Khảo sát nghiên cứu mô hình tổ chức, chính
sách, cơ chế hoạt động của bảo hiểm y tế ở
việt nam và một số nớc trên thế giới
MụC LụC
đặt vấn đề 1
PHầN 1: TổNG QUAN 3
1.1 Nguồn gốc và sự ra đời của Bảo hiểm
1.2 Sự cần thiết khách quan và tác dụng của Bảo hiểm
1.3 Sự cần thiết và tác dụng của Bảo hiểm y tế
1.3.1 Vai trò của Bảo hiểm y tế trong xã hội
1.3.2 Mối quan hệ tay ba trong thị trờng Bảo hiểm y tế
1.4 Sơ lợc tình hình thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế trên thế giới.
1.4.1 Các phơng thức chi trả Bảo hiểm y tế
1.4.2 Chính sách Bảo hiểm y tế một số nớc trên thế giới
1.5 Bảo hiểm y tế trong mối liên hệ với Bảo hiểm xã hội
1.6 Sự hình thành và phát triển của chính sách Bảo hiểm y tế ở Việt Nam
1.6.1 Giai đoạn 1992- 1998
1.6.2 Giai đoạn 1998 -2002
1.6.3 Giai đoạn từ năm 2002- tới nay
PHầN 2:. KếT QUả khảo sát Và BàN LUậN
2.1 Đối tuợng, nội dung và phơng pháp nghiên cứu
2.1.1 Đối tợng nghiên cứu
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
2.1.3 Phơng pháp nghiên cứu
2.1.4 Phơng pháp xử lý dữ liệu
2.2 Kết quả khảo sát và bàn luận
2.2.1 Hệ thống tổ chức Bảo hiểm y tế.
2.2.2 Phạm vi bao phủ của Bảo hiểm y tế .
2.2.3 Mức phí và phơng thức đóng Bảo hiểm
2.2.4 Quản lý và sử dụng quỷ Bảo hiểm y tế
2.2.5 Phơng thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh
đặt vấn đề
Con ngời là nguồn tài nguyên quý báu nhất, quyết định sự phát triển của
đất nớc, trong đó sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Năm 1978, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ra lời tuyên bố Alma-Ata:
Sức khoẻ cho mọi ngời, đợc xem là cơng lĩnh hành động cho mỗi quốc gia
trên thế giới: Phải chăm lo bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng.
Từ khi thành lập nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, Đảng và
Nhà nớc ta luôn luôn quan tâm, chú trọng đến công tác chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ cho nhân dân. Trong thời kỳ bao cấp, mọi ngời dân đợc chăm sóc
sức khoẻ miễn phí, do ngân sách nhà nớc cấp. Tuy nhiên, do sự gia tăng về chi
phí y tế, mô hình bệnh tật ngày càng đa dạng, giá thuốc tăng, việc áp dụng các
kỹ thuật mới vào chẩn đoán và điều trịnên nguồn ngân sách nhà nớc cấp
không đủ đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân.
3
3
Từ sau Đại hội VI của Đảng, đất nớc ta bớc vào thời kỳ đổi mới. Ngành Y
tế cũng có nhiều thay đổi trong quản lý và trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ
cho nhân dân. Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nớc cấp, Chính phủ còn cho
phép thu một phần viện phí tại các cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời tìm các
nguồn tài chính khác nhằm đảm bảo cho công tác khám chữa bệnh trong điều
kiện xoá bỏ bao cấp, tiến tới thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khoẻ,
nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Điều này chỉ
có thể thực hiện đợc thông qua chính sách Bảo hiểm y tế.
Sau 3 năm thí điểm ở một số địa phơng, Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính
tơng trợ để giúp đỡ nạn nhân trong các vụ tai nạn. Năm 1182, ở miền Bắc
Italia xuất hiện bản hợp đồng bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển
đầu tiên. Năm 1424 tại Genes, công ty bảo hiểm vận tải đờng biển và đờng bộ
lần đầu tiên đợc thành lập. Năm 1600 Nữ hoàng Anh cho phép tiến hành các
hoạt động bảo hiểm. Năm 1666 sau vụ hỏa hoạn lớn ở London, nhu cầu về
bảo hiểm trở nên cần thiết hơn đối với mọi ngời, hàng loạt công ty bảo hiểm
hỏa hoạn ra đời. Năm 1720 Lloyds đợc thành lập. Năm 1759, công ty bảo
hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời ở Mỹ. Năm 1846, công ty tái bảo hiểm chuyên
nghiệp đầu tiên trên thế giới đợc thành lập ở Đức.
Đến thế kỷ XIX, hàng loạt công ty bảo hiểm đợc thành lập ở các nớc t
bản phát triển nh Anh, Pháp, Mỹ, Đức cùng với việc mở rộng các loại hình
bảo hiểm mới do sự xuất hiện của nhiều loại rủi ro mới nh máy bay, xe cơ
giới. Năm 1945 Bảo hiểm xã hội ra đời ở Pháp bao gồm: Bảo hiểm bệnh tật
(Bảo hiểm y tế), Bảo hiểm già yếu, Bảo hiểm tai nạn lao động.
Tại Việt Nam, Bảo hiểm Xã hội đã có mầm mống dới thời phong kiến Pháp
thuộc. Sau cách mạng tháng tám năm 1945, Chính phủ nớc Việt Nam dân chủ
cộng hoà, đã ban hành Sắc lệnh số 29/SL ngày 12 tháng 3 năm 1947 thực
hiện Bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hu trí. Bảo hiểm thơng mại Việt
Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 1 năm 1965.
5
5
Nh vậy, Các hoạt động mang tính chất bảo hiểm phát triển dần theo sự
phát triển của xã hội loài ngời, do sự tồn tại khách quan của các loại rủi ro mà
con ngời cần đến hoạt động dự trữ, bảo hiểm để giảm thiểu và khắc phục hậu
quả của các rủi ro.
I.2. Sự cần thiết khách quan và tác dụng của bảo hiểm.
Trong chơng trình quản lí rủi ro của các tổ chức và cá nhân, bảo hiểm là
một phần rất quan trọng. Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm
là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Còn theo quan điểm xã hội, bảo
hiểm không chỉ là sự chuyển giao rủi ro mà còn là sự chia sẽ rủi ro giữa các
hội, cùng chia sẻ rủi ro và liên kết gắn bó mọi ngời với nhau vì lợi ích chung
của cả cộng đồng, vì sự ổn định, phồn vinh của đất nớc. Bảo hiểm với nguyên
tắc số đông bù số ít cũng thể hiện tính tơng trợ, tính xã hội và nhân văn sâu
sắc của xã hội trớc rủi ro của mỗi thành viên.
I.3. Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm y tế.
Phần lớn các nớc trên thế giới đều xem việc chăm lo, bảo vệ sức khoẻ
cho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng và là một phần của chính sách phúc lợi
xã hội. Hàng năm Chính phủ đều dành một phần Ngân sách dành cho lĩnh vực
y tế ( từ 3-4% GDP ở các nớc đang phát triển đến 8-10% GDP ở các nớc phát
triển ).Tuy nhiên do sự gia tăng về chi phí y tế và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ
của nhân dân nên nguồn ngân sách này không đủ đáp ứng.
Còn đối với mỗi cá nhân ai cũng muốn sống khoẻ mạnh, ấm no và hạnh
phúc. Tuy nhiên những rủi ro nh ốm đau, bệnh tật có thể xảy ra bất cứ lúc nào,
không loại trừ ai và không đoán biết trớc đợc. Điều này gây ra các khó khăn
về kinh tế cho bản thân họ và gia đình, đặc biệt là những ngời có thu nhập
thấp, ngời già, trẻ em là những ngời bị ảnh hởng nhiều hơn. Do phải chi trả
các chi phí trong quá trình khám chữa bệnh và phục hồi sức khỏe. Gánh nặng
về chi phí chăm sóc sức khoẻ có thể trở thành cái Bẩy nghèo đói cho nhiều
ngời .
Do đó để có nguồn tài chính đầy đủ và ổn định dành cho việc chăm
sóc sức khoẻ cho nhân dân, đòi hỏi phải huy động sự đóng góp của các thành
viên trong xã hội nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nớc và củng chính
là phục vụ cho bản thân khi gặp rủi ro. Sự đóng góp này đợc thực hiện thông
qua quỹ bảo hiểm y tế. Tham gia bảo hiểm y tế là cách tốt nhất đối với mỗi
ngời dân để chủ động về kinh tế trong khám chữa bệnh khi rủi ro ốm đau xẩy
ra.
Nh vậy: Bảo hiểm y tế ra đời góp phần ổn định đời sống của các nhân và
gia đình họ khi gặp rủi ro, ốm đau. Nó đáp ứng đợc đòi hỏi của ngời dân, vừa
phù hợp với yêu cầu chung của xã hội.
Trong khuôn khổ đề tài này, khái niệm Bảo hiểm y tế đợc xem xét dới góc
đóng (đóng nhiều hởng
nhiều, đóng ít hởng ít)
Vai trò
của Nhà
nớc
Có sự bảo trợ của Nhà
nớc
Thờng không có sự hỗ
trợ tài chính của Nhà
nớc
Mục tiêu
ho t
động
Vì chính sách an sinh
xã hội, không kinh
doanh, không hoạt động
vì lợi nhuận
Kinh doanh, họat động
vì mục đích lợi nhuận
I.3.1 Vai trò của bảo hiểm y tế trong xã hội.
8
8
Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm y tế cho thấy từ lâu bảo hiểm
y tế đã trở thành một bộ phận có vai trò quan trọng trong xã hội, là một phần
của chính sách an sinh xã hội. Bảo hiểm y tế đợc coi là một công cụ nhằm đạt
các mục tiêu của chính sách y tế. Bảo hiểm y tế là một phần không thể thiếu
đợc của xã hội. Vai trò của Bảo hiểm y tế thể hiện ở các điểm sau:
- Thứ nhất: Đảm bảo quyền lợi về chăm sóc y tế và nâng cao chất lợng
khám chữa bệnh cho ngời tham gia Bảo hiểm y tế khi họ bị ốm đau bệnh tật
hay đa khoa tới các bệnh viện theo các tuyến khác nhau Các cơ sở khám
chữa bệnh thực hiện việc cung cấp các dịch vụ khám, chữa bệnh theo hợp
đồng với cơ quan Bảo hiểm y tế để đảm bảo quyền lợi cho ngời có thẻ Bảo
hiểm y tế khi họ đến khám chữa bệnh.
C
u
n
g
c
ấ
p
,
b
a
o
p
h
ủ
B
H
Y
T
Ng ời sử dụng
dịch vụ CSSK
Y
ê
m
u
a
B
H
Y
T
Chi tiêu bằng tiền túi
Dịch vụ y tế
Chính phủ/ cơ quan
chuyên nghành
Ng ời mua dịch vụ
CSSK (vd BHYT)
Ng ời cung cấp
dịch vụ CSSK
Đ
i
ề
u
t
i
ế
t
Đ
i
ề
u
hiểm y tế không còn tin tởng vào hệ thống Bảo hiểm và sẽ không tham gia
Quỷ trong những năm tiếp theo.
.
I.4. Sơ lợc tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế trên thế giới.
Năm 1883 ở Cộng hòa Liên bang Đức đã thành lập quỹ ốm đau, bắt
buộc công nhân phải đóng góp để hỗ trợ cho những ngời ốm đau bệnh tật.
Đây là hệ thống bảo hiểm y tế đầu tiên trên thế giới. Học tập nớc Đức, các nớc
khác cũng xây dựng và hình thành quỹ bảo hiểm y tế trong những năm cuối
của thế kỷ 19 và những năm đầu thế kỷ 20 (áo 1888, Hungary 1891, Đan
mạch 1892, Thuỵ điển 1891, Bỉ 1894, Tây ban nha 1929; tại nớc Anh bảo
hiểm y tế đã đợc đa ra bàn luận từ 1911 nhng đến năm 1946 thì vấn đề bảo
hiểm y tế mới đợc chính thức hoá). ở châu á, Nhật bản là nớc đầu tiên ban
11
11
hành luật Bảo hiểm y tế (từ năm 1922); nhiều nớc khác trong khu vực hiện
nay đã thực hiện khá thành công Bảo hiểm y tế toàn dân.
Cho đến nay, trên thế giới đã có hơn 100 nớc thực hiện chính sách bảo
hiểm y tế. Tuỳ theo từng nớc mà có sự khác nhau về hình thức, quy mô, phạm
vi, đối tợng thực hiện, nhng đều có bản chất giống nhau là huy động sự đóng
góp của cá nhân, tập thể hay cộng đồng xã hội để lập ra một quỹ chung. Qua
đó hỗ trợ một phần chi phí y tế cho mọi ngời khi khám chữa bệnh.
Phần lớn các nớc đều có hệ thống bảo hiểm y tế hoạt động độc lập hoặc
nằm trong bảo hiểm xã hội đợc nhà nớc tổ chức và thực hiện, không mang
tính kinh doanh. Bên cạnh đó còn có hệ thống bảo hiểm y tế của t nhân tạo
nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các hệ thống bảo hiểm y tế.
Trong những năm qua chi phí y tế của các nớc trên thế giới tăng nhanh.
Chính vì sự gia tăng của chi phí y tế, nên quỹ bảo hiểm y tế của nhiều nớc trên
thế giới, kể cả các nớc phát triển, liên tục bị bội chi. Nhà nớc phải bù từ ngân
sách. Vì vậy chính phủ của nhiều nớc đã thực hiện nhiều cuộc cải cách về chế
độ bảo hiểm y tế và hệ thống chăm sóc sức khỏe để kiểm soát và khống chế đ-
Chính sách bảo hiểm y tế một số quốc gia trên thế giới.
I.4.2.1. Chính sách bảo hiểm y tế ở Đức.
13
13
Phơng thức Khả năng kiểm Chất l ợng Khả năng
chi trả soát chi phí dịch vụ y tế quản lí
Phí dịch vụ rất kém rất tốt rất khó
Nhóm chẩn đoán tốt bình th ờng khó
Số ngày điều trị bình thờng kém rất dễ
Bình quân tốt tốt dễ
Khoán quỹ theo rất tốt bình th ờng rất dễ
định suất
Trả lơng cho bình th ờng kém dễ
thầy thuốc
Khóan quỹ tốt bình th ờng dễ
trọn gói
Đức là nớc đầu tiên ban hành luật bảo hiểm y tế vào năm 1883. áp
dụng bắt buộc với các đối tợng sau: Công nhân, cán bộ công chức nhà nớc,
ngời hởng trợ cấp thất nghiệp, nông dân, nghệ sĩ, phóng viên báo chí, ngời lao
động làm nghề thủ công, sinh viên có 14 học kỳ, ngời hu trí.
Mức đóng bảo hiểm y tế ở Đức là 13,2%, chính phủ cho triển khai bảo
hiểm y tế với phơng thức cùng chi trả cho ngời có thẻ bảo hiểm y tế khi sử
dụng dịch vụ y tế. Ngời có thẻ bảo hiểm y tế chỉ phải chi trả 10% giá trị đơn
thuốc đợc cấp, còn khi điều trị nội trú trong bệnh viện, ngời bệnh chỉ phải chi
trả 11 DM mỗi ngày, còn lại bảo hiểm y tế thanh toán.
Hiện nay, ở Đức đã dần loại bỏ phơng thức chi trả theo bảng giá dịch vụ
để chuyển sang áp dụng các phơng thức thanh toán khác nh: Khoán quỹ ngoại
trú cho hội đồng bác sỹ ngoại trú, thanh toán theo giá ngày giờng bệnh bình
quân và tiến tới thanh toán rộng rãi theo nhóm chẩn đoán.
I.4.2.2. Chính sách bảo hiểm y tế ở Mỹ.
Pháp là một trong nhiều nớc phát triển ở Châu Âu đã thực hiện bảo
hiểm y tế toàn dân. Hệ thống bảo hiểm y tế ở Pháp bắt đầu hình thành từ năm
1928, lúc đó chỉ thực hiện bảo hiểm y tế cho ngời lao động trong các ngành
công nghiệp và thơng mại, chỉ đến năm 1945 mới bắt đầu hớng tới bảo hiểm y
tế toàn dân, quá trình này kéo dài trên 30 năm. Năm 1961 bắt đầu thực hiện
bảo hiểm y tế cho nông dân, năm 1966 đến năm1970 áp dụng cho ngời lao
động tự do và năm 1978 áp dụng cho mọi đối tợng còn lại
15
15
Hệ thống bảo hiểm y tế của Pháp đợc xem là một trong những hệ
thống bảo hiểm y tế tốt nhất trên thế giới bao gồm nhiều quỹ dành cho các đối
tợng khác nhau. 80% dân số Pháp, đa số là ngời hởng lơng và gia đình họ
tham gia chơng trình bảo hiểm y tế do quỹ quỹ bảo hiểm y tế bệnh tật quốc
gia của ngời làm công ăn lơng thực hiện. Theo chơng trình bảo hiểm y tế này,
chủ sở hữu lao động đóng 12,8% mức lơng, ngời lao động tự trả 6,9% mức l-
ơng. Tổng cộng phí bảo hiểm y tế là 19,7% thu nhập. Ngoài ra,còn có các quỷ
khác dành cho các đối tợng khác nhau nh quỷ Tơng hỗ xã hội nông nghiệp
dành cho ngời làm trong lĩnh vực nông nghiệp
I.4.2.4. Chính sách bảo hiểm y tế ở Nhật Bản.
Nhật Bản là nớc đầu tiên ở Châu á triển khai bảo hiểm y tế bắt buộc.
Luật bảo hiểm y tế bắt buộc cho toàn dân đợc ban hành vào năm 1961.
Mức phí bảo hiểm y tế ở Nhật là 8% lơng, tuỳ thuộc vào từng loại quỹ
bảo hiểm y tế. Ngời tham gia quỹ bảo hiểm y tế phải cùng chi trả 10-30 % chi
phí khám chữa bệnh. Mức cùng chi trả đối với cán bộ, công chức nhà nớc và
ngời lao động trong các doanh nghiệp là 10-20%; ngời lao động tự do và nông
dân cùng chi trả 30%. Đồng thời ngân sách nhà nớc cũng hỗ trợ thêm cho quỹ
bảo hiểm y tế theo các mức sau:
Chính phủ hỗ trợ 13% chi phí khám chữa bệnh cho đối tợng là ngời lao
động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ 50% chi phí khám chữa bệnh
2000 USD/ngời/năm. Cũng tại thời điểm 1997, số lao động trong nông nghiệp
còn 50% trong tổng số 36,7 triệu ngời trong tuổi lao động. Thái lan đặc biệt
thành công trong phơng thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh Bảo hiểm
y tế theo định xuất (capitation) và đang tích cực triển khai phơng thức thanh
toán theo chẩn đoán.
Hiện tại, Chính phủ Thái Lan đang thực hiện chơng trình Bảo hiểm y
tế toàn dân (gọi tắt là chơng trình 30 bath). Theo đó, trừ những ngời lao động
làm việc trong các doanh nghiệp đã tham gia Bảo hiểm y tế bắt buộc do
Bảo hiểm xã hội Thái Lan quản lý (SSO) và cán bộ, công chức cùng ngời ăn
theo của họ do quỹ chi trả, Chính phủ Thái Lan lập một quỹ khám chữa
bệnh do Văn phòng Bảo hiểm y tế quốc gia quản lý để chi trả chi phí
khám chữa bệnh cho số dân còn lại.
I.5. Bảo hiểm y tế trong mối liên hệ với bảo hiểm xã hội.
Trong quá trình xây dựng các chính sách an sinh xã hội trên thế giới,
Bảo hiểm y tế luôn là một trong những nội dung quan trọng nhất và chiếm vị
trí đầu tiên của chế độ bảo hiểm xã hội. Việc xác định mối quan hệ giữa bảo
17
17
hiểm y tế và bảo hiểm xã hội là rất quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện tốt
các chính sách an sinh xã hội.
Bảo hiểm y tế củng nh bảo hiểm xã hội là không mang tính chất kinh
doanh và phần lớn là do nhà nớc tổ chức thực hiện. Theo quy định hiện hành,
các đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng là các đối tợng tham gia
bảo hiểm y tế bắt buộc. Cả bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đều thu phí trên
cùng một đối tợng. Tuy nhiên có sự khác nhau chủ yếu trong việc sử dụng
nguồn thu. Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ ngắn hạn, phần lớn nguồn thu đợc sử
dụng ngay vào việc chi trả chi phí khám chữa bệnh. Còn quỹ bảo hiểm xã hội
dùng để trả lơng hu, do đó quỹ bảo hiểm xã hội có thể mang đầu t để phát
triển sinh lợi.
I.6. Sự hình thành và phát triển chính sách bảo hiểm y tế ở Việt Nam.
tất yếu và là hớng đi đúng đắn để tăng cờng chất lợng phục vụ chăm sóc sức
khoẻ nhân dân cơ bản và lâu dài. Sự ra đời của bảo hiểm y tế là giải pháp hữu
ích, tăng thêm nguồn kinh phí cho hoạt động khám chữa bệnh, góp phần
thực
hiện mục tiêu công bằng xã hội trong hoạt động khám chữa bệnh.
I.6.1. Bảo hiểm y tế Việt Nam giai đoạn 1992- 1998.
Trên cơ sở những kết quả đã đạt đợc trong quá trình thí điểm, Hội đồng
Bộ trởng (nay là Chính phủ) đã ban hành nghị định số 299/HĐBT ngày 15
tháng 8 năm 1992 kèm theo điều lệ Bảo hiểm y tế. Khai sinh ra chính sách
bảo hiểm y tế ở Việt Nam.
Theo Nghị định này, Bảo hiểm y tế là một chính sách đợc nhà nớc tổ chức
thực hiện, không vì mục đích kinh doanh. Hệ thống Bảo hiểm y tế ở giai đoạn
này đợc quản lý theo đơn vị hành chính, bảo hiểm y tế ở tỉnh, thành phố,
ngành nào thì do tỉnh, thành phố, ngành đó quản lí. Cơ quan Bảo hiểm y tế
Việt Nam chỉ quản lí về mặt chuyên môn nghiệp vụ. Cho đến năm 1993, cả n-
ớc có 53 cơ quan Bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế ở tỉnh, thành phố, 4 cơ quan
Bảo hiểm y tế của các nghành đợc thành lập và cơ quan Bảo hiểm y tế Việt
Nam trực thuộc Bộ y tế .
19
19
Đối tợng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc là: Cán bộ công nhân viên
chức tại chức, hu trí, nghỉ mất sức lao động, chủ sử dụng lao động và ngời lao
động của các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức Đảng, đoàn thể xã hội, các
hội quần chúng, các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên, các tổ chức nớc
ngoài có thuê ngời lao động Việt Nam;các đối tợng khác sẽ tham gia BHTY tự
nguyện theo khả năng và nhu cầu. Quỷ bảo hiểm đợc hình thành bằng nguồn
thu từ phí bảo hiểm, mức đóng bảo hiểm y tế là 3% tổng quỹ lơng của các đơn
vị, trong đó ngời lao động đóng 1/3, còn đơn vị quản lý đóng 2/3 .Quỹ bảo
hiểm y tế đợc sử dụng 90% dành cho công tác khám chữa bệnh, trong đó
Bảng1.3 Tổng số ngời tham gia BHYT và nguồn thu từ Bảo hiểm giai đoạn 1993-1998
Đơn vị : triệu ngời
I.6.2. Bảo hiểm y tế Việt Nam giai đoạn 1998- 2002.
Theo điều lệ Bảo hiểm y tế đợc ban hành kèm theo Nghị định số
58/NĐ/CP ngày 13 tháng 8 năm 1998, chính sách Bảo hiểm y tế đợc thay đổi
một cách toàn diện về cơ cấu tổ chức, chính sách và cơ chế hoạt động.
Về tổ chức: Bảo hiểm y tế Việt Nam đợc tổ chức quản lý theo ngành dọc.
Các cơ quan Bảo hiểm y tế ở tỉnh, thành phố đợc chuyển về và trực thuộc Bảo
hiểm y tế Việt Nam. Các cơ quan này lại quản lý các chi nhánh Bảo hiểm y tế
ở các quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh và thành phố. Cơ quan Bảo
21
21
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Số ngời 3,8 4,3 7,1 8,9 9,5 9,79
Có thẻ BH
Nguồn thu 111,0 256,0 400,0 520,0 570,0 669,0
( tỷ đồng)
hiểm y tế Việt Nam trực thuộc bộ y tế và đặt dới sự lãnh đạo của Hội đồng
quản lí, là thành viên của các bộ, ngành có liên quan, do Tổng giám đốc trực
tiếp điều hành. Ngoài ra còn có Bảo hiểm y tế các ngành. thành lập theo hệ
thống dọc, gồm có cơ quan bảo hiểm y tế ở Trung Ương trực tiếp quản lý và
điều hành bảo hiểm y tế ở các tỉnh, thành phố và ngành. Các cơ quan bảo
hiểm y tế Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế và đặt dới sự lãnh đạo của Hội đồng
quản lý, do Tổng giám đốc điều hành trực tiếp.
Về đối tợng tham gia bảo hiểm: Mở rộng thêm các đối tợng bắt buộc
sau: Cán bộ hởng sinh hoạt phí làm việc tại xã, phờng. Đại biểu hội đồng nhân
dân các cấp, ngời lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài,
một đối tợng bắt buộc, để quản lý nguồn thu và tạo điều kiện thuận lợi cho các
đơn vị đóng phí bảo hiểm. Theo quyết định này, Bảo hiểm y tế Việt Nam đợc
chuyển sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam, do Chính phủ quản lý.
Sau hơn 10 năm thực hiện, chính sách bảo hiểm y tế ở Việt Nam đã đạt
đợc nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động khám
chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Quỹ bảo hiểm y tế cũng ngày
càng đóng một vai trò quan trọng trong ngân sách hoạt động của ngành y tế.
Làm thay đổi t duy về quản lý kinh tế y tế, đợc xã hội ủng hộ và thừa nhận.
23
23
Tổng nguồn thu
Quỷ khám chữa bệnh 91,5% Lập quỷ
dự
Quỷ KCB Quỷ KCB Quỷ phòng Chi quản lý
nội trú ngoại trú CSSK 5% 8,5%
ban đầu
50 % 45% 5%
Phần2: kết quả khảo sát và bàn luận
2.1 Đối tợng, nội dung và phơng pháp nghiên cứu
2.1.
1 Đ
ối tợng nghiên cứu
-
Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
- Bảo hiểm y tế một số nớc: Mỹ, Anh, Đức, Pháp, NhậtBản, Hàn
Quốc,Thái lan trên cơ sở tài liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
2.2.1. Hệ thống tổ chức Bảo hiểm y tế từ trung ơng đến địa phơng.
2.2.1.1 Mô hình tổ chức của Bảo hiểm y Việt Nam.
Kể từ khi hình thành hệ thống Bảo hiểm y tế đến nay, cơ cấu tổ chức và
quản lý hệ thống Bảo hiểm y tế đã thay đổi qua 3 giai đoạn:
* Giai đoạn 1 - từ 1992 đến 28/9/1998:
Giai đoạn này hệ thống Bảo hiểm y tế ở Việt Nam đợc tổ chức và quản lý
theo qui định của Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ
trởng (nay là Chính phủ). Theo đó, hệ thống BHYT Việt Nam đợc thành lập từ
Trung ơng đến địa phơng gồm:
- Cơ quan Trung ơng: Bảo hiểm y tế Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế.
- Bảo hiểm y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Giám đốc Sở Y tế địa phơng,
Bảo hiểm y tế ngành nào trực thuộc lãnh đạo ngành đó.
Bảo hiểm y tế các tỉnh, ngành đều trực thuộc Bảo hiểm y tế Việt Nam.
Bảo hiểm y tế Việt Nam, Bảo hiểm y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung -
ơng, Bảo hiểm y tế ngành hoạt động theo nguyên tắc hạch toán độc lập, có t
cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.
Giai đoạn này Bảo hiểm y tế Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý, hớng
dẫn Bảo hiểm y tế các địa phơng, ngành về chuyên môn nghiệp vụ. UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng, Lãnh đạo ngành chủ quản chịu trách
nhiệm quản lý về mặt nhân sự, kiểm tra việc chấp hành chế độ Nhà nớc trong
công tác tài chính mà trực tiếp là các Sở Y tế và Sở Tài chính của địa phơng,
ngành.
25
25
Bộ y tế
Bảo hiểm y tế việt nam
Phòng chức
năng
Hội đồng quản trị