Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Phần A: Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang trong qúa trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng
và từng bớc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, tổ chức và quản lí toàn bộ hoạt động
kinh tế xã hội bằng pháp luật, nhằm tạo kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển
năng động và bình đẳng. Trong những năm đổi mới, Nhà nớc đã ban hành rất nhiều các
đạo luật và văn bản pháp quy nhằm tạo môi trờng pháp lý đồng bộ hoàn chỉnh; trong
lĩnh vực tài chính, các vấn đề về phân cấp quản lý thu chi ngân sách đã đợc xác lập,
quyền tự chủ về tài chính cho các doanh nghiệp Nhờ đó, đã đ a đất nớc thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế xã hội, chặn đứng lạm phát, tốc độ tăng trởng kinh tế đạt ở mức
độ cao và ổn định. Đất nớc ta đang sống trong thế kỉ của hội nhập quốc tế về kinh tế,
thơng mại, đầu t, tài chính, quá trình đó diễn ra mạnh mẽ cả về bề rộng và bề sâu trên
tất cả khu vực kinh tế trên phạm vi toàn thế giới và trong nền kinh tế của từng quốc gia.
Trong xu thế thời đại đó, quá trình phát triển nền kinh tế ở Việt Nam cũng phải luôn
bám sát, chủ động và tích cực theo đúng xu hớng vận động của tiến trình hội nhập
quốc tế. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trờng nảy sinh những hành vi tiêu cực: lạm dụng
chức vụ, quyền hạn để mu cầu và thu lợi cá nhân, tệ tham nhũng đã trở thành quốc
nạn , chế độ tự chủ bị biến tớng thành tự quyền gây ra những tổn thất lớn về tài
sản, tiền vốn, nguồn lực tài chính quốc gia.Hoạt động tại các doanh nghiệp còn nhiều
vấn đề phải có sự kiểm tra kiểm soát để có những hớng điều chỉnh ngay giúp cho các
đơn vi hoạt động nói chung có hiệu quả hơn để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế thế
giới.
Để phát huy những thành qủa đã đạt đợc và khắc phục những tồn tại trên chúng ta
cần sử dụng tổng hợp các công cụ kiểm tra trong đó hoạt động kiểm toán có vai trò
quan trọng không thể thiếu. Kiểm toán là một hoạt động có đã có từ rất lâu đời, kể từ
thời kì mà các thông tin kế toán đợc phê chuẩn bằng cách đọc lên trong một buổi đợc
phê chuẩn bằng cách đọc lên trong một buổi họp công khai. Cho đến giai đoạn này thì
hoạt động kiểm toán đã thực sự là công cụ hữu hiệu không thể thiếu trong quá trình
hoạtđộng của toàn xã hội. Đặc biệt với sự giới hạn về nguồn lực tài nguyên thiên nhiên,
nguyên vật liệu, nhân công, đòi hỏi con ng ời phải biết quản lí việc sử dụng nó một
cách hiệu quả nhất. Những thông tin tài chính là một trong những nguồn cung cấp
Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần đợc kiểm
toán bằng hệ thống phơng pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài
chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tơng xứng thực hiện trên cơ sở
hệ thống pháp lý có hiệu lực.
1.2. Bản chất
Có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất kiểm toán. Do đó, cần hệ thống những
quan điểm chủ yếu và chọn lọc để kế thừa những yếu tố cụ thể và đa ra bản chấtvề
kiểm toán. Bản chất kiểm toán đợc phát triển qua các thời kì khác nhau có tích chất kế
thừa và phát triển để đa ra đợc bản chất của kiểm toán đợc hoàn thiện hơn.
Theo quan điểm thứ nhất, kiểm toán đợc đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một
chức năng của bản thân kế toán,một thuộc tính cố hữu của kế toán. Nội dung của hoạt
động này là rà soát các thông tin từ chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán.
Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra cha phát triển
và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Trong cơ chế này,Nhà nớc vừa là chủ sở hữu
vừa là chủ sở hữu, vừa thực hiện lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế. Do đó, chức năng kiểm
tra của Nhà nớc đợc thực hiện trực tiếp với mọi thực thể kinh tế xã hội thông qua
nhiều khâu kể cả kiểm tra kế hoạch, kiểm tra thực hiện kế hoạch, xét duyệt hoàn thành
kế hoạch,kể cả kiểm tra tài chính thờng xuyên, đến việc xét duyệt quyết toán và kể cả
thanh tra các vụ việc cụ thể.
Khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, với chủ trơng đa phơng hoá đầu t, đa dạng hoá các
thành phần kinh tế, Nhà nớc không còn là chủ sở hữu duy nhất. Do đó sự can thiệp của
trực tiếp của Nhà nớc bắng kiểm tra trực tiếp không thể thực hiện với các thành phần
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 3 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
kinh tế ngoài quốc doanh, kể cả các nhà đầu t nớc ngoài, thậm chí với các doanh
nghiệp nhà nớc.
Tài liệu kế toán cũng cần tạo niềm tin cho các nhà đầu t, khách hàng,ngời lao
động trong khi họ không có đủ đội ngũ chuyên gia kế toán đông đảo nh Nhà nớc. Cũng
trong quá trình phát triển đó, kiểm toán không chỉ giới hạn ở kiểm toán bảng khai tài
chính hay tài liệu kế toán mà còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau nh hiệu quả
3. Chủ thể kiểm toán: Kiểm toán viên nhà nớc, kiểm toán viên độc lập, kiểm toán
nội bộ.
Theo quan điểm 3.
Trong quá trình phát triển kiểm toán cũng nh những hoạt động độc lập không chỉ
giới hạn ở một lĩnh vực nhất định mà còn thâm nhập vào những lĩnh vực khác nhau nh
hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội. Vì vậy theo quan điểm
hiện đại, phạm vi kiểm toán rất rộng, bao gồm những lĩnh vực chủ yếu sau:
1. Kiểm toán về thông tin : nhằm hớng vào việc đánh giá tính trung thục và hợp
pháp của các tài liệu làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế
và tạo niềm tin cho những ngời quan tâm đến tài liệu kế toán.
2. Kiểm toán tính quy tắ c: Nhằm hớng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các
chế độ, thể lệ luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt động.
3. Kiểm toán hiệu qu ả: có đối tợng trực tiếp là các yếu tố, các nguồn lực trong
từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản xuất kiểm toán hiệu quả giúp ích trực
tiếp cho việc hoạch định chính sách, phơng hớng và giải pháp cho việc hoàn thiện hoặc
cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị đợc kiểm toán.
4. Kiểm toán hiệu năng đợc đặc biệt quan tâm ở khu vực công cộng nơi mà lợi
ích và hiệu quả không còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa của nó nh trong doanh nghiệp nơi
mà năng lực quản lý cần đợc đánh giá toàn diện và bồi bổ thờng xuyên nhằm không
ngừng nâng cao hiệu năng quản lý của đơn vị kiểm toán.
1.3. Chức năng:
Từ khái niệm và bản chất của kiểm toán chúng ta thấy đợc phần nào đặc điểm của
hoạt động này. Qua đó ta thấy đợc kiểm toán có hai chức năng cơ bản chính đó là xác
minh và bày tỏ ý kiến.
Chức năng xác minh: Nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu tính pháp
lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảng khai tài chính.
Xác minh là chức năng cơ bản đợc thể khác nhau tuỳ đối tợng cụ thể của kiểm
toán. đối với các bản khai tài chính, việc thực hiện chức năng xác minh này trớc hết đ-
ợc thực hiện ở sự xác nhận của ngời kiểm tra độc lập ở bên ngoài. Việc xác minh bản
khai tài chính cần có hai mặt: tính trung thực của các con số và tính hợp thức cuả các
thông tin, kiểm toán quy tắc, kiểm toán hiệu năng và kiểm toán hiệu quả.
- Theo phơng pháp áp dụng kiểm toán phân thành kiểm toán chứng từ và kiểm
toán ngoài chứng từ.
- Thoe tổ chức bộ máy kiểm toán phân thành kiểm toán nhà nớc, kiểm toán độc
lập và kiểm toán nôị bộ.
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 6 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Để hiểu khái quát về từng loại kiểm toán ta có một số khái niệm:
- Kiểm toán tài chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về bản khai tài
chính do các kiểm toán viên thực hiện theo các luật định.
- Kiểm toán nghiệp vụ là việc thẩm tra các trình tự và các phơng pháp tác
nghiệp ở bộ phận hoặc đơn vị kiểm toán. Các tác nghiệp này không chỉ giới hạn ở lính
vực tài chính kế toán mà còn mở rộng sang cả đánh giá cơ cấu tổ chức, cả nghiệp vụ
sử dụng máy vi tính vì vậy, kết quả của kiểm toán nghiệp vụ không chỉ giới hạn ở
củng cố nề nếp tài chính, kế toán mà còn nâng cao đợc hiệu năng và hiệu quả của hoạt
động quản lý.
- Kiểm toán liên kết : là sự sáp nhập các loại kiểm toán trên và thờng đợc ứng dụng
ở các dơn vị công cộng. Đây là việc thẩm định, soát xét công việc quản lý các nguồn tài
chính, nhân lực, vât lực đã uỷ quyền cho ngời sử dụng theo mục tiêu đã đặt ra.
- Kiểm toán nhà n ớc là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nớc thực hiện các
chức năng kiểm toán tài sản công. Qua quá trình phát triển cho đến nay kiểm toán nhà
nứoc ở các nớc phát triển đều thực hiện chức năng kiểm toán các đơn vị ở khu vực
công cộng.
- Kiểm toán độc lập: là hoạt động đặc trng của kinh tế thị trờng. Đây là các tổ
chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và t vấn theo yêu cầu của khách hàng.
- Kiểm toán nội bộ: l à bộ máy thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm vi
đơn vị, phục vụ yêu cầu quản lý nội bọ đơn vị, Do mục tiêu đợc giới hạn ở phạm vi nội
bộ đơn vị nên bộ máy này thờng chỉ bao gồm những kiểm toán viên nội bộ.
1.4.2. Đối tợng của kiểm toán.
Kiểm toán nảy sinh từ kế toán do đòi hỏi của quản lý đối với thông tin kế toán
nhất là sự thay đổi của chế độ kiểm toán tất cả những thực tế đó đòi hỏi kiểm toán phải
đợc thực hiện trớc tiên đối với tài liệu kế toán để tạo niềm tin cho ngời quan tâm và thờng
xuyên hớng dẫn nghiệp vụ, củng cốa nề nếp và cải tiến tổ chức để nâng cao chất lợng
kiểm toán.
1.4.2.3. Thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính - đối tợng cụ thể của kiểm toán.
Trong một đơn vị kinh doanh hay sự nghiệp, tài sản đều biểu hiện dới hình thái
vật chất khác nhau với yêu cầu về quy cách, phẩm chất khác nhau lại đợc lu trữ trên
nhiều kho với những ngời quản lý khác nhau. mối liên hệ giữa những ngời quản lý với
nhau cũng nh giữa ngời quản lý với ngời sở hữu tài sản đợc thực hiện theo những xu h-
ớng và phơng thức khác nhau song có xu hớng ngày càng tăng dần sự cách biệt giữa
ng ời sở hữu với ng ời bảo quản và sử dụng tài sản. Đồng thời khi sản xuất phát triển quy
mô tài sản và kinh doanh tăng lên các mối liên kết kinh tế ngày càng đa dạng phức tạp.
Cộng vào đó là sự phong phú thêm của khái niệm truyền thống về tài sản đặc biệt là sự
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 8 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
xuất hiện của các tài sản vô hình, các hậu quả của rủi ro dẫn đến những thu nhập hoặc
tổn thất bất thờng về tài sản tất cả những yếu tố này dẫn đến khả năng cách biệt giữa
tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kiểm toán Thực tế đó đã thúc đẩy sự ra
đời của kiểm toán cùng tính tất yếu phải đặt thực trạng của tài sản vào đối tợng kiểm
toán.
1.4.2.4 . Hiệu quả và hiệu năng - Đối tợng cụ thể của kiểm toán.
Theo quan điểm hiện đại đối tợng kiểm toán còn bao gồm cả hiệu năng và hiệu
quả. Việc mở rông đối tợng kiểm toán nh vậy cũng xuất phát từ những đòi hỏi thực tế
của quản lý trong điệu kiện quy mô kinh doanh và hoạt động ngày càng đòi hỏi mở
rộng,trong khi nguồn lực ngày càng gay gắt để thực hiện tiết kiệm,để thắng thế trong
cạnh tranh vấn đề hiệu quả,hiệu năng cần đ ợc đặt ra trong từng nghiệp hay hoạt
động cụ thể.
1.5. Khái quát về tổ chức công tác kiểm toán.
1.5.1. Khái niệm :
Qua một số nội dung chính về hoạt động kiểm toán chúng ta đã có đợc cái nhìn
Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới đồng thời là thớc đo kết quả kiểm toán cụ
thể.Mục tiêu chung của kiểm toán phải gắn chặt với mục tiêu, yêu cầu của quản lí.Vì
vậy,trớc hết mục tiêu kiểm toán phải tuỳ thuộc vào quan hệ giữa chủ thể với khách thể
kiểm toán, tuỳ thuộc vào loại hình kiểm toán.
Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tợng kiểm
toán. Phạm vi kiểm toán thờng đợc xác định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là
một hớng cụ thể hoá mục tiêu này.
Chỉ định ngời phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều kiện vật
chất cơ bản
Công việc này có thể làm đồng thời với việc xây dựng mục tiêu cụ thể song cần
thực hiện trớc khi thu thập thông tin,đặc biệt là việc làm quen với đối tợng,với khách
thể mới của kiểm toán. Với yêu cầu của công việc này là phải có ngời có trình độ tơng
xứng với mục tiêu,phạm vi kiểm toán nói riêng và tơng xứng với vị trí,yêu cầu,nội
dung và tinh thần của cuộc kiểm toán nói chung. Đồng thời chúng ta cần chuẩn bị các
thiết bị và điều kiện vật chất khác kèm theo ;phơng tiện tính toán kèm theo
Thu thập thông tin
ở bớc chuẩn bị, thu thập thông tin chỉ hớng tới việc đa ra các bớc quyết định về
kiểm toán mà cha đặt ra tơng ứng vơí mục tiêu và phạm vi kiểm toán song nói chung
cần quan tâm đến chiều rộng hơn là chiều sâu. Thậm chí có trờng hợp chỉ xét tới khả
Nguyễn Thị Hoài-KT43A - 10 -