BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
----------------------NGUYỄN VĂN QUYẾT
Nguyễn Văn Quyết
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA CỦA CÁC
CỘNG ĐỒNG NÔNG NGHIỆP-NÔNG THÔN TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
(Thông qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Nai)
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62 31 70 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội, 2013
1
Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Việt Bích
PGS.TS. Lương Hồng Quang: P
PgsPPGSp. ĐẶNG VIỆT BÍCPGS.TS. LƯƠNG HỒNG QUANG
Phản biện 1: PGS.TS. Trần Văn Ánh
Cùng với các chuyển đổi kinh tế xã hội là một phần của những biến đổi văn
hoá của các cộng đồng nông thôn khi bị lấy đất làm KCN. Đó là sự thay đổi trong
lối sống, từ nếp ăn, ở, mặc cho đến các sinh hoạt văn hoá như hưởng thụ văn hoá,
sáng tạo văn hoá, rồi đến tư duy, hệ giá trị, chuẩn mực, các phong tục tập quán như
tang ma, cưới xin, giỗ chạp, hệ thống niềm tin và tôn giáo… Một quá trình chuyển
đổi cơ cấu văn hóa tinh thần đang diễn ra do các biến đổi kinh tế xã hội, với sự
xuất hiện của các KCN.
Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu thực trạng đời sống của các cộng đồng
nông nghiệp-nông thôn khi chuyển sang các cộng đồng có tính chất công nghiệp,
đô thị, sẽ có một ý nghĩa góp phần nhận diện thực trạng đời sống văn hoá nước ta
hiện nay trong bối cảnh đất nước có những chuyển đổi mạnh mẽ về chính trị, kinh
tế và xã hội, đồng thời góp phần vào việc đưa ra các luận cứ khoa học cho việc xây
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cho
việc đưa ra các căn cứ thực tiễn và phát triển chính sách cho ngành văn hoá ở trung
ương và các tỉnh.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận án lấy thực trạng biến đổi trong đời sống văn hóa của các cộng đồng dân cư
vốn là các cộng đồng nông nghiệp – nông thôn đang chuyển thành các cộng đồng
mang tính đô thị - công nghiệp do những tác động của quá trình xây dựng các KCN,
làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu của mình.
3
Phạm vi nghiên cứu của luận án là lấy tỉnh Đồng Nai như một trường hợp nghiên
cứu. Thời gian nghiên cứu là từ 1990 trở lại đây, sau khi Luật Đầu tư nước ngoài
được ban hành 12/1987 và đi vào thực hiện.
Luận án tập trung nghiên cứu các xã Hiệp Phước và Long Thọ (thành phố Nhơn
Trạch), Thạnh Phú (huyện Vĩnh Cửu), với các mức độ bị ảnh hưởng khác nhau.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
khảo hữu ích cho luận án trong thời điểm hiện nay khi muốn mở rộng diện khảo sát
và nghiên cứu. Năm 2010, công trình hợp tác giữa Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt
Nam và Viện Văn hóa và Du lịch Hàn Quốc về Nghiên cứu các giải pháp nhằm giảm
thiểu xung đột giữa chủ Hàn Quốc và công nhân Việt Nam tại Việt Nam, cũng đã lấy
địa bàn Đồng Nai làm đối tượng khảo sát, đã cho thấy một phần đời sống văn hóa
tinh thần của công nhân KCN sinh sống trong các cộng đồng ven KCN. Đó chưa phải
là các nghiên cứu trực tiếp về các cộng đồng nông nghiệp – nông dân khi các KCN
hình thành trên mảnh đất của mình mà là nghiên cứu trực tiếp vào người công nhân
các KCN.
Các Hội thảo “Xây dựng đời sống văn hóa công nhân lao động ở các KCN đến
2015” của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
Hội thảo: “Xây dựng môi trường sống cho công nhân xung quanh các KCN tại Việt
Nam” do Bộ Kế hoạch Đầu tư phối hợp cùng với Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam
tổ chức năm 2010; Hội thảo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư “Vấn đề lao động và điều
kiện sống của công nhân KCN, khu kỹ thuật” tổ chức năm 2011 trong khuôn khổ
chương trình tổng kết 20 năm phát triển KCN, cho thấy tầm quan trọng của công tác
xấy dựng đời sống văn hóa đối với việc phát triển các KCN cũng như gắn với các
cộng đồng dân cư xung quanh KCN
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung vào việc khảo sát những xu hướng biến đổi trong đời sống văn
hoá các cộng đồng dân cư nông nghiệp có liên quan tới quá trình phát triển các KCN
ở tỉnh Đồng Nai, từ đây, đề ra các căn cứ khoa học cho việc xây dựng và quản lý văn
hoá cộng đồng, góp phần vào sự phát triển chung của KCN cũng như các cộng đồng có
liên quan tới KCN.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
5
-
sống mới.
Đặc biệt luận án đã tiếp thu quan điểm lý thuyết của Nguyễn Thị Phương Châm
trong công trình Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay, của Lương Hồng Quang
trong công trình nghiên cứu Câu chuyện làng Giang, gắn biến đổi văn hoá ở làng với
quá trình toàn cầu hoá và HĐH, trong đó biến đổi văn hoá được hiểu là quá trình vận
động của tất cả các xã hội, các khía cạnh của đời sống xã hội, với các va đập, mâu
thuẫn và tiến triển rất đa dạng và phức tạp, không đơn tuyến và một chiều.
6
Phương pháp nghiên cứu của luận án bao gồm: Thống kê, Điều tra xã hội học,
Nghiên cứu trường hợp, Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, Quan sát thâm nhập,
Phương pháp chuyên gia.
6.
Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu (16 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (14 trang)
và Phụ lục (40 trang), Luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Phát triển các KCN trong tiến trình CNH, HĐH ở tỉnh Đồng Nai (45 trang).
Chương 2: Các biến đổi trong đời sống văn hoá của các cộng đồng dân cư KCN
(47 trang).
Chương 3: Phương hướng, giải pháp về xây dựng đời sống văn hóa cho các cộng
đồng KCN (33 trang).
7
Chương 1
phục vụ các KCN tăng gấp đôi (xã Hiệp Phước và Long Thọ), thậm chí xã Thạnh Phú
tăng gấp 4 lần; (2) Sự thay đổi về kết cấu không gian công đồng, từ một không gian
của cộng đồng nông nghiệp thành một kiểu không gian mang tính chuyển đổi, với các
kiểu không gian phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh sống kiểu đô thị, thay vì chỉ có
các không gian mang chức năng phục vụ nông nghiệp như xưa; (3) Là quá trình nhập
cư mạnh của người dân nông thôn các tỉnh khác vào sinh sống và làm ăn ở các xã này
với nhiều hình thức khác nhau, họ sinh sống xen cùng với dân cư tại chỗ; (4) Chuyển
dịch cơ cấu lao động – nghề nghiệp, trong đó xu hướng nổi bật nhất là dân tại chỗ đa
phần chuyển sang làm công nhân KCN, một bộ phận nhỏ buôn bán dịch vụ; (5) Mức
sống tăng chủ yếu từ các khoản thu ngoài nông nghiệp, kèm theo đó là sự cải thiện
điều kiện sống, từ nhà ở, tiện nghi sinh hoạt đến các tiêu dùng phục vụ nhu cầu vật
chất.
Tiểu kết
Phát triển các KCN tập trung là một phương thức CNH đất nước, bằng việc thu
hút các nguồn đầu tư nước ngoài và trong nước cho các dự án phát triển sản xuất.
Chính chủ trương này làm cho các khu vực nông thôn có những thời cơ lớn trong tiến
trình phát triển, CNH, HĐH ngay chính mảnh đất của mình trong bối cảnh tiến trình
HĐH không có những nguồn lực tại chỗ. Đó là một thực tiễn khá phức tạp, không
đơn giản xuất phát từ chính sách phát triển công nghiệp dựa vào nhân công giá rẻ.
Ba xã được khảo sát là 3 xã nằm trên hai huyện có tốc độ phát triển KCN nhanh
và mạnh nhất tỉnh. Trong đó Hiệp Phước là xã có tốc độ phát triển cao nhất, kế đến là
Thạnh Phú và Long Thọ. Hiệp Phước nẳm tiếp giáp thành phố Nhơn Trạch, nên cũng
được “hưởng lợi” từ quá trình đô thị hóa này, bên cạnh quá trình đô thị hóa tại chỗ
đang diễn ra mạnh mẽ. Thạnh Phú phát triển được là nhờ ngay các công ty của KCN
Thạnh Phú thuộc xã, với lượng công nhân đông, trong khi đó Long Thọ phát triển
chậm hơn, mặc dù lượng đất đai lấy cho KCN nhiều nhưng một số chưa xây dựng.
9
10
chùa như ở phía Bắc. Dân nhập cư mang vào đây một số vấn hầu đồng, được cư dân
tại chỗ chấp nhận.
2.1.3. Sinh hoạt tôn giáo của nhóm cư dân đạo Cao Đài
Tại Thánh thất Ngọc Linh ở xã Hiệp Phước, các hoạt động của người dân theo
đạo Cao Đài được tổ chức một cách quy củ, có tổ chức, nghiêm cẩn theo đúng quy
định về mặt lễ tiết.
Tín đồ theo đạo Cao Đài ở Hiệp Phước sống hiền hòa, ít có những tệ nạn xã hội,
ứng xử và giao tiếp theo khuôn mẫu truyền thống, hiếu lễ với ông bà cha mẹ, ít tranh
cãi, tôn trọng thứ bậc trong gia đình và dòng họ. Dân nhập cư không theo đạo Cao
Đài.
2.1.4. Sinh hoạt tôn giáo của nhóm cư dân đạo Thiên Chúa
Các cư dân theo đạo Thiên chúa ở 3 xã thuộc giáo phận Xuân Lộc với hơn
700.000 người của 12 giáo hạt. Thành phố Biên Hòa có Giáo hạt Biên Hòa, với 13
giáo xứ, 49.429 giáo dân. Cộng đồng Thiên chúa giáo được tổ chức tốt về sinh hoạt
nên ở đây ta thấy các dáng dấp của một xã hội văn minh đô thị.
Sinh hoạt tôn giáo của giáo dân là công nhân, họ có thể đề nghị công ty
cho về sớm hơn, vào bất cứ Giáo xứ nào để tham dự lễ cho kịp. Về phía Giáo xứ, họ
cũng chấp nhận con chiên nơi khác đến được dự lễ ở các nhà thờ khác miễn là họ có
giấy giới thiệu của giáo xứ nơi họ sinh ra, được cha nơi giáo xứ mới tiếp nhận. Khi
có việc hôn nhân, tang ma, họ phải học các quy định của đạo về hôn nhân gia đình,
về trách nhiệm của vợ, chồng, với gia đình, được làm lễ tại nhà thờ bởi cha xứ nơi họ
định cư.
2.2. Các nghi lễ tại gia đình
2.2.1. Tang ma
Ngày nay, nhiều nghi lễ đã được giản tiện và có thay đổi, thêm, bớt cho phù hợp
với từng hoàn cảnh, điều kiện của từng gia đình, từng vùng, nhất là ở vùng thành thị.
Các nghi thức từ nhập quan, lễ thành phục, cúng cơm, động quan, cung thổ thần, hạ
Luận án đã nghiên cứu riêng nhu cầu hưởng thụ văn hóa trong đời sống hàng
ngày của nhóm công nhân và nhóm cư dân tại chỗ.
Do trong các khu nhà trọ không có các khoảng không gian công cộng để tổ chức
các hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí, cộng với thời gian hạn hẹp nên họ
thường ít tổ chức được các hoạt động vui chơi giải trí có ý nghĩa tích cực. Hoạt động
12
văn hoá thường xuyên nhất là nghe đài, xem vô tuyến, chơi bài, nhậu, nghĩa là các
hoạt động có tính thụ động và ít tính sáng tạo. Tổ chức sinh nhật cũng đôi nhưng
nặng về ý nghĩa ăn nhậu hơn là ý nghĩa văn hoá. Việc đến các thiết chế văn hoá là
hầu như không có.
Các dịp cưới hỏi, giỗ chạp là những dịp để nhóm công nhân có một sự liên hệ với
truyền thống, nghĩa là có cơ hội nghĩ tới gia đình gốc và các mối liên hệ với cội
nguồn nhưng họ hầu như không có thời gian, điều kiện tài chính để về quê hay tổ
chức các lễ trọng này tại các nhà trọ.
Tiểu kết
Các biến đổi trong đời sống văn hóa của các cộng đồng dân cư KCN ở nói chung,
3 xã được khảo sát sâu nói riêng đã phản ánh những động thái phát triển của tỉnh và
vùng Đông Nam Bộ từ thập niên 90 cho đến nay, đó là sự phát triển các KCN như
một yếu tố động lực phát triển vùng và mỗi cộng đồng dân cư. Đi kèm với tiến trình
này là làn sóng di dân và sự biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội của chính mỗi cộng đồng
theo hướng ĐTH, HĐH, với các chỉ báo thay đổi về cơ cấu kinh tế; cơ cấu dân số; kết
cấu cơ sở hạ tầng làm thay đổi kết cấu không gian làng quê cổ truyền; gia tăng mức
thu nhập từ công nghiệp - dịch vụ, thay vì chủ yếu từ nông nghiệp như trước những
năm 2000; hiện đại hóa nhà ở và trang thiết bị, tiện nghi sinh hoạt; di động xã hội lớn
hơn bởi quá trình chuyển dịch nghề nghiệp diễn ra nhanh và mạnh hơn trước. Các
quá trình này đặt một nền tảng mới của những biến đổi văn hóa tinh thần của cư dân
các xã bị lấy đất xây dựng KCN.
thành hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc
gia, đồng thời hình thành các KCN có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển công
nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công
nghiệp trong GDP thấp.
Ở bình diện tỉnh, Nghị quyết Đại hội đảng bộ lần thứ IX tỉnh Đồng Nai năm 2010
đã xác định các nhiệm vụ và giải pháp lớn: Phát triển văn hóa nông thôn theo phương
châm phát huy vai trò chủ động của cộng đồng dân cư địa phương là chính. Đề án:
Phát triển văn hóa nông thôn tỉnh Đồng Nai đến năm 2015, định hướng đến năm
2020, nhấn mạnh: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực
lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị,
đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ
môi trường sinh thái của đất nước.
Thục tiễn cho thấy cần phải xây dựng các quan điểm chỉ đạo cơ bản sau, gắn các
quá trình định hướng sự biến đổi của các cộng đồng nông nghiệp, nông dân và nông thôn
khi bị các KCN tác động, đó là:
- Gắn phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, coi đây vừa là nền tảng,
vừa là một bộ phận không thể tách rời của tiến trình phát triển văn hóa mỗi cộng
đồng. Không có phát triển kinh tế xã hội, không có quá trình gia tăng mức sống,
15
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động – việc làm, không thể có cơ sở và nền tảng để
phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện nay.
- Các KCN là động lực, là “đầu tàu” để cho các tiến trình ở trên phát triển. Như
một thực thể “lai ghép”, “cấy” vào trong các cộng đồng nông thôn, nó cần phải có
thời gian và những định hướng chính sách để cùng với cộng đồng nông thôn phát
triển một cách hài hòa, bảo đảm các lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích của
cộng đồng địa phương. Cần phải coi các doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp của
sống, các khu vực nghỉ ngơi, giải trí nhỏ cho mỗi khu nhà, tạo ra một môi trường làm
việc “thân thiện” với môi trường tự nhiên.
Luật pháp:
Bổ sung và phát triển các điều luật và quy định trong thiết kế, xây dựng các thiết
chế cơ sở văn hoá trong KCN, các khu vực vui chơi giải trí, có tính đến các nhu cầu
sinh hoạt của người tàn tật là công nhân KCN (chỗ ngồi, đường di chuyển, hệ thống
vệ sinh…)
Xây dựng chính sách về đất đai cho các tụ điểm văn hoá công cộng như dành
quỹ đất cho các khu vực công cộng tại KCN và mỗi doanh nghiệp; quỹ đất xây dựng
các thiết chế văn hoá công cộng tại khu dân cư như nhà văn hoá (câu lạc bộ), các khu
vui chơi giải trí tổng hợp hay chuyên dụng; quỹ đất cho việc xây dựng các không
gian công cộng trong các khu vực ở, trong mỗi công sở, nhà xưởng, ấp;
Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách kinh tế - tài chính:
Chính sách về giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội
đối với công nhân, bao gồm các phúc lợi xã hội và chăm lo đời sống văn hoá tinh
thần cho công nhân, xây dựng các thiết chế văn hoá, có các hoạt động cộng đồng;
Chính sách về thuế đất cho các cơ sở văn hoá trên cơ sở phân loại các loại hình
văn hoá để có chính sách ưu tiên cho các cơ sở văn hoá công ích, thuế kinh doanh cho các
doanh nghiệp văn hoá có chương trình phục vụ công nhân KCN.
Các chính sách thu hút đầu tư của khu vực tư nhân vào hạ tầng xã hội phục vụ
các KCN, bên cạnh các chính sách về đầu tư xây dựng nhà ở đã ban hành, đó là các
chính sách về xây dựng các khu vui chơi giải trí đa chức năng, các công viên xanh,
hồ bơi, sân thể thao…, thực hiện chính sách “xã hội hoá” VHTT của Đảng và Nhà
nước.
17
Sử dụng có hiệu quả và phát triển thiết chế văn hoá:
Xây dựng các kế hoạch hàng năm và dài hơi hơn cho hệ thống các thiết chế
hoạch tổ chức các hoạt động văn hoá nghệ thuật vốn vừa thừa, vừa thiếu các hoạt
động văn hoá nghệ thuật.
3.2.
Xây dựng các mô hình phát triển văn hóa
Mục tiêu của các mô hình tổ chức đời sống văn hóa cho các cộng đồng dân cư có
KCN là: Cung cấp một phương thức tổ chức đời sống văn hoá cho các cộng đồng dân
cư có KCN theo nguyên tắc phát triển bền vững, tăng cường sự tham gia từ dưới lên,
đáp ứng nhu cầu của công nhân KCN và người dân tại chỗ, đa dạng các hoạt động
văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch, từ đây xây dựng năng lực quản lý cho
các doanh nghiệp và các thiết chế, điểm văn hoá trên địa bàn dân cư để họ có thể tự
tổ chức đời sống văn hoá.
Các mô hình này được vận hành trên nguyên tắc: (1) Phát triển bền vững: Các
hoạt động trong giai đoạn triển khai thí điểm phải được duy trì bằng những can thiệp
nhằm duy trì khả năng tự quản lý của các điểm được can thiệp; (2) Tăng cường sự tham
gia từ dưới lên: sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp sẽ là yếu tố quyết định cho
sự duy trì và phát triển của các mô hình, trên tinh thần tự nguyện, tự tổ chức, tự quản lý;
(3) Đáp ứng đúng nhu cầu: các hoạt động được xây dựng trên cơ sở nhu cầu của công
nhân, trên phương châm là chọn lựa các ưu tiên và khả năng nguồn lực mà tổ chức các
hoạt động vào những thời điểm thích hợp; (4) Đa dạng hóa các loại hình hoạt động:
nhằm bảo đảm khả năng giao lưu giữa các điểm văn hoá, các doanh nghiệp trong và
ngoài KCN, giữa chúng với các hoạt động của các đơn vị thuộc ngành VHTT, các ngành
khác trong tỉnh đưa văn hoá đến cơ sở; (5) Xã hội hoá: Huy động các nguồn lực tại chỗ,
của các lực lượng xã hội, các cá nhân vào việc tổ chức các hoạt động văn hoá phục vụ
công nhân KCN, bao gồm tiền, công sức, các ý tưởng, các sáng kiến, các hình thức đóng
góp bằng vật chất và tinh thần khác; (5) Có sự giám sát: nhằm bảo đảm các hoạt động
được triển khai trên tinh thần minh bạch, hiệu quả, thiết thực. Hình thức giám sát có thể
là do cộng đồng tự tổ chức hay do trên tiến hành. Các hoạt động giám sát là nhằm thúc
Bằng các phương tiện cổ động trực quan, bằng các chương trình hội, hội diễn (thông
tin lưu động, với chủ đề bám sát chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, phòng
chống tệ nạn xã hội, an toàn giao thông…). Các trung tâm văn hoá, nhà văn hoá xã,
vừa là nơi sinh hoạt văn hoá, thể thao của nhân dân khu vực, nơi giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc, truyền nghề và đào tạo năng khiếu cho lớp trẻ.
20
Nâng mức đầu tư cho hoạt động của các thiết chế hiện nay được Nhà nước đầu tư
xây dựng.
Đảm bảo diện tích đất sử dụng theo đúng quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế
văn hóa cơ sở; từng bước xây dựng các thiết chế.
Xây dựng nhà văn hóa, khu thể thao cấp ấp: Phát triển nhà văn hóa, khu thể thao
ở cấp ấp gắn với phong trào xây dựng ấp văn hóa; Xây dựng hạt nhân văn hóa, thể
thao làm nòng cốt để duy trì thường xuyên các hoạt động của nhà văn hóa, khu thể
thao cấp ấp.
3.3.2. Đẩy mạnh phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá và
xây dựng gia đình hạnh phúc, phòng chống bạo lực gia đình
Tiến hành đánh giá thường xuyên trên cơ sở xây dựng các tiêu chí đánh giá cho
phong trào này, trong đó chú trọng vào các cộng đồng dân cư có KCN ở các khía
cạnh: (1) Gắn hoạt động văn hóa nghệ thuật với các hoạt động phát triển kinh tế - xã
hội khác; (2) Phát huy vai trò của chủ thể văn hóa, với các nhóm xã hội trong cộng
đồng, trong đó vai trò chủ chốt là người cao tuổi, các trí thức trong cộng đồng; (3)
Tạo lập các hoạt động văn hóa giữa các nhà máy thuộc KCN với cộng đồng bản địa; (4)
Gắn bó chặt chẽ giữa hai khối dân cư, bảo đảm cho dân nhập cư hòa nhập được vào đời
sống văn hóa cộng đồng tại chỗ.
3.3.3. Phát triển mạnh phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng, thể dục thể
thao quần chúng trong các cộng đồng dân cư KCN
Tuỳ theo từng đối tượng, đặc điểm lao động, tâm sinh lý, ngành tổ chức các hội
KCN, đó là đường lối CNH, HĐH đất nước, của các định hướng phát triển nông
nghiệp - nông dân - nông thôn, của đường lối phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc chung trong cả nước và tỉnh Đồng Nai. Các cơ sở thực tiễn
của các định hướng này là thành tựu và những hạn chế của quá trình phát triển KCN
trong cả nước, các tỉnh Đông Nam Bộ và riêng tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua.
Các hệ thống chính sách ở tầm vĩ mô, vượt ra khỏi khuôn khổ của một tỉnh sẽ là
cơ sở và nền tảng cho sự phát triển văn hóa của các cộng đồng nông thôn bị lấy đất
xây dựng KCN. Ở bình diện một tỉnh, cũng cần xây dựng một hệ thống các giải pháp
mang tính hành động và kế hoạch hóa. Hai hệ thống chính sách này bảo đảm tính hệ
thống và hỗ trợ cho nhau
22
Các giải pháp phát triển đời sống văn hóa các cộng đồng nông thôn KCN bao
gồm các giải pháp về cơ chế chính sách, nâng cao năng lực quản lý và tự quản của
người dân, xây dựng thiết chế văn hóa, tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ tại
chỗ, đưa văn hóa về KCN và cộng đồng địa phương tại chỗ.
Các mô hình tổ chức hoạt động trong chương này là một cách hiện thực hóa các
mục tiêu, nguyên tắc và phương châm tổ chức đời sống văn hóa cho các cộng đồng dân
cư có KCN, bao gồm hai mô hình tổ chức hoạt động tại doanh nghiệp và tại cộng đồng
dân cư. Hai mô hình này được thiết kế trên tư tưởng là các hoạt động được tổ chức trên
tinh thần doanh nghiệp và cộng đồng dân cư là một thể thống nhất, văn hóa doanh
nghiệp và văn hóa nông nghiệp - nông thôn là hai thực thể của một chỉnh thể thống
nhất hữu cơ, trong văn hóa các cộng đồng nông thôn có KCN là có văn hóa của các
doanh nghiệp.
23
24
Ở bình diện tỉnh Đồng Nai, sự chủ động đi trước một bước bằng các nghiên cứu
thực tiễn và xây dựng mô hình văn hóa dựa vào khu dân cư, vào doanh nghiệp vẫn
đang là một quá trình tìm tòi, vận dụng, tháo gỡ từng bước những khó khăn. Cơ sở
của việc nâng cao hơn nữa chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng
dân cư KCN là quyết tâm chính trị của Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể của
tỉnh, là các đầu tư và tổ chức nhiều chương trình, đề án phát triển cho các cộng đồng
này. Tuy nhiên, quá trình này không phải không có những thách thức; và có những
vấn đề chế độ chính sách thuộc thẩm quyền của Chính phủ và các Bộ ngành trung
ương. Song sự quyết tâm chính trị đi kèm với những dự án phát triển cụ thể sẽ là cơ
sở để ra đời các mô hình văn hóa cho cộng đồng dân cư KCN, bao gồm cả dân cư tại
chỗ và dân nhập cư, để họ có cơ hội, điều kiện sinh sống ổn định và thực hiện quyền
văn hóa của mình.
Ở tầm mức sự sáng tạo văn hoá, sự thay đổi hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa, trong
phạm vi nội dung, luận án chưa đủ cơ sở dữ liệu để chứng minh và phân tích, do
những hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng của tác giả. Song đó là những chủ đề cần
được tiếp tục nghiên cứu tiếp theo mà tác giả luận án sẽ phải tiếp tục nghiên cứu.