đề tài nghiên cứu sự biến đổi văn hóa ở vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số tây bắc hiện nay (qua thực tế các tỉnh sơn la, lai châu, điện biên) - Pdf 22


HC VIN CHNH TR - HNH CHNH QUC GIA H CH MINH

BO CO TNG HP KT QU NGHIấN CU
TI KHOA HC CP B NM 2010
M S B.10-19 sự biến đổi văn hoá ở vùng tái định c
của đồng bào dân tộc thiểu số tây bắc hiện nay
(QUA THC T CC TNH SN LA, LAI CHU, IN BIấN)

C quan ch trỡ : Vin Vn hoỏ v Phỏt trin
Ch nhim ti : TS. Nguyn Th Tuyn
Th ký ti : ThS. Lờ Xuõn Kiờu

8546
H NI - 2010 MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
1

tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay
111
3.3. Một số kiến nghị 120
KẾT LUẬN
129
TÀI LIỆU THAM KHẢO
131 DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN

1. ThS. Bùi Kim Chi
2. PGS, TS. Phạm Duy Đức
3. PGS, TS. Lê Quý Đức
4. PGS,TS. Nguyễn Thị Hương
5. TS. Lê Trung Kiên
6. ThS. Lê Xuân Kiêu - Thư ký khoa học
7. ThS. Nghiêm Thị Thu Nga
8. TS. Nguyễn Văn Thắng
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tái định cư là quá trình lập lại các khu định cư phục vụ cho di dân theo
mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự


2
tố kỹ thuật còn hạn chế, nhiều tập quán, hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại và duy trì
trong các bản làng nên việc thay đổi điều kiện, môi trường sống của người dân là
một vấn đề gây ảnh hưởng hết sức lớn đến đời sống của đồng bào.
Việc phải rời bỏ quê hương, bản quán truyền thống nhiều đờ
i để tạo quỹ
đất xây dựng các công trình thuỷ điện cho đất nước là một sự hy sinh lớn lao của
đồng bào các dân tộc. Vì vậy, Đảng, Nhà nước ta chủ trương không chỉ đền bù
thoả đáng những tài sản của đồng bào bị thiệt hại, mà còn phải đầu tư để "bảo
đảm người dân tái định cư ổn định chỗ ở, ổn định cuộc sống, có đ
iều kiện phát
triển sản xuất, nâng cao thu nhập, từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, cuộc sống
vật chất và văn hoá tốt hơn nơi ở cũ, ổn định lâu dài, bền vững góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc"
1
.

Thực tế cho thấy, cơ sở hạ tầng
gồm các hạng mục công trình giao thông, trường học, trạm xá, điện, nước sinh
hoạt… tại các khu tái định cư đang là những điều kiện mới làm thay đổi bộ mặt
các thôn bản, góp phần nâng cao dân trí, từng bước thúc đẩy kinh tế - xã hội khu
vực chịu ảnh hưởng của các công trình thuỷ điện, góp phần đảm bảo an ninh
chính trị
khu vực Tây Bắc.
Nhưng bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tái định cư ở khu
vực đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay còn bộc lộ không ít những
hạn chế đòi hỏi sự đầu tư, chăm lo, khắc phục lâu dài, đặc biệt là trong việc
xây dựng văn hoá
xã hội theo đặc thù từng tiểu vùng, từng nhóm dân tộc

triển, đảm bảo cho các vùng tái định cư có sự phát triển bền vững.
Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết nêu trên, đề tài Sự
biến đổi
văn hoá ở vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc hiện
nay (
qua thực tế các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên) được triển khai
nhằm bước đầu đánh giá những biến đổi văn hoá dưới tác động của quá trình
di dân, tái định cư đối với đồng bào thiểu số, từ đó góp phần đề xuất những
giải pháp thích hợp trong xây dựng và phát triển văn hoá xã hội vùng tái định
cư cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay.
2. Các văn bản pháp quy và tình hình nghiên c
ứu có liên quan đến
đề tài
Có thể nhận thấy một số nội dung có liên quan đến việc nghiên cứu của
đề tài như sau:
Thứ nhất là các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về lãnh đạo, quản lý
công tác xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ đổi mới ở nước ta, đó là:
Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X
của Đảng c
ộng sản Việt Nam; Đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm
4
Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII (1998) về xây dựng và phát triển
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; Chỉ thị số
39/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác văn
hoá - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Chương trình
phối hợp số 556/CTPHH /VHTT- UBDTMN ngày 21 tháng 2 năm 2000 của
Bộ Văn hoá thông tin và Uỷ ban dân tộc miền núi

5
dung tham khảo hữu ích tạo được cái nhìn tổng thể làm căn cứ cho những
đánh giá của đề tài bao gồm:
Công tác định canh, định cư đối với đồng bào các dân tộc thiểu số
miền núi phía Bắc của Nguyễn Đức Truyền,Viện Xã hội học (Viện KHXH
Việt Nam - http://www.tapchicongsan.org.vn/); Đánh giá của Đoàn giám sát
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về di dân, tái định cư công trình Thuỷ
điện
Sơn La: đảm bảo công bằng, dân chủ, công khai (http://www.cpv.org.vn/);
Di dân 30 năm vẫn chưa xong của Hà Yên (http://www.vietbao.vn/Xa-hoi/);
Di dân tái định cư công trình thuỷ điên Sơn La, một số vấn đề cần quan tâm
của Trần Lê Trân (http://www. nea.gov.vn/tạp chi/toan văn/); Nghiên cứu
một số mô hình tái định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số liên quan đến
các công trình thuỷ điện của Nguyễn Lâm Thành (Viện Dân tộ
c, Hà Nội
2004); Vấn đề tái định cư cho người dân vùng lòng hồ thuỷ điện nhìn từ góc
độ xã hội học quản lý của Tống Văn Chung (Tạp chí Quản lý nhà nước số 9
năm 2005); Tái định cư cho khu vực lòng hồ thuỷ điện - Công tác quy hoạch
và những vấn đề kinh tế - xã hội của Đỗ Đức Viêm; Một số kinh nghiệm từ
hiện trạng qui hoạ
ch, thiết kế xây dựng nhà ở tái định cư khu vực miền núi
của Nguyễn Trọng Khang, Lê Thuý Hà; Tác động của tái định cư đến thiết
kế không gian ở của Nguyễn Thị Thanh Mai; Tái định cư trong các dự án
phát triển: Chính sách và thực tiễn của Phạm Mộng Hoa, Lâm Mai Lan
(Nxb Khoa học xã hội, 2000)
Thứ tư là những nghiên cứu chuyên sâu về biến đổi văn hoá và biến đổi
văn hoá sau di dân tái định c
ư có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu
của đề tài như:
Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển

hoá: nhà cửa, y phục, trang sức, văn hoá vật chất - lễ hội, văn hoá phi vật
thể - quan hệ dòng họ, gia đình văn hoá và quan hệ xã hội; đề xuất một số
giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy các giá trị
văn hoá truyền thống tốt
đẹp của các dân tộc thiểu số.
Nghiên cứu một số mô hình tái định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số
liên quan đến các công trình thuỷ điện do Ths. Nguyễn Lâm Thành làm Chủ
nhiệm đề tài (Viện Dân tộc, Hà Nội, 2004) đã đánh giá về vấn đề tái định cư ở
các công trình thuỷ điện, về chính sách của Đảng và Nhà nước ta và khuyến
ngh
ị các giải pháp trong việc triển khai công tác tái định cư ở các công trình
thuỷ điện;
7
Một số giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hoá truyền
thống vùng dân tộc thiểu số do Th.s Hoàng Công Dũng làm chủ nhiệm đề tài
(Viện Dân tộc, 2004) đã cho thấy một số vấn đề cơ bản liên quan đến phát
triển du lịch và bảo tồn văn hoá truyền thống; Nêu thực trạng hoạt động du
lịch trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và v
ấn đề bảo tồn văn hoá dân tộc; Đề
xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hoá truyền
thống các dân tộc thiểu số.
Lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc nước ta hiện nay do
PGS,TS. Đỗ Đình Hãng làm chủ nhiệm đề tài (Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005) đã đề cậ
p về không gian văn hoá của người Thái
ở Tây Bắc nước ta, đánh giá thực trạng lễ hội truyền thống của người Thái ở
Tây Bắc nước ta và đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị

ơ chế, chính sách đáp ứng do CN. Nguyễn Như Hải làm
Chủ nhiệm đề tài (Sở KHCN Sơn La, 2006) đã đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội
Sơn La trong thời kỳ 1996-2003, phân tích nguyên nhân ảnh hưởng tác động chủ
yếu đối với sự phát triển và mặt hạn chế về kinh tế-xã hội của tỉnh; Dự báo những
biến động về kinh tế - xã hội nhân văn trong mọi l
ĩnh vực sản xuất và đời sống dân
cư khi xây dựng thuỷ điện Sơn La và quá trình hội nhập; Đề xuất những giải pháp
cơ chế nhằm đưa kinh tế - xã hội Sơn La tiếp tục phát triển đi lên.
Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ tổ chức lãnh thổ và đề xuất các
giải pháp phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Bắc dưới tác động của công trình
thu
ỷ điện Sơn La do TS. Nguyễn Bá Ân làm chủ nhiệm đề tài (Viện Chiến
lược phát triển - Bộ Kế hoạch Đầu tư, Hà Nội, 2007) đã đưa ra một số vấn đề
lý luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế-xã hội vùng Tây Bắc; Phân tích, đánh giá
các yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường
vùng Tây Bắc; Đề xuất phương hướng tổ chức lãnh thổ
vùng Tây Bắc dưới
tác động của công trình thuỷ điện Sơn La, các giải pháp phát triển vùng Tây
Bắc theo hướng phát triển bền vững dưới tác động của thuỷ điện Sơn La.
Sự biến đổi các giá trị văn hoá trong quá trình phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta - Đề tài cấp Bộ do PGS,TS.
Nguyễn Duy Bắc làm chủ nhiệm đề tài (H
ọc viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2007) đã đề cập một số vấn đề lý luận về văn hoá, giá trị văn
hoá, biến đổi giá trị văn hoá; nêu sự vận động của các giá trị văn hoá ở nước ta
thời kỳ trước đổi mới; phân tích sự biến đổi giá trị nhân cách văn hoá, giá trị
9

ử, quán triệt đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, đồng thời vận
dụng tổng hợp các phương pháp sau:
- Nghiên cứu lý thuyết: Đề tài nghiên cứu những cơ sở lý luận khoa học
về biến đổi văn hoá nhằm tạo cơ sở cho việc phân tích, đánh giá trong nhận
10
diện biến đổi văn hóa trong điều kiện tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu
số ở Tây Bắc hiện nay.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Áp dụng trong phân tích làm rõ
những biến đổi văn hoá dưới sự tác động của những biến đổi trong đời sống
chính trị - kinh tế - xã hội vùng tái định cư ở Tây Bắc.
- Phương pháp thống kê so sánh: Đề tài s
ử dụng các số liệu thống kê để
hệ thống hóa, khái quát hóa, phân loại, so sánh nhằm đưa ra những kết luận về
thực trạng biến đổi văn hóa vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở
Tây Bắc hiện nay.
- Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài, trên cơ
sở nghiên cứu thực địa, thực hiện quan sát, phỏng vấ
n, ghi chép, chụp ảnh,
ghi hình, ghi âm để nắm bắt về đời sống văn hóa của các dân tộc thiểu số
vùng tái định cư ở Tây Bắc để làm căn cứ cho việc nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp chuyên gia: Trên cơ sở các ý kiến phân tích, đánh giá
của các chuyên gia thông qua các hội thảo và tọa đàm khoa học sẽ được tổ
chức trong quá trình nghiên cứu để điều chỉnh, thẩm định nội dung nghiên
cứu của đề tài.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Xác định rõ quan niệm về văn hóa, biến đổi văn hóa
- Chỉ ra những biến đổi tích cực và cả những nguy cơ cần được xử lý

ển khai công việc nghiên cứu đều phải giới thuyết quan niệm của mình
về văn hoá. Từ đó, khái niệm văn hoá trở nên ngày càng đa nghĩa, số lượng
định nghĩa văn hoá tăng và không dừng lại ở những con số đã được thống
kê. Nói như Giăc-cơ Đê-ri-đa (Jaques Dérrida), “văn hoá chính là cái tên
mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với những ai ngày nay đang tìm
cách suy nghĩ về nó”
2
.
Trong nghiên cứu về văn hoá, lâu nay nhiều nhà khoa học thường xuất
phát từ định nghĩa văn hoá của nhà dân tộc học người Anh E.B.Tylor (1832 -
1917) trong công trình Văn hoá nguyên thuỷ (1871): “Văn hoá hoặc văn minh
hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là một phức thể bao gồm: hiểu biết, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những khả năng, tập
quán khác mà con người có được với tư cách là mộ
t thành viên xã hội”. Đây
là một định nghĩa do E.B.Taylor đặt ra để tiện cho việc miêu tả đời sống văn 2
Dẫn theo F.May-ơ, Ban đầu và cuối cùng là văn hoá, Tạp chí Người đưa tin UNESCO, số 10/1993, tr.35
12
hoá của các tộc người, sống trong trạng thái của xã hội truyền thống (tiền
công nghiệp).
Một quan niệm khác cho rằng văn hoá là toàn bộ những gì do con
người làm ra, là “thiên nhiên thứ hai” do nhân tạo trên mọi lĩnh vực của đời
sống, gồm văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần
3
3
Ý của nhà triết học Đức J.G.Herder, sau được M.Gorky nhắc lại
4
Dẫn theo Phạm Duy Đức (chủ biên), Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, Nxb CTQG,
H.2008, tr. 28
5
Dẫn theo Phạm Duy Đức (chủ biên), Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, Nxb CTQG,
H.2008, tr.29
13
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Nhật ký trong tù (1943), ở mục đọc sách
đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức s
ử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”
6
.
Tại hội nghị quốc tế về văn hóa do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7 đến
6/8 năm 1982 ở Mêhicô, với sự tham dự của đại diện hơn 100 quốc gia, đã
có khoảng 200 định nghĩa được đưa ra và bản tuyên bố chung của Hội nghị
khẳng định: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá là tổng thể những nét riêng
biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyế
t định tính cách của
một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ


Như vậy, mặc dù có nhiều cách hiểu về văn hóa, nhiều định nghĩa về
văn hóa do các cách tiếp cận khác nhau, nhưng rõ ràng, các quan niệm về văn
hóa đều đi đến một điểm chung là văn hóa gắn với con người, được đúc kết
thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hoá
và hệ ứng xử văn hoá của cộng đồ
ng người.
Quan niệm văn hóa của đề tài
Thứ nhất, văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra nhằm mục đích phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của con người.
Thứ hai, văn hóa có mặt trong toàn bộ hoạt động sống của con người,
thể hiện trong mọi lĩnh vực thuộc về con người như ngôn ngữ, đạo đứ
c, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ phục vụ đời sống
sinh hoạt, các phương thức sản xuất, cách thức tổ chức, quản lý đời sống cộng
đồng xã hội nhằm bảo đảm sự sinh tồn và phát triển cho cộng đồng ấy.
Thứ ba, về bản chất, dù được thể hiện dưới dạng vật chất - vật thể hóa
trong các vật dụng hay các khí cụ, các công trình kiến trúc, nhà cửa, trang
phục, tiện nghi… hay dưới dạng tinh thần như các nghi lễ, phong tục, tập
quán, tín ngưỡng, lý thuyết khoa học… thì thực chất văn hóa vẫn là hoạt
động tinh thần, vẫn thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội và chịu sự quy
định của điều kiện kinh tế - xã hội.
Nói cách khác, văn hóa là sản phẩm trực tiếp của hoạ
t động tinh thần,
của ý thức con người thuộc một cộng đồng xã hội nhất định. Trong bản chất,
văn hóa là hệ giá trị nhân bản, là bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội, là
gương mặt bản sắc của một cộng đồng người. Do vậy, sự tồn tại và phát
triển của một nền văn hóa chịu sự quy định của một c
ơ sở kinh tế - xã hội
nhất định. Cơ sở kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố như phương thức sản

ng mưu sinh (kiếm
sống), thông qua việc tìm kiếm, khai thác, thu lượm các dạng vật thể trong
thiên nhiên, đáp ứng các nhu cầu trong đời sống vật chất của con người, được
cho là môi trường nhân tạo - kết quả hoạt động vật chất của con người.
Các vật thể liên quan đến đời sống vật chất gồm có:
+ Công cụ sản xuất: công cụ làm ruộng, săn bắt, hái lượm, đánh cá,
chăn nuôi, v.v…
+ Vũ khí để bảo vệ cộng đồng người, chống thú dữ và các kẻ thù khác
+ Phương tiện sinh hoạt liên quan đến các việc: ăn uống, trang phục,
nhà ở, phương tiện đi lại.
16
Văn hóa tinh thần chỉ các hoạt động nhằm bồi dưỡng và phát triển đời
sống tinh thần của con người. Liên quan đến hoạt động tinh thần, gồm có: tín
ngưỡng - tôn giáo, thờ cúng, lễ hội, các sinh hoạt văn nghệ dân gian, giáo dục
và các hình thức vui chơi - giải trí khác.
Văn hóa xã hội chỉ những sản phẩm do con người đặt ra, bảo đảm an
sinh xã hội, phát triển bền vững. Gồm có: các tổ
chức xã hội, luật tục, hương
ước, tổ chức quản lý xã hội, v.v…
Sự phân chia văn hóa thành ba phạm trù lớn như trên là phù hợp với
ngành Dân tộc học, có nhiệm vụ miêu tả văn hóa tộc người - một hình thái
văn hóa còn đang ở dạng chưa phát triển.
Khi xã hội phát triển cao hơn, văn hóa trở nên phong phú và rất đa
dạng. Văn hóa các dân tộc đã phát triển trong xã hội công nghiệp (tức là xã
h
ội đã phân tầng sâu sắc, trong xã hội đã xuất hiện nhà nước, các phương tiện
truyền thông đại chúng, phục vụ công việc quản lý xã hội) là đối tượng

thần bao gồm các thành tố hệ tư tưởng, đạo đức, giao tiếp tinh thần, sáng tạo
ngh
ệ thuật và tôn giáo. Văn hóa tinh thần phát triển như là “khía cạnh lý
tưởng của hoạt động sản xuất vật chất. Tuy vậy, trong các điều kiện cụ thể,
từng được khách thể hóa và được củng cố trong các cơ chế của ký ức xã hội,
văn hóa tinh thần giống như khuôn mẫu tri giác và tư duy, tâm thức xã hội có
thể đóng vai trò chủ đạo trong các giai đoạn phát triển xã hội khác nhau”
9
.
Nếu xuất phát từ chỗ cho rằng; hoạt động xã hội có cấu trúc phức hợp, bao
hàm trong đó bốn dạng hoạt động: cải tạo, nhận thức, định hướng giá trị, giao
tiếp (truyền thống), thì trong văn hóa tinh thần có thể phân chia thành 4 lĩnh
vực: (1) Lĩnh vực hoạt động dự phóng, biểu thị ở tính chủ động (tích cực)
sáng tạo của sức tưởng tượng con ngườ
i; (2) Hoạt động nhận thức (khoa học,
giáo dục) tạo ra những tri thức về tự nhiên, xã hội, con người và thế giới nội
tâm của nó; (3) Hoạt động định hướng giá trị cuộc sống gồm 3 tiểu hệ thống
là: Văn hóa đạo đức, Văn hóa nghệ thuật, Văn hóa tôn giáo; (4)Hoạt động
giao tiếp tinh thần.
Văn hóa xã hội là quá trình sản xuất, phát triển và hoàn thiện các điều
kiện xã hội phục vụ cuộc sống con người. Dạng văn hóa này đặc trưng bởi các
hoạt động của nhà nước, của các thiết chế xã hội khác, của xã hội công dân,
bao gồm toàn bộ tính đa dạng của các cơ quan và các hành động thực tiễn,
chúng tạo ra thể chế để duy trì hiện thực cho đời sống xã hội. Thực tiễn xã hội 9
GS.TS. Đơ-ra-đrơ(Chủ biên) , Văn hóa học, Nxb Phượng Hoàng, Rotxtop 2007 ( GS Hoàng Vinh dịch), tr. 213
ị phản đối
rộng khắp trong giới nghiên cứu văn hóa và đây cũng là tiền đề cho nhiều lý
thuyết mới về biến đổi văn hóa ra đời và phát triển ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX. 10
A.A Belik, Văn hóa học Những lý thuyết nhân học văn hóa, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, H.2000, tr 53
19
Truyền bá luận như một phương thức nghiên cứu văn hóa xuất hiện vào
cuối thế kỷ XIX. Khái niệm truyền bá, tiếp nhận từ vật lý học, có nghĩa là sự
lan tỏa, sự loang ra, sự thẩm thấu. Trong nghiên cứu văn hóa, khái niệm này
có nghĩa là truyền bá các hiện tượng văn hóa thông qua những cuộc tiếp xúc
giữa các dân tộc bằng buôn bán, di dân, xâm lược. Các đại biểu của xu hướng
này cho rằng, truyền bá, tiếp xúc, đụng chạm, hấp thụ, thiên di văn hóa là nội
dung chủ yếu của qúa trình lịch sử. Phân tích những đặc điểm về không gian,
thời gian của các nền văn hóa, nhằm cụ thể hóa đối tượng (khách thể) nghiên
cứu khi đối chiếu với thuyết tiến hóa, là một đặc điểm quan trọng của phương
pháp tiếp cận nghiên cứu thuộc xu hướng này. Các nhà truyền bá lu
ận đã đối
lập tư tưởng về tính quyết định luận địa lý với tư tưởng Tiến hóa luận, chủ
trương có sự tự phát và phát triển những hiện tượng văn hóa tương tự trong
điều kiện giống nhau. Truyền bá luận đã phổ biến ở các nước Âu - Mỹ. Ở
Đức, Ph.Ratxen (1844-1904) với các công trình như Địa lý học nhân loại,
Nhập môn dân tộc họ
c đã đưa ra những kết luận về sự truyền bá các nền văn
hóa trong không gian, về sự sinh thành và nguồn gốc của chúng. Đối với

của mỗi cá nhân trong xã hội và đối với thiên nhiên. Trong quá trình vận động
phát triển của loài người, văn hóa biến động và thay đổi không ngừng. Có
nhiều giá trị cũ được thay bằng các giá trị mới. Nhưng cũng có những giá trị
tồn tại và phát triển lâu dài cùng thời gian và tạo nên bản sắc của mỗi cộng
đồng, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
Phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa quan trọng khác trong nhân học
Bắc Mỹ là về vấn đề sinh thái văn hóa. Phương pháp này đầu tiên do Julian
Steward (1955) khởi xướng và có ảnh hưởng lớn trong những năm 1960.
Steward luôn phê phán trào lưu tán xạ văn hóa, ông cho rằng biến đổi có thể
được hiểu là một sản phẩm ngẫu nhiên của lịch sử hay sự kiện tình cờ do tiếp
xúc giữa các nền văn hóa với nhau. Ngoài ra, Steward cũng tìm cách ch
ứng
minh rằng biến đổi văn hóa có thể được giải thích chủ yếu xét về sự thích
nghi tiến bộ của một nền văn hóa nào đó với môi trường của mình, kết quả là
định hướng thay đổi có thể dự đoán được: căn cứ vào cơ sở tồn tại của một xã
hội, có thể dự đoán được xã hội sẽ thay đổi như thế nào theo th
ời gian để
thích nghi với những điều kiện môi trường nào đó. Các nhà sinh thái học văn
hóa có xu hướng cho rằng tất cả các dân tộc sẽ có phản ứng giống nhau trong
21
những hoàn cảnh tương tự nhau và những đặc điểm như các giá trị và đức tin
văn hóa không đóng một vai trò quan trọng trong việc chi phối sự biến đổi
văn hóa. Quan điểm lựa chọn là môi trường được điều chỉnh về văn hóa: mọi
người không hiểu về thế giới theo cách trực tiếp mà chỉ thông qua các hệ
thống tư duy văn hóa, kết qu
ả là các dân tộc với các quan niệm khác nhau về
thế giới sẽ thích nghi với thế giới theo các cách khác nhau. Như vậy, với quan

hóa, mặc dù kinh tế phát triển có mang đến sự biến đổi thì văn hóa truyền
thống tiếp tục thể hiện những dấu ấn bền vững trong đời sống xã hội. Như
vậy, sự biến đổi văn hóa trong xã hội hiện đại hóa là những quá trình đa
chiều, đa dạng, phụ thuộc vào sự lựa chọn của từng xã hội cụ thể vớ
i sự chi
phối của văn hóa truyền thống.
Ở nước ta, trong thời gian gần đây đã xuất hiện những công trình
nghiên cứu về biến đổi văn hóa. PGS,TS. Nguyễn Duy Bắc trong đề tài cấp
Bộ: “Sự biến đổi các giá trị văn hoá ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2007) đã cho
rằng: biến đổi vă
n hoá chính là quá trình thay đổi các phương thức sản xuất,
bảo quản, truyền bá… các sản phẩm và giá trị văn hoá phù hợp với những
biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội ở những thời kỳ nhất định trong sự phát
triển của các quốc gia dân tộc và nhân loại. Sự biến đổi văn hoá là hiện tượng
phổ biến nhưng nó diễn ra không giống nhau ở các dân tộc. Sự biến
đổi văn
hoá thường là một bước tiến bộ trong sự phát triển dân tộc và nhân loại. Bốn
nhân tố tác động đến biến đổi văn hóa được đề cập trong công trình này bao
gồm: Thứ nhất là sự vận động và phát triển của đời sống kinh tế - xã hội; Thứ
hai là nhân tố tư tưởng, chính trị; Thứ ba là kỹ thuật và công nghệ mới; Thứ
tư là giao lưu văn hoá.
Như
vậy, dù có nhiều quan điểm, những sự phân tích khác nhau về biến
đổi văn hóa nhưng rõ ràng, các nhà nghiên cứu thống nhất ở luận điểm cho
rằng sự biến đổi văn hóa là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội
loài người, quá trình toàn cầu hóa và sự biến đổi ấy đã và đang diễn ra rất đa
dạng, ở nhiều cấp độ và theo nhiều chiều hướng khác nhau.
Quan ni
ệm về biến đổi văn hóa của đề tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status