LUẬN VĂN: Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mông ở tỉnh Hà Giang hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc Mông ở tỉnh
Hà Giang hiện nay

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn có liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội, ở
mọi thời đại, mọi giai đoạn lịch sử. Văn hoá được coi là nhân tố quyết định đến sự phát
triển bền vững của một quốc gia dân tộc. Văn hoá của môt dân tộc trước hết thể hiện ở
bản sắc và nét văn hoá riêng của dân tộc ấy. Bản sắc dân tộc thể hiện trong giá trị văn

sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn và phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn
hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội…” [12, tr.33].
Vì vậy việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung, bản
sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nói riêng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan
trọng để thực hiện mục tiêu: “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc”.
Hà Giang là tỉnh biên giới, nơi địa đầu của Tổ quốc, có 22 dân tộc anh em cùng
sinh sống, trong đó, người Mông là dân tộc thiểu số đông nhất hiện nay với số dân
trên 200.000 người, chiếm 1/3 số người Mông của cả nước. Trong những năm gần
đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra như một
cơn lốc cuốn hút tất cả các nước trên thế giới. Việt Nam cũng như tất cả các quốc gia
khác không thể đứng ngoài dòng chảy này. Kinh tế thị trường với những ưu điểm và
mặt trái của nó, có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hoá truyền thống của các dân
tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong có văn hoá dân tộc Mông. Trước sự
tác động của cơ chế thị trường, đã có một số bộ phận không nhỏ người Mông có xu
hướng cực đoan rũ bỏ văn hoá truyền thống của mình để tin vào các thần bảo hộ ở
nhà, đi tìm đức tin mới từ “Vàng Trứ”, “Thìn Hùng” (đức chúa trời). Sự tác động của
giáo phái lạ đã tác động sâu sắc đến văn hoá người Mông và nó đang bị mai một, pha
trộn, lai căng, không còn giữ đựơc bản sắc văn hoá dân tộc mình. Trước tình hình đó
việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Mông ở Hà Giang,
hiện đang là vấn đề cấp thiết. Điều đó không những có ý nghĩa đối với việc bảo tồn,
phát huy giá trị, bản sắc văn hoá của các dân tộc Mông, mà còn có ý nghĩa phát huy
vai trò của văn hoá đối với phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Giang hiện nay.

Với những lý do trên, học viên chọn “Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc Mông ở tỉnh Hà Giang hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc
sỹ triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xung quanh vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã có khá nhiều
công trình, đề tài nghiên cứu đề cập đến ở những góc độ, những hướng tiếp cận khác

hiện đại", Nxb Văn hóa thông tin và viện văn học, Hà Nội, 2005. Sở Văn hoá Thông tin
Hà Giang (2006), Hồ sơ khảo sát văn hoá cổ truyền tộc người Mông, thuộc dự án KX-
HG-03(04), Hà Giang. Và nhiều bài viết trên các tạp chí: Dân tộc học, nghiên cứu lịch
sử
Các công trình trên là hết sức có giá trị tạo nên một cái nhìn tổng quan về văn
hoá các dân tộc. Nhiều công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm
chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dân tộc Mông ở
nước ta. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những
giá trị văn hóa, phong tục tập quán nhằm giới thiệu về người Mông; những nét đặc
sắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Mông. Một số đề tài, công trình cũng đề
cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nhưng mới chỉ
đề cập một cách chung chung, chưa có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề kế
thừa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Mông một cách có hệ thống dưới góc
độ triết học. Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu quan
trọng, là cơ sở để học viên tiếp thu, nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ bản sắc văn hoá dân tộc Mông, phân tích thực trạng kế thừa và
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mông, đề xuất một số nguyên tắc và nhóm giải pháp
cơ bản nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Mông ở Hà Giang hiện
nay.
3.2. Nhiệm vụ
luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

Một là, làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Mông, tính tất yếu khách quan và một
số nguyên tắc cơ bản của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mông ở
Hà Giang
Hai là, đánh giá thực trạng và vấn đề đặt ra trong việc kế thừa và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc Mông ở Hà Giang hiện nay.
Ba là, đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản, nhằm kế thừa và phát huy bản sắc

tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn: Địa lý Địa phương,
Văn hoá học, Dân tộc học…ở trường Cao đẳng sư phạm Hà Giang. Đồng thời nó còn
làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hoá ở tỉnh
Hà Giang.
7. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ lý luận về
văn hóa, bản sắc văn hóa, vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá; đồng thời góp
phần khẳng định vai trò, ý nghĩa của những giá trị văn hóa của dân tộc Mông ở Hà
Giang theo hướng: Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy
các bộ môn: Địa lý địa phương, Văn hóa, Dân tộc học ở các nhà trường, làm tài liệu
tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ở tỉnh Hà Giang.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được trình bày trong 2 chương, 4 tiết.

Chương 1

Hướng tiếp cận thứ hai chính là khuynh hướng của học thuyết giá trị. Nhưng phải
thấy tính hai mặt của học thuyết này; mọi giá trị đều thể hiện mối quan hệ giữa người và
vật; chỉ khi nào sự vật khách quan có ích cho con người thì mới gọi là giá trị. Nhưng giá
trị không chỉ quyết định bởi bản thân sự vật mà còn quyết định bởi con người đang chịu
chi phối của giai cấp, dân tộc, tôn giáo, thời đại do đó một giá trị có thể đưa ra nhiều
cách nhìn khác nhau. Giá trị mới chỉ là thước đo của văn hóa chứ chưa phải là bản thân
văn hóa.
TSKH Đỗ Khang nhận xét rằng lâu nay nghiên cứu văn hóa người ta thường tiếp cận
theo khuynh hướng giá trị luận ít chú ý đến bản thể luận, nặng về mối quan hệ giữa giá trị
văn hóa và chủ thể chứ chưa phải là bản thân văn hóa.
GS Phan Ngọc quan niệm rằng, một khi văn hóa không phải là một đồ vật, mà là
một mối quan hệ, có mặt ở mọi tộc người và chỉ ở con người mà thôi, thì không thể nào
tìm một định nghĩa về văn hóa ở các ngành khoa học tự nó đã chia cắt loài người ra
thành những tập đoàn khác nhau như dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học.
Cần phải tìm nó ở những khoa học nghiên cứu loài người một cách tổng thể như tâm lý
học, triết học [62, tr.15]. Quan niệm của GS Phan Ngọc cũng chứng tỏ các nhà văn hóa
học cũng muốn "thoát ra" khỏi văn hóa học để định nghĩa văn hóa. Đó chính là hướng
tiếp cận thứ nhất, hướng tiếp cận ở góc độ khái quát nhằm đạt tới khái niệm chung về
đặc điểm một lĩnh vực mang tính bao trùm. Đó chính là hướng tiếp cận của Triết học.
Để xác định được triết học tiếp cận văn hóa như thế nào, nghiên cứu khía cạnh
nào của văn hóa, chúng ta cần tiếp thu ý kiến của các nhà Triết học trong lịch sử, nhất là
các nhà Triết học trong lịch sử, nhất là các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.
Các nhà triết học cổ đại Phương Đông đều nhất mạnh khía cạnh quan hệ Lễ -
Nghĩa của cộng đồng; các nhà triết học cổ đại phương Tây nhấn mạnh các điều kiện
khách quan qui định nên tính cách dân tộc, tính đặc thù và tính cách của mỗi dân tộc

người, ý nghĩa nhân đạo trong phương thức ứng xử của con người. Các yếu tố đó có ý
nghĩa đối với sự phát triển xã hội.
Trong thời cận đại nhà triết học người Anh, Jon locke (1632 - 1704) quan tâm

động. Ông khẳng định tính tất yếu của cách mạng văn hóa, cuộc cách mạng này hết sức
khó khăn vì trình độ dân trí và cơ sở hạ tầng lạc hậu song không phải ngồi chờ lực
lượng sản xuất phát triển rồi mới làm cách mạng văn hóa, mà phải chủ động tạo ra các
tiền đề căn bản của nền văn hóa cách mạng, là yếu tố rất quan trọng để xây dựng xã hội
mới. V.I.Lênin đã gắn văn hóa với phát triển, chỉ ra mục tiêu quan trọng nhất của văn
hóa là hoàn thiện con người về mọi mặt. Vì vậy phải biết kế thừa có chọn lọc các giá trị
văn hóa truyền thống.
Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa thế giới đã đưa ra một định nghĩa ở cấp độ khái
quát về văn hóa:
Vì lẽ sinh tồn, cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo, phát
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc,ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [46, 431].
Định nghĩa trên đây đã xác định văn hóa là sự phát triển tất yếu, mang tính xã hội cao, là
phương thức sống, hoạt động và không ngừng được nâng cao theo đà phát triển của xã hội.
Sáng tạo và giá trị nhân văn là nội dung cốt lõi của văn hóa.
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp
(21/1/1998), Tổng thư kưý UNESCO định nghĩa:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt
của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng
như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một
hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng
dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [72, tr.23].

UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí
trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là yếu tố nội sinh của sự
phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội. Văn hóa giúp cho con
người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này

vừa là cụ thể, vừa là trìu tượng.
Từ cách tiếp cận trên, chúng ta có thể hiểu: Văn hóa là năng lực sáng tạo, là thái
độ, phương thức sống, phương thức hoạt động, tính nhân đạo của con người trong quá
trình sản xuất, đấu tranh làm nên các giá trị vật chất, tinh thần, đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của xã hội loài người.
ở Việt Nam, khi luận bàn về văn hóa của dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa,
hai cấp độ khác nhau: ở phạm vi hẹp, văn hóa dân tộc đồng nghĩa với văn hóa của một
tộc người, văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc người + tộc danh, là một chi tiết của văn hóa
nói chung. Phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóa chung của cả cộng đồng tộc người
(Nation) sống trong cùng một quốc gia.
Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng như những
quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ của một tộc người,
phản ánh những nhận thức, tâm lưý, tình cảm, tập quán riêng biệt được hình thành trong
lịch sử của tộc người đó. ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen,
hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và
mỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng của nó. Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng,
dân tộc như là “mật mã di truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng
đồng, dân tộc đó, đã được tích lũy lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình. Chính
quá trình đó đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ. Cộng đồng sẽ bền
vững khi nó trở thành dân tộc. Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn
hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa
và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [65, tr.13]. Một dân tộc đánh mất bản sắc
văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính mình, một nền văn hóa có tính dân tộc, là nền
văn hóa mang đầy đủ bản sắc của dân tộc. Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các

giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao
đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc. Đúng như đồng chí Đỗ Mười đã khẳng định:
Ngày nay văn hoá được coi là một yếu tố nội sinh, không phảI chỉ là kết quả mà
còn là nguyên nhân của sự phát triển xã hội, phảI đặt trên nền tảng văn hoá mang bản
sắc dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị tinh hoa của loài người. Văn hoá phảI kết

duy trì:
Một dân tộc qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời đại nào đó
có thể mất độc lập, bị người ngoài đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ được
tiếng nói của mình, vẫn giữ được vốn văn nghệ dân gian, vẫn giữ và phát
triển được bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm chắc trong tay
chìa khóa của sự giải phóng, chìa khóa của tự do, độc lập [6, tr. 48].
Bản sắc văn hóa có tính dân tộc vì nó được tạo ra, được lưu truyền trong công
đồng dân tộc với một sắc thái thiên nhiên, điều kiện xã hội, lịch sử riêng; qua quá trình
phát triển lâu dài, những đặc điểm dân tộc in dấu ấn vào các sáng tạo văn hóa. Trải qua
nhiều thử nghiệm, thách thức của thời gian dần dần lắng đọng, định hình tạo thành bản
sắc dân tộc của văn hóa. Nó tạo nên cốt cách, bản lĩnh, sức sống nội sinh củ dân tộc,
trên cơ sở đó nảy sinh và hoàn thiện ý thức dân tộc, tạo nên lực hút, quy tu, gắn kết với
các thành viên cộng đồng, tạo ra thế đứng vững chắc trong quá trình phát triển.
Bản sắc văn hoá dân tộc là gương mặt tinh thần, là tiêu chí để nhận biết được các
giá trị phẩm chất của một dân tộc, vì văn hoá truyền thống là nền tảng, là pháo đài, điểm
tựa cho sự giao lưu văn hoá Quốc tế.
Bản sắc văn hóa dân tộc được tôi luyện, đúc kết qua hàng trăm thế kỷ nối tiếp
nhau trong lịch sử, như dòng phù xa dã hóa thân vào màu xanh của đồng lúa, như tính
chấtcủa đất trở thành sức sống của cây, cỏ, hoa, trái. Tất cả các Quốc gia hiện nay đều
chú trọng nghiên cứu di sản văn hóa của dân tộc mình, họ ý thức được rằng nếu không
đề cao bản sắc văn hóa dân tộc thì tính da dạng của văn hóa thế giới sẽ bị nghèo đi do
sự lai căng của các nền văn hóa vì thế bản sắc văn hóa dân tộc phải đứng vững trên đôi

chân của mình để tiếp nhận các yếu tố hiện đại, làm cho các yếu tố hiện đại gia nhập và
trở thành yếu tố văn hóa truyền thống.
Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thông qua văn hóa.
Vì vậy, có thể coi: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa
nào cũng được xếp vào bản sắc. Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phân
biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc” [64, tr.13].
“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong sáng

giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sau tiếp nối, khai thác và phát huy trong thời đại của
họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa các dân tộc. Khi đã được hình
thành, truyền thống mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều
chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng. Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hóa không
phải là sự bất biến, cố định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ
thể. Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập
những yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại. Truyền thống cũng không phải
chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm cả các giá trị từ bên
ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó, biến nó thành nguồn lực nội
sinh của dân tộc. Một dân tộc nếu như đánh mất bản sắc văn hoá, thì thực chất dân tộc
ấy đã đánh mất chính mình. Một nền văn hoá có tính dân tộc, là nền văn hoá mang đầy
đủ bản sắc của dân tộc mình. Chính vì vậy, việc kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá tạo
nên bản sắc văn hoá của dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn
vong của mỗi dân tộc.
1.1.2. Sự cần thiết phải kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mông ở
nước ta hiện nay
1.1.2.1. Khái lược vài nét về lịch sử dân tộc Mông và những vấn đề đặt ra
Người Mông là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Dân tộc này có truyền thống
văn hoá độc đáo, có bề dày lịch sử hàng nghìn năm trước đây và trên 300 năm sau khi
Trung Quốc sang định cư ở hầu hế các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.

Về tộc danh của dân tộc này có nhiều cách nhìn, cách lí giải khác nhau. Những
tài liệu từ thế kỷ thứ VII- trước công nguyên trong biên niên sử Trung Quốc đã xuất
hiện từ "Tam miêu" để chỉ một quốc gia đó có một bộ lạc hợp nhất lại.
Kinh thư của Khổng Tử có chép rằng: ở vùng Hồ Động Đình thiên niên kỷ thứ II -
trước công nguyên đã có những bộ hợp nhất mang tên "Tam miêu". Gọi là Tam miêu là
do người ta căn cứ vào 3 màu sắc trang phục của người Mông lúc đó (Hồng miêu, Bạch
miêu, Thanh miêu) [71.56].
Sách chiến quốc ghi "Nước Tam miêu xưa ở phía tả có Hồ Động Đình, phía hữu
có Hồ Bành Lãi, phía Nam là núi Màn Sơn, phía Bắc là núi Hoành Sơn. Vì chính trị

(2255 - 2208 TCN) đã có chiến tranh giữa người Miêu và người Hoa.
Sau các cuộc chiến tranh này đến nhà Hạ (2205 - 1706 TCN) người Mông chạy
dạt xuống phía Nam.
Người Mông từ Trung Quốc, ngay từ thời Nghiêu (2357 -2258 TCN) và thời
Thuấn (2255 - 2208 TCN) đã có chiến tranh giữa người Miêu và người Hoa. Sau các
cuộc chiến tranh này đến nhà Hạ (2205 - 1706 TCN) người Mông chạy dạt xuống phía
Nam.
Người Mông từ Trung quốc di vào Việt Nam thành nhiều đợt, nhưng có 3 đợt
đông nhất:
Đợt 1: Đời nhà Minh ban hành chính sách "Cải tổ quy hai" điều những người
đứng đầu dòng họ và triều đình nhưng "Hữu chức vô quyền" đồng thời cho người Hán
đến vùng Mông cái trị người Mông, người Mông đã đứng dậy chống lại chính sách này.
Nhà Minh huy động hơn 60 vạn quân đánh dẹp, người Mông thua phải di cư
xuống phía Nam. Trong đó có hàng trăm gia đình xuống Đồng Văn (Hà Giang) cách
đây từ 14 - 15 đời (trên dưới 300 năm).
Đợt 2: Đời nhà Thanh có đạo luật quy định 5 hộ người Mông mới được dùng một
con dao Mông, cấm không được dùng kim khí làm công cụ.

Phần uất ức chế độ hà khắc của nhà Thanh, người Mông đã nổi lên chống lại từ
năm 1786. Cuộc đấu tranh làm chấn động cả một vùng Hoa Nam (Trung Quốc) trung
tâm điểm của phong trào là ở tỉnh Quý Châu.
Năm 1820 phong trào đấu tranh của người Mông bị trìm trong biển máu, họ phải
lánh đạn xuống các nước Đông Nam á.
Hơn 100 gia đình vào Đồng Văn (Hà Giang), gần 100 gia đình vào Ximacai (Lào
Cai). Cách đây 9 - 10 đời (trên dưới 180 năm)
Đợt 3: Triều Mãn Thanh (1855 - 1873) đã bóc lột nông dân đến cùng cực. Phong
trào "Thái bình thiên quốc" của nông dân trung Quốc nổi lên chống Mãn Thanh. Đông
đảo người Mông tích cực tham gia phòng trào này. Đến năm 1872 phong trào đấu tranh
của người Mông bị thất bại, đánh dấu bằng trận Kinh trúc viên huyện Thạch thiên, phủ
Tuần nghĩa, Tỉnh Quý châu (Trung Quốc). Đại bộ phận người Mông phải di cư lánh

Kiến trúc ngôi nhà truyền thống
Địa hình cư trú của người Mông đã ảnh hưởng đến kiến trúc nhà ở của dân tộc
này. Với môI trường sống trên các sườn núi cao, khí hậu lạnh, khắc nghiệt…thì
ngôI nhà trình tường bằng đất, lợp ngói hay tranh là phù hợp nhất, vừa giữ ấmm về
mùa đông lại mát mẻ về mùa hè vừa có thể chống được kẻ gian, thú giữ.
Nhà của người Mông thường có ba gian hai cửa, cửa chính ở giữa, cửa phụ ở
hai bên đầu hồi. Xung quanh nhà, xếp đá làm hàng rào che chắn. Gian giữa nhà là
nơi thờ tổ tiên và để dụng cụ sản xuất. Hai gian hai bên, mỗi gian là một buồng ngủ và
một bếp lò. Tuỳ theo gia chủ mang họ gì mà bếp lò và buồng ngủ của chủ nhà đặt bên
trái hay bên phải. Ví dụ họ Thào, họ Giàng, họ Vàng đặt bếp lò và buồng ngủ ở bên
phải; trong khi họ Mùa, họ Lù thì đặt ở bên trái.
Người Mông thường dựng nhà theo hướng Đông hoặc hướng Tây. Trước khi dựng
nhà, người ta phải xem xét đất được chọn là đất lành hay đất xấu. Họ đào ba cái hố, một
hố nơi định đặt bàn thờ tổ tiên, một hố nơi định để bếp lò, một hố nơi định làm phòng
khách. Sau đó đặt ba bát gạo (hoặc hạt ngô) xuống mỗi hố rồi lấy bát úp lên. Sáng sau
mở ra, nếu những hạt gạo không thay đổi vị trí, không mốc hoặc bị gặm nhấm là đất tốt.
Ngược lại là đất xấu. Trường hợp hạt gạo bị kiến tha đi mất là đất cực xấu.

Sau khi chọn đất tốt, đất lành, người ta tiến hành san nền, kê móng, trình tường
nhà. Công việc trình tường được làm khá công phu với một số quy định như người lạ
không được vào khu vực nhà đang trình tường, nhất là phụ nữ. Đất để trình tường là
một loại bỏ sạch rễ cây, đá to, cỏ rác cứ như vậy khuôn nọ nối tiếp khuôn kia cho đến
khi hoàn thành ngôi nhà.
Làm nhà là việc hệ trọng của cả một đời người, do đó cũng như các dân tộc khác,
ngày vào nhà mới cũng là ngày đại sự của người Mông. Ngày hôm ấy, dù nghèo hay
giàu người ta đều tổ chức ăn uống vui vẻ, chúc tụng nhau mọi sự tốt lành.
Trang phục cổ truyền
Nếu như cách thức làm nhà của nhóm người Mông tương đối thống nhất thì trang
phục cổ truyền của họ lại muôn hình, muôn vẻ, nhất là trang phục của nữ giới. Một bộ
trang phục nữ bao giờ cũng gồm: khăn đội đầu, áo, váy, thắt lưng, tạp dề đằng trước và

như: muôi, thìa, chậu Độc đáo là những chiếc chậu gỗ để rửa chân. Một vật dụng
không thể thiếu được trong gia đình người Mông đó là chiếc cối xay đá dùng để xay
ngô, giã gạo do họ tự làm lấy.
Văn hoá ẩm thực
Bữa ăn thường ngày của người Mông với thực phẩm truyền thống là bột ngô đồ
(mó của) còn gọi là mẻn mén. Ngày thường người Mông ăn mẻn mén với rau cải, rau bí,
rau đậu xào Khi có khách, người Mông thường mổ gà. Còn ngày lễ tết có thêm thịt
lợn, dê, bò Người Mông thích ăn thức ăn ninh nhừ, ít khi xào khô. Gia vị chủ yếu là ớt
và gừng. Với những gia đình giàu có, thịt lợn, thịt bò mổ tết còn đủ ăn quanh năm. Họ
giữ thịt bằng cách ướp muối rồi treo lên gác bếp hoặc là thịt chua. Ngày tết họ còn làm
nhiều loại bánh bằng bột ngô như: bánh trôi, bánh dầy Uống rượu nấu bằng ngô. Món
ăn được người Mông ưa dùng hơn cả là thắng cố (canh chảo). Đó là món canh gồm các
loại thịt, xương, lòng, gan, tim, phổi của bò, dê hay ngựa cộng với các loại gia vị gừng,
ớt, thảo quả được ninh nhừ trong chảo lớn. Người Mông thường nấu thắng cố khi nhà
có cúng lễ hay trong các phiên chợ phiên. Đi chợ phiên, ai cũng sà vào hàng thắng cố
trước khi trở lại bản làng.
- Thứ hai, các giá trị văn hóa ứng xử thể hiện ở quan hệ làng bản, gia đình - dòng

họ, lễ nghi vòng đời.
Quan hệ làng bản
Người Mông gọi bản là giao, mỗi giao từ vài chục nóc nhà đến vài trăm nóc nhà
quây quần bên nhau. Cũng có khi các nóc nhà được phân bố theo cụm chừng vài ba nhà
trên một khu vực ở rải rác ven sườn núi, đồi. Nơi được chọn lập làng là nơi có nguồn
nước sinh hoạt cho cả người lẫn gia súc.
Đất làng là toàn bộ những gì thuộc không gian sinh tồn của làng. Bên cạnh khu vực
cư trú còn có đất canh tác và những khu vực thuộc quy định chung của làng: Rừng đầu
nguồn (nơi đầu nguồn dòng nước chính), khu vực nghĩa địa của làng, rừng thiêng (khu vực
thờ thần rừng và các vị thần linh cư ngụ). Các khu rừng này đều bị cấm khai thác, còn lại là
rừng sử dụng.
Làng Mông quần tụ theo dòng họ. Người Mông quan niệm: "cùng họ, cùng ma" và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status