LUẬN VĂN:
Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc
Thái ở Tây Bắc hiện nay
(qua thực tế ở tỉnh Sơn La)
Mở đầu
những ưu điểm và mặt trái của nó, có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa truyền
thống của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa của
dân tộc Thái ở Tây Bắc. Bên cạnh những giá trị tốt đẹp trong văn hóa truyền thống
của người Thái, còn có những yếu tố không còn phù hợp với sự phát triển của thời
đại. Trước sự tác động của cơ chế thị trường, của mở rộng hội nhập quốc tế và giao
lưu văn hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Thái nói chung, và
người Thái ở Tây Bắc nói riêng đang bị mai một, pha trộn, lai căng, không còn giữ
được bản sắc. Vấn đề khác quan trọng hơn cả, đó là chúng ta đang phấn đấu để có
được sự bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, các vùng miền trên cả nước. Để đạt
được điều này phải kết hợp nhiều yếu tố, trong đó văn hóa chiếm vai trò, vị trí hết sức
quan trọng, không thể có bình đẳng dân tộc nếu như không giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta, bởi lẽ: "Vấn đề dân tộc là vấn đề văn hóa,
đừng tìm vấn đề dân tộc ở chỗ khác" [19, tr.10].
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, tạo điều
kiện để vùng Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, đóng góp vào việc thực hiện
mục tiêu chung của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Trước tình hình đó thì
việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc là vấn đề mang
tính thời sự, cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, để đóng góp phần công sức
nhỏ bé vào mục tiêu của cả nước nói chung, và tỉnh Sơn La nói riêng, tôi chọn vấn đề
“Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay (qua thực
tế ở tỉnh Sơn La)" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề này đã được nhiều người nghiên cứu ở những phạm vi và góc độ khác nhau.
Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu như:
"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia, 1994.
"Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh, 2001. "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002. "Xây
hóa, phong tục tập quán của người Thái (nói chung), người Thái ở Tây Bắc (nói riêng)
nhằm giới thiệu về người Thái; những nét đặc sắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc
Thái. Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc Thái nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung hoặc đi sâu tìm
hiểu một số nét văn hóa cụ thể; đã đề cập đến thực trạng và một số giải pháp cho sự phát
triển văn hóa các dân tộc Tây Bắc nhưng cũng chỉ là những giải pháp mang tính định
hướng chung cho các dân tộc thiểu số; chủ yếu nghiên cứu về văn hóa dân tộc Thái ở góc
độ văn hóa, chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học, chưa
bàn nhiều tới vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc một
cách khái quát.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
trên cơ sở làm rõ thực trạng kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Tây
Bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La), luận văn đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm
kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc nói chung, và dân tộc
Thái ở Sơn La nói riêng.
* Nhiệm vụ:
luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:
Một là, làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Thái và tính tất yếu khách quan của việc
kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái.
Hai là, đánh giá thực trạng vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái
ở Tây Bắc hiện nay (minh họa bằng các số liệu, thực tế khảo sát ở tỉnh Sơn La).
Ba là, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng và đề ra một số giải pháp cơ bản, nhằm kế
thừa và phát huy bản sắc dân tộc Thái ở Tây Bắc và Sơn La.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối
tượng nghiên cứu là văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc (nội dung chủ yếu là văn hóa dân tộc
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy
các bộ môn: Triết học, Văn hóa, Dân tộc học ở các nhà trường, làm tài liệu tham khảo
cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ở Tây Bắc và tỉnh Sơn La.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
2 chương, 4 tiết. Chương 1
Bản sắc văn hóa của dân tộc Thái. Tính tất yếu khách quan của việc kế thừa và phát huy
nó
1.1. Bản sắc văn hóa của dân tộc Thái
1.1.1. Một vài nét về lịch sử dân tộc Thái
1.1.1.1. Lịch sử tộc người Thái
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có một cộng đồng tộc người tự nhận mình
bằng tên riêng Tăy hay Thăy và được gọi chính thức là Thái.
Dân tộc Thái có dân số khá đông đảo, theo con số thống kê năm 1973 là trên 36 vạn
người. Đến năm 1999, dân số của người Thái có 1.328.725 người sống trải khắp vùng
quê miền Tây và Tây Bắc Việt Nam. Bắt đầu từ phía Đông với miền đất người Thái gọi
là mường Lò quê tổ ở Tây Bắc tỉnh Yên Bái (nay chia thành ba huyện thuộc tỉnh Yên
Bái: Văn Chấn, Mù Căng Chải, Trạm Tấu và thị xã Nghĩa Lộ). Sang phía Tây gồm toàn
bộ địa phận ba tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn La. Phía Nam người Thái sinh sống ở
miền Tây Bắc Hòa Bình (nay là huyện Đà Bắc và Mai Châu) và miền Tây hai tỉnh Thanh
Hóa, Nghệ An. Cuối cùng còn thấy những nhóm sống rải rác trong các tỉnh thuộc vùng
núi Tây Nguyên, trong đó huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng là nơi họ ở đông hơn cả.
Trải qua hàng ngàn năm sinh sống trên các địa bàn trên lãnh thổ Việt Nam, dân tộc
Thái đã cùng các dân tộc anh em khác, tham gia dựng nước và giữ nước. Đây cũng chính
thì Cha của ngành Thái Đen sẽ ở nhóm Nam có đại diện nhóm Nữ là Bà Âu
Cơ trong tập đoàn người mang biểu tượng Chim - cạn [69].
Theo các nhà nghiên cứu, thì tổ tiên của người Thái đã sinh cơ lập nghiệp tại một
vùng nào đó chính trong phạm vi họ đang cư trú hiện nay, có thể từ trước công nguyên đã
có một phần người Thái cư trú chủ yếu là ở vùng Mường Thanh bây giờ. Sang những thế
kỷ đầu công nguyên, một bộ phận Thái Trắng ở đầu sông Đà, sông Nậm Na đã di cư
xuống phía Nam cư trú ở các huyện phía Bắc như mường Tè, mường Xo (Phong Thổ),
mường Lay, Quỳnh Nhai (Sơn La). Đến thế kỷ thứ XI theo “Quăm Tô Mương” cho rằng:
khởi thủy từ thời đại của anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần đưa ngành Thái Đen xuôi theo dòng sông Hồng xuất phát từ mường Ôm, mường Ai (Vân Nam, Trung Quốc) đến
mường Lò (Nghĩa Lộ). Sau đó hậu duệ Tạo Xuông, Tạo Ngần đã khai “Mường” lập
“Tạo” tạo ra cả một vùng rộng lớn gồm rất nhiều huyện. Vùng giữa ngày nay: Thuận
Châu (Mường Muổi) thuộc tỉnh Sơn La là thủ phủ của ngành Thái Đen. Cho đến cuối thế
kỷ XIII, người Thái ở Việt Nam đã ổn định về cư trú chủ yếu ở Tây Bắc Việt Nam.
Dân tộc Thái chia thành nhiều ngành, mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm khác
nhau:
Thái Đen (Táy Đăm): Cư trú chủ yếu ở các tỉnh Sơn La (hầu như toàn tỉnh). Nghĩa
Lộ (mường Lò) thuộc tỉnh Yên Bái; ở tỉnh Điện Biên; Tuần Giáo tỉnh Lai Châu và một số
ở phía Tây Nam tỉnh Lào Cai.
Thái Trắng: (Táy Đón hay Táy Khao) tập trung ở Mường Lay, mường So (Phong
Thổ, Lai Châu); mường Chiến (Quỳnh Nhai); một số khác tự xưng là Thái Trắng nhưng
có nhiều nét giống Thái Đen sống tập trung ở Mường Tấc (Phù Yên), Bắc Yên; mường
Sang, Mộc Châu (Sơn La).
Nhóm Thái Hòa Bình (Mai Châu, Đà Bắc) có nét giống với các nhóm Thái ở
Thanh Hóa. Nhóm Thái ở Thanh Hóa cư trú ở mường Một- mường Đeng tự nhận mình
thuộc ngành Đeng (Tay Thanh), ngành Trắng (Tay Mường- Hàng Tổng, Tay Dọ). Nhóm
Thái Nghệ An với việc chia ngành Đen, Trắng đã mờ nhạt, họ chỉ quan tâm đến thời gian
và quê hương xuất xứ của mình khi đến nơi này.
Cho dù hiện nay có hai ngành Thái, chẳng qua cũng là sự chuyển hóa từ một nhóm Thái
cổ xưa nhất mà thiên di đi mỗi người một ngả. Rồi đến địa vực cư trú mới của mình, từng
nhóm một tiếp xúc với điều kiện tự nhiên và chịu ảnh hưởng của các dân tộc xung quanh
rồi xa dần cái nguyên gốc của mình. Tuy vậy, người Thái ở Tây Bắc vẫn mang trong
mình những nét văn hóa riêng, độc đáo cần được giữ gìn, kế thừa và phát huy.
Sự hình thành nhóm Thái ở Tây Bắc:
Đơn vị cư trú của người Thái được gọi là Bản và Mường. Nhiều bản hợp thành một
mường nhỏ, nhiều mường nhỏ hợp thành một Châu mường. Ngay từ đầu, các bản mường
đã phân bố tương đối đông đúc trên những vùng cư trú của ba nhóm địa phương:
ở phía Bắc- những bản mường của người Thái Trắng tập trung trong các thung lũng
ruộng đồng màu mỡ. Khoảng thế kỷ thứ VIII, Mường Lay dưới thời Lô Lạnh Lạt Ma đã trở thành trung tâm của vùng này. Lợi dụng sự phát triển của người Thái, quưý tộc thống
trị Mường Lay đã bành trướng thế lực khắp nơi. Phía Bắc phát triển tới giáp tỉnh Vân
Nam (Trung Quốc). Từ Mường Tè ở phía Đông kéo sang đầu Nặm U (Thượng Lào) ở
phía Tây. Phía Nam phát triển dọc theo sông Đà từ Mường Chiên (Quỳnh Nhai) xuống
đến miền đất thuộc huyện Mường La ngày nay.
Phía Nam, sau đợt thiên di của người Thái Trắng từ Lào sang, bản mường bắt đầu
xuất hiện. Khoảng cuối thế kỷ thứ VIII đầu thế kỷ thứ IX dưới thời chúa Nhọt Cằm,
Mường Sang đã trở thành trung tâm của vùng này. Thế lực của quưý tộc Mường Sang đã
ảnh hưởng khắp khu vực rộng lớn. Phía Bắc đến vùng đất thuộc Mường Vạt (Yên Châu),
Phia Đông là đất Mường Tấc (Phù Yên, Sơn La). Phía Tây và miền Tây Nam là miền đất
thuộc Mường ét, Chiềng Cọ (Sầm Nưa- Thượng Lào), và phía Nam là vùng đất thuộc hai
huyện Đà Bắc, Mai Châu thuộc Hòa Bình ngày nay.
Khu vực giữa- sau khi Lạng trượng thu phục đất Mường Thanh, con cháu ông đã
nối nghiệp nhau thống trị đất này. Càng về sau anh em trưởng thứ của quưý tộc càng trở
nên bất hòa. Lợi dụng tình thế đó, các thế lực của quưý tộc Mường Lay và người Lự ở
Thượng Lào đã đánh đuổi quưýư tộc Thái Đen ở Mường Thanh. Con cháu Lạng Trượng
phải dần về ở Mường Muổi. Sau khi ổn định tại Mường Muổi, họ lại bắt đầu bành trướng
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và
các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và
đòi hỏi của sự sinh tồn [35, tr. 431].
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp
(21/1/1998), Tổng thư kưý UNESCO định nghĩa:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của
cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như
đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ
thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân
tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [72, tr. 23]. UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí
trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát
triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội. Văn hóa giúp cho con người
tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác
dân tộc khác.
Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định nghĩa khác
nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất của hoạt động con
người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận
trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [28,
tr.11]. Định nghĩa này nhấn mạnh trong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các
hệ thống giá trị các mẫu mực xử thế và các hệ thống hành vi. Vấn đề cần được nhấn
mạnh ở đây là trong khái niệm văn hóa, điều quan trọng là phải được thừa nhận hoặc có
nhiều khả năng được thừa nhận trong một nhóm xã hội, và được truyền bá cho các cá thể
hoặc các nhóm trong cộng đồng.
“Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong
văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái để xác định bản sắc văn
hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống của
một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân, thiện, ích, mỹ” [60, tr.19]
Bản chất đặc trưng của văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng
nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của mỗi cá nhân, cộng đồng, dân tộc. Mục đích của
giá trị văn hóa là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản, hướng tới sự hoàn thiện của mỗi
cá nhân và của cộng đồng, dân tộc. Mặc dù, tiêu chuẩn của các giá trị văn hóa của các
cộng đồng, dân tộc là không như nhau. Giá trị văn hóa còn mang tính khách quan, không
phụ thuộc vào bất cứ cái gì từ bên ngoài áp đặt vào để trở thành văn hóa của một cộng
đồng, một dân tộc. Không thể căn cứ vào văn hóa của một dân tộc nào đó để làm tiêu chí
xem xét, đánh giá nền văn hóa của các dân tộc còn lại là cao hay thấp, phát triển hay
không…điều đó sẽ rơi vào bệnh chủ quan, tạo nên sự nô dịch hay sự áp đặt về văn hóa.
Có thể nói, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã di truyền xã
hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó, đã được tích lũy lắng
đọng trong quá trình hoạt động của mình. Chính quá trình đó đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ. Cộng đồng sẽ bền vững khi nó trở thành dân tộc. Yếu tố dân
tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc;
một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả”
[65, tr.13]. Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính mình,
một nền văn hóa có tính dân tộc, là nền văn hóa mang đầy đủ bản sắc của dân tộc. Chính
vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc,
là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc.
- Bản sắc văn hóa:
Theo từ điển Tiếng Việt, bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo thành phẩm cách
đặc biệt của một vật [42].
Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một nền văn hóa
cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nền văn hóa một dân tộc. Những nét
riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, vật thể và
“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo
văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều
kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng…trong quá trình vận động
không ngừng của dân tộc đó” [18, tr. 37].
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới bản sắc riêng
của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản sắc dân tộc. Bởi
bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ và rõ nét hơn ở văn hóa. Sức sống
trường tồn của một nền văn hóa khẳng định sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản
sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy.
Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị. Giá trị tinh thần bên trong và biểu hiện
bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cố thúc đẩy nhau phát
triển. Văn hóa không được rèn đúc trong lòng dân tộc để có bản lĩnh, trở thành sức mạnh
tiềm tàng bền vững thì bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ mờ phai. Ngược lại, nếu văn hóa tự
mình làm mất đi những màu sắc riêng biệt, độc đáo của mình, sẽ làm vơi chất keo gắn kết
tạo thành sức mạnh bản lĩnh của văn hóa.
Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do nhiều yếu tố như: hoàn
cảnh địa lưý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lưý, phương thức hoạt động kinh tế. Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không xuất phát từ những yếu tố tạo thành dân
tộc. Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phải hiểu theo khái niệm phát triển,
khái niệm mở. Nó không chỉ là hình thức mà còn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn
với bản lĩnh các thế hệ các dân tộc Việt Nam. Nghị quyết hội nghị BCH TW lần thứ V
khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ:
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm
đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ưý chí tự
cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ưý thức cộng đồng gắn kết cá nhân- gia
đình- làng xã- Tổ quốc…Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình
thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [16, tr.56].
Nói đến văn hóa thung lũng, nghĩa là muốn nói đến mối quan hệ giữa tộc người
này với môi trường sinh sống là thung lũng lòng chảo. Điều này cũng nói lên khả năng
thích nghi của con người với tự nhiên bằng văn hóa của mình. Văn hóa thung lũng của
dân tộc Thái có các đặc trưng sau:
Cảnh quan địa lý là những thung lũng lòng chảo lọt vào vùng núi cao, rừng sâu,
dầy khe, vực, sông suối cắt xẻ địa hình. Khí hậu hai mùa rõ rệt.
Từ lâu dân tộc này đã tạo lập các cánh đồng lúa, đối tượng tác động chính của lao
động xã hội.
Vùng sườn dốc nằm ở vành đai của các lòng chảo thì làm nương theo các phương
pháp phát, đốt, chọc lỗ, tra hạt, có tác dụng bổ sung vào hệ thống trồng trọt. Đây là đặc
trưng chủ yếu nhất trong toàn bộ hệ thống văn hóa thung lũng của dân tộc.
Các nóc nhà cư trú thành từng cụm theo hình thức mật tập gọi là bản, được tự do
khai thác tự nhiên. Ngoài việc chính làm ruộng và làm nương, mỗi một hộ gia đình đều
tiến hành nuôi gia súc, gia cầm, làm các nghề thủ công, trong đó nổi lên là nghề trồng
bông dệt vải và tiến hành hái lượm, săn, thu bắt hải sản ở sông suối.
Các bản nằm trên đường vành đai thung lũng và nhiều bản hợp thành mường. Bản
là lãnh thổ cộng đồng tộc người, trong khi mường thì thường có nhiều cộng đồng tộc
người. Trong một mường, người Thái bao giờ cũng chiếm đa số và tiêu biểu. Giao thông vô cùng cách trở vì thung lũng nọ cách thung lũng kia là cả chiều dầy của
núi non, bị che chắn bởi núi cao, vực sâu, rừng dầy, suối khe
Đây là nền văn hóa tiền công nghiệp, được hình thành từ lao động tự cung tự cấp,
chưa đạt tới trình độ trong đó chứa đầy chất men cần thiết để kích thích sự phát triển xã
hội.
Tóm lại, người Thái là một trong những dân tộc có khả năng thổi vào tự nhiên một
sức sống mới khác với tự nó. Khả năng ấy chính là chiều dầy của văn hóa phát triển
thành truyền thống. Giờ đây, khi mà khoa học phát triển mạnh và cơ chế thị trường thì
liệu có thể giữ gìn và phát huy được dòng truyền thống này không? Điều này còn phụ
thuộc vào khả năng phát huy bản lĩnh và bản sắc dân tộc đã tạo ra được các mô hình thích
năm thứ tư phải phá rừng làm nương mới. Một gia đình nông dân Thái chỉ cần phá rừng
làm bốn đám nương luân chuyển đã khép kín trong chu kỳ 12 năm. Thời gian đó là
khoảng thời gian đủ cho rừng nhiệt đới tái sinh và người dân có thể trở lại canh tác trên
diện tích ban đầu. Trong cấu trúc văn hóa mưu sinh, hình thức canh tác nương rẫy chiếm
phần quan trọng sau làm ruộng, nằm trong lãnh thổ bản.
+ Công cụ lao động: Dân tộc Thái trên bước đường phát triển của mình không thể
không biết sử dụng các công cụ kim loại, trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt. Tuy
nhiên, trong chế tác những kim loại đó, họ chưa có kỹ thuật nấu, đúc, khoan mà chỉ biết
rèn, gò ở trình độ thô sơ, đơn giản. Như đã nói đến ở trên, trong tổng thể văn hóa thung
lũng với nền nông nghiệp phức hợp thì việc sản xuất các công cụ lao động tinh xảo, hầu
như chưa được chú ý lắm. Trong sáng tạo văn hóa trên cánh đồng lòng chảo và làm nương
rẫy trên các sườn dốc, dân tộc này chỉ cần có bốn công cụ kép có lưỡi kim loại là: Dao
(mịt hay pạ), rìu (khoan), cày (thay), và mai (lủa).
Từ rất lâu dân tộc này đã coi con dao là công cụ lao động quan trọng bậc nhất trong
việc tạo ra những giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa vật chất. Có nó, người ta lấy gỗ, tre
dựng nhà ở, tạo ra các công cụ và vật dụng cho sinh hoạt hàng ngày, dùng để chế biến
thức ăn, phát cây cỏ, làm nương rẫy Trong cung cách làm ăn ấy, dao được xem như
công cụ vạn năng hầu như lúc nào cũng được người chủ mài sắc.
Cày và Mai là công cụ không thể thiếu được trong sản xuất trên đồng áng của dân
tộc Thái. Theo truyền thống, cày và mai là công cụ lao động của nam giới vì cho rằng đây là công việc nặng nhọc, phụ nữ kiêng không sử dụng công cụ này. Ngoài dao, rìu
việc làm nương còn có các công cụ khác như chiếc cuốc, vách, thuổng. Công cụ để gieo
hạt là chiếc gậy vót nhọn để chọc lỗ tra hạt. Trong quá trình làm ruộng còn có chiếc bừa,
theo cách làm ăn xưa thường làm bừa răng gỗ. Công cụ thu hoạch gồm có: liềm, nhíp,
néo, ván đập lúa và quạt đan tay bằng tre, nứa
+ Nhà ở: Theo truyền thống thì người Thái ở nhà sàn làm bằng gỗ, tre, nứa…lợp
bằng cỏ tranh. Họ hiểu, không chỉ riêng dân tộc mình ở nhà sàn, nhưng ở trong tâm thức
vẫn coi đây như một trong những nét văn hóa của dân tộc mình. Điều này được biểu hiện
họp gia đình. Nửa này tính từ phía giữa gian nhà đổ về phía lan can hồi được gọi là
“quản”, quy định giành chủ yếu cho các sinh hoạt đàn ông. Một bên cầu thang dẫn lên
sàn phơi và nơi đặt nước dùng. Sàn phơi là nơi để thanh thiếu nữ ngồi kéo sợi, làm vải và
là nơi ngồi tâm tình cùng người yêu vào buổi tối. Qua cửa chính vào nội thất ở “phía
dưới” sẽ tiếp ngay với bếp ăn hàng ngày và đối diện về “phía trên” là nơi trang điểm và
sinh hoạt của phái đẹp - gọi là “cửa sổ gương”. Nửa này tính từ giữa nhà đổ về phía sàn
phơi gọi là “chan” quy định giành chủ yếu cho các sinh hoạt đàn bà, gắn với công việc
nội trợ.
Nếp nhà sàn còn là không gian chứa đựng văn hóa tâm linh. Theo cách tư duy
truyền thống này thì ngôi nhà sàn còn là nơi “trú ngụ của các linh hồn” mỗi thành viên
trong gia đình, được tập trung vào khái niệm linh hồn chủ nhà có vật tượng trưng là “cột
chủ áo” treo “thanh gươm thiêng của tông tộc”. Sự tín ngưỡng linh hồn gắn liền với nếp
nhà sàn, nó không những biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày mà còn sống động trong
văn học, âm nhạc, nhảy múa…Nếp nhà sàn còn mang ý niệm là “nơi chứa đựng cộng
đồng những người thuộc dòng máu cha” nên có tên “nhà tông - nhà cúng”. Riêng trong
nhà của những người thuộc dòng họ quý tộc thì có thêm gian thờ ở mé ngoài giáp lan can
phía quản, gọi là chong căm.
+ Vải vóc và các biểu hiện văn hóa: Theo truyền thống của dân tộc Thái, theo phân
công tự nhiên thì việc làm ra vải là lao động chủ yếu của nữ giới. Tập quán, xã hội Thái
đã rèn luyện cho người phụ nữ một tay nghề làm vải rất tài hoa, là con gái Thái thì không
được phép ngừng tay làm vải và phải đạt tới trình độ tinh xảo như câu tục ngữ: “xấp đôi
tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay đã thành hoa lá”. Nếp sống xưa cho rằng: Biết làm vải thì mới là phụ nữ, bằng không thì cho dù người phụ nữ đó dù có chăm chỉ mọi việc
khác đến đâu, cũng bị xã hội cho là chây lười, thường thì không ai muốn lấy làm vợ.
Người đàn bà sành nghề làm vải thì được bản mường tặng danh hiệu “Đàn bà tám cạnh
sắc nét”.
Trong văn hóa dân tộc Thái, vải vóc chứa đựng bốn khái niệm:
Thứ nhất, nó được coi như vật tượng trưng cho phái đẹp. Người Thái có câu thành ngữ
Thường ngày, mặc áo cánh mang tên “mở lòng” có đính cúc hoặc khuy tết bằng dây
vải, hai bên sườn giáp hông có đường xẻ để thân áo không bị bó sát vào người, ở đây
người ta đính thêm vật trang trí, gọi là “quả chỉ”. Mặt trước ta thấy túi ở mé dưới hai vạt.
Nếu là áo người Thái Đen thì có thể có hoặc không túi ngực bên trái, nhưng áo người
Thái Trắng ở phía Bắc thì phải có. Không phân biệt Thái Đen hay Thái Trắng, bộ quần áo
nam phục thường ngày thường là màu đen.
Lễ phục, kiểu quần không đổi, nhưng người ta mặc áo dài, cắt theo kiểu xẻ nách
tương tự như áo dài của người Kinh.
Nữ giới: Trang phục nữ Thái đượm vẻ đẹp bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này luôn
chiếm ưu thế rõ rệt trong các nét văn hóa độc đáo của dân tộc Thái. Nó không những đẹp
về kiểu dáng mà hơn hết, nó còn làm tăng vẻ đẹp trời ban cho người phái nữ: “Y phục
Thái nổi tiếng bởi sự hài hòa giữa cái che và cái phô ra, giữa cái giản dị mà không kém
phần lộng lẫy”[44, tr. 34]. “Và cũng nhờ lẽ đó mà cụm từ “cô gái Thái” đã trở thành ngôn
ngữ biểu tượng văn hóa Folklore Việt Nam” [51, tr. 145]. Đã là nữ giới đã trưởng thành
thì mặc váy khâu liền (váy ống) dài chấm gót chân, không có màu nào khác ngoài màu
đen. Mép dưới ở bên trong lòng váy thì được táp một dải vải bề rộng từ 3-4 cm, màu phổ
biến là đỏ, ngoài ra có thể là màu xanh, vàng, hoa nhưng tuyệt đối không phải là màu trắng.
Đầu váy có cạp, khâu bằng dải vải màu đỏ, trắng hoặc xanh, miễn không đồng màu đen với
thân váy để khi mặc dễ nhìn thấy phần bắt buộc phải dùng dải thắt lưng phủ ở bên ngoài. Dải
cạp là để gập mép sao cho váy bó sát thân eo, làm đường thắt lưng nổi cộm rõ vòng eo.
Khác với váy, áo phụ nữ có nhiều hình vẻ, màu sắc hơn. áo cổ truyền có hai kiểu:
Trong ngày thường cũng như khi cần thiết, người ta mặc một thứ áo tên là “áo cỏm”
(cỏm có nghĩa là cộc, cụt và ngắn). áo cỏm có áo ngắn tay và dài tay. Chữ “cỏm” ở đây
ứng với độ ngắn, dài trong số đo từ eo thắt dưới ngực. Nhìn vào chiếc áo cỏm, ta sẽ thấy