròn quanh đầu, các cô
gái trẻ thì cuốn vòng thêm quanh vòng tóc vấn của mình những sợi chỉ hoặc len
đỏ để trang trí gọi là piêm máo. Đầu đội khăn vuông( trước kia là màu chàm, nay
là khăn len kẻ ô nhiều màu) gấp chéo, hai đầu góc khăn được thắt về phía sau
thành kiểu đuôi én. Đeo túi vải thêu hoa văn, ở đáy túi thêu hình răng chó( hẻo
ma), đi giày vải thêu hoa văn nhiều loại.
+Văn hoá ẩm thực:
Trong tiếng Giáy, lương thực gọi là Háu( lúa, gạo, cơm). trong bữa ăn hàng
ngày người Giáy ăn cơm tẻ đồ( gạo được luộc cho chín dở rồi mới cho vào chõ
đồ). Nước luộc gạo được dùng làm nước uống. Đây là một nét đặc trưng và in
đậm trong văn hóa tộc người Thức ăn là các món xào và canh. Các bữa ăn có
khách có thể thêm món luộc, rán. Nếu là bữa tiệc thì có thịt quay, món khẩu

rễ vào trong mọi khía cạnh đời sống của tộc người Giáy
Theo người Giáy có 3 thế giới chính: Thế giới người đang sống; thế giới
trên trời nơi tiên phật, ông bà tổ tiên, Ngọc Hoàng ở; thế giới ở dưới âm ty nơi ai
25

Trích đoạn Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Giáy gắn liền với phát triển toàn diện kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng ở Lào Cai hiện Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Giáy gắn liền với việc xây dựng nền văn hoá mới,con người mới ở Lào Cai hiện nay Phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo là điều kiện quan trọng để đảm bảo hiệu quả công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Đẩy mạnh công tác giáo dục văn hoá, lịch sử văn hoá truyền thống, nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào dân tộc Giáy ở Lào Cai hiện nay Đổi mới chính sách đối với cán bộ làm công tác văn hoá tạo động lực cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Giáy ở Lào Cai hiện nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status