LUẬN VĂN TIẾN SĨ
ĐỀ TÀI: Sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện
đại trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ Nguyễn, Văn Dựa
THÔNG TIN VỀ LUẬN ÁN
SỰ THỐNG NHẤT VÀ MÂU THUẪN GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CẦN THƠ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số : 62.22.80.05
Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Văn Dựa
Người hướng dẫn khoa học: HD.1: PGS.TS. Trịnh Doãn Chính
HD.2: TS. Trần Hoàng Hảo
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Tóm tắt nội dung luận án:
Truyền thống và hiện đại là những yếu tố có mặt trong đời sống của xã hội, trên mọi lĩnh
vực của quá trình phát triển, trong đó có lĩnh vực văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội. Tuy
nhiên, truyền thống và hiện đại không bao giờ tồn tại một cách tĩnh tại, tách biệt nhau mà luôn ở
văn hóa; các biểu hiện của phong tục tập quán, lạc hậu, lỗi thời làm cản trở sự phát triển xã
hội mới;…Để khắc phục những hạn chế, mâu thuẫn đó, Cần Thơ cần thực hiện đồng bộ các
giải pháp: tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm chuyển biến căn bản tâm lý
của cán bộ, đảng viên và nhân dân sớm thích nghi với đời sống đô thị và nhận thức đúng đắn
vai trò của văn hóa; nâng cao trình độ dân trí để nhân dân hưởng thụ và sáng tạo những giá trị
văn hóa; tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa
mới lành mạnh trong xã hội, đi đôi với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng các tài năng văn hóa;
khuyến khích văn nghệ sĩ sáng tạo nhiều công trình văn hoá nghệ thuật tiêu biểu có giá trị cao;
bảo tồn, phát huy các đặc điểm, giá trị văn hóa riêng có ở Cần Thơ.
Những kết quả mới của luận án:
Một là, luận án đã phân tích làm rõ lý luận chung về văn hóa, sự thống nhất và mâu thuẫn
giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ.
Hai là, từ sự phân tích thực trạng văn hóa Cần Thơ, luận án đề xuất một số giải pháp có tính
định hướng góp phần vào phát triển văn hóa Cần Thơ trên cơ sở sự thống nhất và mâu thuẫn giữa
truyền thống và hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Khả năng ứng dụng của luận án:
Luận án giúp người đọc hiểu rõ nội dung, giá trị của truyền thống và hiện đại trong văn
hóa, sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình xây dựng nền văn
hóa mới ở Cần Thơ. Những ý nghĩa lịch sử mà luận án rút ra cũng như một số giải pháp có tính
định hướng mà luận án đề xuất, có thể góp phần thiết thực vào giải quyết những vấn đề cơ
bản trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, mang đậm bản sắc của vùng
đồng bằng sông nước, văn minh miệt vườn ở Cần Thơ. Luận án có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy Triết học, Văn hóa học.
Xác nhận Tp.Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 02 năm 2011
của người hướng dẫn khoa học Nghiên cứu sinh
2
sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới
của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp
thu tinh hoa văn hóa của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy,
độc hại. Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội
và sinh hoạt của nhân dân…” [32, 212-213].
Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng ngàn năm lao động sáng tạo, kiên
cường đấu tranh dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Văn hóa Việt Nam cũng là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền
văn minh nhân loại để không ngừng phát triển. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc
nên tâm hồn, tính cách, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, góp phần làm rạng rỡ
lịch sử vẻ vang của dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam đã hình thành những giá trị
truyền thống bền vững và bản sắc riêng. Trên nền tảng ấy mà ngày nay chúng
ta chủ trương xây dựng một nền văn hóa Việt Nam mới ngang tầm thời đại.
Nền văn hóa mới mà chúng ta xây dựng hiện nay là nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, với các đặc trưng dân tộc, hiện đại, nhân văn. Nước ta là
một quốc gia có nhiều dân tộc, việc nghiên cứu vấn đề kế thừa giá trị truyền
thống văn hóa dân tộc chẳng những có ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng
nền văn hóa chung của đất nước mà còn có tác dụng phát huy bản sắc văn hóa
của từng dân tộc trong sự phát triển văn hóa.
Các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam hiện đứng trước tình
hình, một mặt phải tiếp tục chống chủ nghĩa đế quốc với âm mưu “diễn biến
hòa bình”, tấn công bằng sự xâm lăng văn hóa; mặt khác, phải bảo vệ nền văn
hóa dân tộc, coi đó là một tiềm lực để đi lên hiện đại hóa. Giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa của dân tộc không chỉ có ý nghĩa để cho dân tộc ta giữ được
cội nguồn phát triển mà còn có ý nghĩa bảo vệ những giá trị văn hóa tốt đẹp vì
sự phát triển của nhân loại. Cơ chế kinh tế thị trường đang phát huy tác động
toàn diện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có cả mặt tích cực
và tiêu cực, đã ảnh hưởng rất lớn đến việc kế thừa các giá trị truyền thống văn
thức gay gắt, nhất là trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay. Với vị trí quan
trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo,
4
dịch vụ, thương mại của vùng, cùng với tiềm năng vật chất phong phú, thiên
nhiên ưu đãi, nguồn nhân lực dồi dào, lao động cần cù sáng tạo, biết vận dụng
khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, biết tận dụng khai thác mọi tiềm
năng, thế mạnh của mình, lại giàu truyền thống cách mạng trong kháng chiến
giải phóng dân tộc, Cần Thơ sẽ thực hiện tốt sự nghiệp xây dựng và phát triển
thành phố.
Để “Phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành thành
phố văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, xứng đáng là thành phố cửa ngõ của
cả vùng hạ lưu sông Mê Kông; là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương
mại - dịch vụ, du lịch, trung tâm giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ,
trung tâm y tế và văn hóa của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước”
theo Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị, Đảng bộ và nhân dân Cần Thơ
cần nhận thức sâu sắc và đầy đủ hơn nữa vị trí, vai trò của văn hóa, tầm quan
trọng của sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá
trình phát triển văn hóa. Tiếp tục tập trung đầu tư xây dựng và phát triển nền
văn hóa Cần Thơ tiên tiến, mang đậm bản sắc của vùng đồng bằng sông nước,
văn minh miệt vườn; bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là
trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao
văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba
lĩnh vực này là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và
bền vững của thành phố Cần Thơ.
Từ những vấn đề vừa nêu trên, tác giả chọn đề tài “Sự thống nhất và
mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa
ở Cần Thơ” làm luận án Tiến sĩ Triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về văn hóa nói chung cũng như vấn đề truyền thống và
(2000) của Kyong-Dong Kim (Hàn Quốc)…
Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu của các nhà lý luận mácxít ở
Liên Xô trước đây cũng như ở Trung Quốc và các quốc gia khác đều đưa ra
6
những quan điểm cảnh báo sự suy thoái trong chiến lược xây dựng và phát
triển nền văn hoá của mỗi quốc gia, nếu việc đánh giá mọi sự hiện đại hóa
theo tiêu chuẩn của phương Tây, bằng việc chối bỏ mọi truyền thống của dân
tộc. Đây là những vấn đề đáng được chúng ta tham khảo, nghiên cứu và vận
dụng trong đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
Ở Việt Nam, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
được Đảng ta đặc biệt quan tâm và đã được thể hiện khá đầy đủ trong các văn
kiện của Đảng. Đồng thời, đã có những công trình được xuất bản thành sách
hay đăng trên các tạp chí lý luận, các cuộc hội thảo khoa học bàn về vai trò của
văn hóa đối với sự phát triển, trong đó phải kể đến những công trình như: “Giá trị
tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” (1993) của GS. Trần Văn Giàu, Nxb.
TP. Hồ Chí Minh; “Sự hình thành về cơ bản hệ thống tư tưởng yêu nước Việt
Nam” (2000) của GS.Trần Văn Giàu, Nxb. TP. Hồ Chí Minh; “Văn hóa - mục tiêu
và động lực phát triển xã hội” (2000) của Trần Bạch Đằng, Nxb. TP. Hồ Chí Minh;
“Bản sắc văn hóa Việt Nam từ góc nhìn ngữ nghĩa học từ vựng tiếng Việt” (2000)
của GS. Đỗ Hữu Châu, Nxb. Khoa học Xã hội; “Vai trò của văn hóa trong đời
sống xã hội” (2001) của Thạc sĩ Trịnh Đình Bảy, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội;
“Nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam” của GS.TS. Lê Văn Quán;… là những
công trình nghiên cứu, chỉ ra nhiều vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển văn
hóa, làm cơ sở lý luận cho các nhà hoạch định chiến lược nước ta nghiên cứu xây
dựng đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc.
Ngoài ra, việc nghiên cứu vai trò của văn hóa, mối quan hệ biện chứng
giữa truyền thống và hiện đại trong văn hóa đối với sự phát triển cũng được
văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Trong đó, có những tác
phẩm đề cập đến khuynh hướng vận động của nền văn hóa Việt Nam và
những giải pháp nhằm hoàn thiện văn hóa dân tộc trên một tầm cao mới.
Gần đây, những kết quả nghiên cứu mới của một số công trình dựa trên
cơ sở Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII được công bố như: “Xây dựng và
8
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thành tựu
và kinh nghiệm” (2004) do TS. Đỗ Minh Thúy chủ biên, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội; “Văn hóa và phát triển” (2005) của GS.TS. Đỗ Huy, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, nhằm đưa ra những định hướng xây dựng nền văn hóa
mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Có thể nói, trong nhiều năm qua, sự thống nhất và mâu thuẫn giữa
truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa đã được rất nhiều
nhà khoa học nghiên cứu luận chứng và lý giải.
Ở đầu thế kỷ 21 này, bối cảnh mới của sự phát triển đang đặt văn học -
nghệ thuật Việt Nam trước yêu cầu phải giải quyết một số vấn đề lý luận - thực
tiễn mới. Hội thảo về tính dân tộc, tính hiện đại do Hội đồng lý luận, phê bình
văn học, nghệ thuật Trung ương mới tổ chức gần đây là một việc làm để đáp
ứng yêu cầu đó. Ðề dẫn của Hội thảo với chủ đề “Tính dân tộc và tính hiện đại
trong văn học - nghệ thuật Việt Nam hiện nay” được tổ chức vào hai ngày (04
và 05-8-2009), tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, đã viết: "Một cuộc xâm
nhập sâu rộng về văn hóa từ nhiều nguồn đang diễn ra dưới rất nhiều màu sắc,
thông qua hệ thống báo chí, dịch thuật, đầu tư, xuất nhập khẩu, du lịch, giao lưu,
hội thảo. Một số nước có cả những trung tâm văn hóa tại Hà Nội, đỡ đầu,
khuyến khích tập hợp khá đông đảo đội ngũ văn nghệ sĩ và công chúng văn
nghệ. Các thế lực thù địch không che giấu tham vọng biến văn hóa thành "đội
quân tiền trạm" hòng tác động, chuyển hóa tư tưởng, tình cảm, tâm lý, thói quen,
lẽ sống và cách sống của một bộ phận công chúng. Trong các hướng triển khai,
họ không quên chọn văn học - nghệ thuật làm mũi đột phá, vì đó là lĩnh vực
Luận án sẽ nghiên cứu một cách có hệ thống về tiến trình phát triển
biện chứng của văn hóa ở Cần Thơ dưới ánh sáng lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận án cũng tiếp thu, hệ thống hóa quan
điểm của các công trình khoa học, các tác phẩm đã xuất bản quanh chủ đề
này và góp thêm một số suy nghĩ vào việc luận chứng trên bình diện triết học
cho quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
10
bản sắc dân tộc nói chung; sự thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và
hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa ở Cần Thơ nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là từ sự trình bày, phân tích lý luận chung về văn
hóa và những nội dung, đặc điểm của văn hóa ở Cần Thơ, luận án chỉ ra sự
thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại và đề ra những giải
pháp có tính định hướng trong sự phát triển văn hóa ở Cần Thơ.
Để đạt được mục đích đó, luận án phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, trình bày, phân tích những vấn đề lý luận chung về văn
hóa, sự thống nhất biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình
phát triển văn hóa.
- Thứ hai, trình bày, phân tích nội dung, đặc điểm của sự thống nhất và
mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển văn hóa ở
Cần Thơ, đề xuất một số giải pháp phát triển văn hóa ở Cần Thơ trong sự
thống nhất và mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời còn sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và qui nạp, lôgich
và lịch sử, để nghiên cứu và trình bày luận án. Luận án được tiếp cận dưới góc
độ triết học văn hóa.
12
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA, SỰ THỐNG NHẤT VÀ
MÂU THUẪN GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA
1.1.1. Các quan điểm khác nhau về văn hóa
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo nên, xuất hiện khá sớm
trong xã hội loài người. Phản ánh những giá trị văn hóa ấy trong lịch sử tư
tưởng nhân loại đã có nhiều quan điểm khác nhau. Ở Trung Quốc, từ “văn
hóa” có nguồn gốc từ chữ Hán, quẻ Bí trong Chu Dịch nói: “Quan sát dáng vẻ
con người để giáo hóa thiên hạ” (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ), nó
đã đề cập đến hai từ tố “văn” và “hóa”. Trong đó, “văn” với ý nghĩa là văn vẻ,
văn hoa, tốt đẹp; “hóa” là biến đổi, giáo hóa. Tổng hợp lại, văn hóa có ý nghĩa
là làm biến đổi, giáo hóa con người theo hướng tốt đẹp. Khổng Dĩnh Đạt trong
cuốn Chu Dịch chính nghĩa đã giải thích như sau: “Nói bậc thánh nhân quan
sát dáng vẻ con người, tức cái mà Thi, Thư, Lễ, Nhạc nói đến, theo cách dạy
đó để giáo hóa thiên hạ”. Lưu Hướng (khoảng năm 77 đến năm 6 TCN) đời
Tây Hán là người sử dụng từ “văn hóa” sớm nhất trong thiên Chỉ Vũ sách
Thuyết uyển viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới
(tiếng Anh, tiếng Pháp), kultur (tiếng Đức), kultura (tiếng Nga). Trong tiếng
Anh, Pháp, Đức, Nga hiện nay, từ culture vẫn giữ lại một số hàm nghĩa ban
đầu của tiếng La-tinh. Nhưng văn hóa là một thực thể năng động, luôn luôn
phát triển cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại. Dần dần hàm nghĩa
của nó được mở rộng và nó được chú ý như một đối tượng khoa học.
Khái niệm văn hóa được sử dụng phổ biến vào thế kỷ thứ XVIII, hiểu
như một thuật ngữ khoa học. Năm 1783, người ta chính thức đưa văn hóa vào
tự điển ở Đức. Người đầu tiên sử dụng khái niệm văn hóa là Puphenđooc: văn
hóa là toàn bộ những gì được đặt ra cho hoạt động xã hội, văn hóa là cái đối
14
lập với trạng thái tự nhiên. Nhà triết học Đức Hécđơ (1744-1803), cho rằng
văn hóa là sự hình thành lần thứ hai của con người. Lần thứ nhất, con người
xuất hiện như một thực thể tự nhiên. Lần thứ hai, con người xuất hiện như một
thực thể xã hội, là một nhân cách văn hóa theo nghĩa trọn vẹn nhất của từ này.
Đến giữa thế kỷ XIX các ngành nhân loại học, dân tộc học phát triển
mạnh ở châu Âu và trên cơ sở đó học thuyết văn hóa, khoa văn hóa học ra đời.
Người đầu tiên đưa ra một định nghĩa về văn hóa như một đối tượng nghiên
cứu khoa học là nhà nhân loại học nước Anh E.B.Taylor trong cuốn Văn hóa
nguyên thủy (Primitive Culture) xuất bản năm 1871 ở Luân Đôn đã xem “Văn
hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo
đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực cũng như thói quen mà con
người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội” [63, tr.7].
Sau B.Taylo, khái niệm văn hóa được rất nhiều người đề cập đến. Năm
1885, với công trình Khoa học chung về văn hóa (2 tập) của Klemn người
Đức, trong đó ông trình bày sự phát sinh, phát triển toàn diện của loài người
như một lịch sử văn hóa, thì văn hóa mới thực sự trở thành đối tượng của một
khoa học riêng biệt. Còn thuật ngữ “Văn hóa học” (Kulturkunder tiếng Đức,
Culturology tiếng Anh) thì sau công trình The Science of Culture của L.White
xuất bản ở Mỹ năm 1949 mới trở thành phổ biến. Vào nửa đầu thế kỷ XX, các
Sau đó tháng 4/1984, tại Thụy Điển, các nhà văn hóa nhắc lại định nghĩa
văn hóa Mêhicô 1982 và giải thích thêm lý do có nhiều cách tiếp cận các quan
niệm về văn hóa.
Văn hóa, theo R.W. Brislin, là nhân tố quan trọng bậc nhất của sự phát
triển con người và trở thành một khái niệm trung tâm của việc nghiên cứu xã
hội cũng như tâm lý học phát triển. Văn hóa là những giá trị tinh thần và vật
chất do con người tạo ra, là những gì mà con người bổ sung cho tự nhiên. Vì
thế, nó là một phần của môi trường sinh thái và luôn có ảnh hưởng, tác động
đến đạo đức và rộng hơn là nhân cách của cá nhân, đến sự phát triển của cộng
đồng và xã hội.
16
Tổng Giám đốc UNESCO Federco Mayor đưa ra một định nghĩa về văn
hóa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt
của đời sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng
như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ
thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân
tộc tự khẳng định bản sắc của riêng mình” [68, tr.5-6].
Nhiều thập kỷ qua, trong tình hình kinh tế, xã hội phát triển mạnh, đã
xuất hiện những tác hại lớn do việc ít chú trọng xây dựng môi trường văn hóa;
do đó, văn hóa được đặc biệt coi trọng. Sự thực thì chính văn hóa mới là yếu tố
chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết sự phát triển của xã hội. Trước
nguy cơ môi trường văn hóa bị phá hoại và trước thực tế thất bại của các kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội mà không chú ý đến văn hóa, tháng 12 năm
1986, UNESCO (Tổ chức văn hóa giáo dục và khoa học Liên hiệp quốc) dưới
sự bảo trợ của Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã quyết định phát động Thập kỷ
phát triển văn hóa thế giới 1988 - 1997 với 4 mục tiêu:
1. Đảm bảo coi trọng đúng mức vai trò của văn hóa trong các kế hoạch,
chính sách và dự án phát triển.
2. Khẳng định và đề cao bản sắc văn hóa các dân tộc, khuyến khích tài
tiến mang đậm màu sắc dân tộc. Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Hồ Chí
Minh đã tố cáo sự áp bức văn hóa bên cạnh sự đô hộ về chính trị và bóc lột về
kinh tế của thực dân Pháp. Sau ngày độc lập, trong bộn bề công việc khẩn cấp,
Bác Hồ không quên công việc “chống giặc dốt” song song với “chống giặc
đói” và “giặc ngoại xâm”.
Chính từ tầm nhìn văn hóa ấy, năm 1943 Đảng Cộng sản Đông Dương
đã cho ra đời Đề cương văn hóa phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh, đã kịch liệt lên án các thứ văn hóa “nhắm
mắt theo Tàu”, “nhắm mắt theo Tây”, “lăm le theo Nhật”, xa rời truyền thống
dân tộc, xa rời cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, Người đề ra ba nguyên tắc
lớn cho cuộc vận động Tân văn hóa đó là: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại
chúng hóa. Đây là một đóng góp quan trọng, là một cái mốc lịch sử đánh dấu
18
sự nhận thức về tầm quan trọng của văn hóa cũng như thuộc tính và chức năng
của văn hóa trong tiến trình giải phóng dân tộc và xây dựng nền văn hóa mới.
Mặc dù Đề cương văn hóa đã có những đóng góp quan trọng trong việc
nhận thức về tầm quan trọng của văn hóa, song ngành khoa học nghiên cứu về
văn hóa - văn hóa học cũng chỉ mới hình thành ở Việt Nam chưa bao lâu.
Ngay định nghĩa “văn hóa là gì?” cũng còn nhiều ý kiến khác nhau.
Sau khi Đề cương văn hóa ra đời, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học đi
sâu nghiên cứu những vấn đề về bản chất của văn hóa và đưa ra nhận định: nếu
coi văn hóa là đối tượng khoa học, nghĩa là đối tượng để phân tích, lý giải, thì
phải có một định nghĩa xác định rõ nội hàm và ngoại diên của khái niệm, cũng
đề cập được các thuộc tính và chức năng của đối tượng. Từ đó, có thể hiểu
định nghĩa văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được hình
thành, lưu truyền và phát triển qua quá trình sáng tạo của con người trong sự
tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
Định nghĩa này không đồng nhất văn hóa với hình thái ý thức xã hội,
mặc dù hình thái ý thức xã hội (chính trị, triết học, văn học, nghệ thuật…) là
năng tổ chức xã hội; tính giá trị với chức năng điều tiết xã hội; tính lịch sử với
chức năng giáo dục và tính nhân bản với chức năng giao tiếp [75, 14-15].
Tính hệ thống là thuộc tính hàng đầu của văn hóa. Hệ thống, được hiểu
là một tổ hợp hữu cơ, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ khăng khít với nhau,
tương tác tương thành, chi phối và chế ước lẫn nhau. Ba nội dung cơ bản của
văn hóa là văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử (với tự nhiên và xã hội), văn hóa
tổ chức đời sống (gia đình, xã hội) kết hợp trong một hệ thống hữu cơ. Trong
đó, văn hóa nhận thức có vai trò chi phối, chế ước tất cả. Chính nhờ tính hệ
thống mà văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội. Văn hóa làm tăng
thêm sự cố kết cộng đồng, tạo nên sự ổn định xã hội, cung cấp cách ứng xử
thích hợp đối với môi trường tự nhiên và xã hội.
Tính giá trị là thuộc tính thứ hai của văn hóa. Văn hóa không chỉ bao
gồm các giá trị đẹp hình thức. Nó còn là thước đo mức độ nhân bản của một
con người, một xã hội. Nó cho phép phân biệt văn hóa với phi văn hóa, phản
20
văn hóa. Theo nghĩa đó, có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá
trị thẩm mỹ. Giá trị thẩm mỹ thường dành riêng cho các sáng tạo trong các loại
hình nghệ thuật với ba tiêu chuẩn cơ bản: Chân (đúng, thật), thiện (tốt, lành),
mỹ (đẹp, hay). Theo thời gian có thể chia thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất
thời (và lỗi thời). Theo không gian có thể chia thành giá trị cục bộ (một vùng)
và giá trị phổ biến.
Căn cứ vào các thang giá trị mà xã hội thường xuyên chấp nhận, sàng
lọc, điều chỉnh để duy trì sự ổn định và không ngừng tự hoàn thiện. Đó chính
là chức năng điều chỉnh xã hội của văn hóa. Trong sự phát triển mạnh mẽ của
kinh tế, xã hội hiện nay, UNESCO đã cảnh tỉnh các nhà hoạch định “văn hóa
giữ vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của phát triển”.
Tính lịch sử, đây là thuộc tính được xác định bởi bề dày và chiều sâu của
văn hóa. Một nền văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua nhiều thế hệ trên
chiều dài lịch sử. Nó tạo nên truyền thống văn hóa. Truyền thống văn hóa là sự
niệm văn minh, văn hiến, văn vật. Văn minh (civilization) là trình độ đạt được
trong phát triển văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của loài người trong từng
giai đoạn lịch sử nhất định. Chẳng hạn: văn minh cổ đại, tiêu biểu là sự phát
triển rực rỡ của các quốc gia Ai Cập, Lưỡng Hà, Hi Lạp, La Mã… cổ đại; văn
minh hiện đại, gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp của chủ nghĩa tư bản.
Văn minh hiện đại còn được chia ra: văn minh công nghiệp, văn minh hậu công
nghiệp và văn minh tin học (còn gọi là nền văn minh thứ ba) - gắn liền với cuộc
cách mạng trong kỹ thuật điện tử và tin học hiện nay mà loài người đang đặt
những bước chân đầu tiên vào nhưỡng cửa của nó. Theo nghĩa thông thường,
văn minh đối lập với những gì lạc hậu, dã man, phản tiến bộ, phi nhân tính.
Trong sự phân kỳ xã hội loài người, người ta chia ra ba giai đoạn: mông muội,
dã man và văn minh. Như vậy, văn minh còn là một giai đoạn trong sự phát
triển nhân loại. Khi trong xã hội xuất hiện nhà nước thì loài người chuyển từ giai
đoạn dã man sang văn minh [78, 821]. Văn hóa giàu tính nhân bản, hướng tới
những giá trị muôn thuở, trong khi văn minh hướng tới sự hợp lý, sắp đặt cuộc
sống sao cho tiện lợi. Văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính lịch sử, trong
22
khi văn hóa được xác định bởi bề dày và chiều sâu thì văn minh chỉ là mặt cắt
đồng đại; một dân tộc lạc hậu vẫn có thể có một truyền thống văn hóa lâu đời,
ngược lại một quốc gia văn minh có thể nghèo nàn về văn hóa. Còn văn hiến và
văn vật là những khái niệm có từ chữ Hán nhưng cách dùng trong tiếng Việt thì
đã được Việt hóa. Trong tiếng Hán, văn hiến chỉ có nghĩa là sách vở, điển tích
và chuyện về các bậc hiền minh. Trong tiếng Việt, văn hiến là truyền thống văn
hóa tốt đẹp và lâu đời (đất nước ngàn năm văn hiến), nguyên nghĩa là văn
chương, sách vở hay, bảo tồn truyền thống văn hóa lâu đời [78, 798]. Văn vật
trong tiếng Hán chỉ điển chương, lễ nhạc (sản phẩm cụ thể của văn hóa). Trong
tiếng Việt văn vật là một bộ phận của văn hóa. Văn là vẻ đẹp, vật là các sản
phẩm do con người sáng tạo ra có giá trị nghệ thuật và sức sống lâu dài. Văn vật
được biểu hiện dưới dạng vật thể như các công trình kiến trúc, di tích, hiện vật