So sánh pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và một số nước trên thế giới Bài học kinh nghiệm và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT VŨ THỊ KIỀU ANH SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM VÀ
MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI - BÀI HỌC KINH
NGHIỆM VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Đức Long

Hà Nội – 2014
[

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Học viên Vũ Thị Kiều Anh


1.3.1
Tầm quan trọng và bối cảnh ra đời……………………………… ……
14
1.3.2
Nội dung Luật Nuôi con nuôi 2010…………………………… ………
15
1.3.3
Các văn bản hướng dẫn, thi hành Luật Nuôi con nuôi 2010……………
16
1.3.4
Các qui định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài…………… ……
17
1.3.5
Tình hình thực hiện việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam
22
1.4
Tình hình ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi
của Việt Nam
26
1.4.1
Các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý………………………
26
1.4.2
Các Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam và các nước
30
1.4.3
Tình hình ký kết và thực hiện Công ước Lahay 1993………………
35


Bài học kinh nghiệm thực tiễn cho Việt Nam ……………………
79
3.2
Các cơ chế hoàn thiện pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc
ngoài tại Việt Nam.
82
Kết luận……………………………………………………………………………
86
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
CHỮ VIẾT TẮT CP Chính phủ
HĐBT Hội đồng Bộ trưởng
HĐTP Hội đồng Thẩm phán
HNGĐ Hôn nhân gia đình
TAND Toà án nhân dân
HĐTTTP Hiệp định tương trợ tư pháp

Số liệu trẻ em Việt Nam phân bổ theo quốc gia nhận nuôi từ
năm 1998 đến 2003

34
Biểu đồ 2.2

Số liệu trẻ em Việt Nam được công dân Hoa Kỳ nhận nuôi từ
năm 1999 đến năm 2010

46
Biểu đồ 3.1
Số liệu trẻ em Trung Quốc phân bổ theo quốc gia nhận nuôi từ
năm 2005 đến năm 2009

50
Biểu đồ 3.2

Số liệu trẻ em Trung Quốc được công dân Hoa Kỳ nhận nuôi
từ năm 1991 đến năm 2011

51
Biểu đồ 3.3

Số liệu trẻ em Trung Quốc được người nước ngoài nhận nuôi
từ năm 2005 đến năm 2009

53
Biểu đồ 3.4


Số liệu trẻ em Guatemala được công dân Hoa Kỳ nhận nuôi từ
năm 1999 đến năm 2011

64
Biểu đồ 3.10

Số liệu trẻ em Nepal được công dân Hoa Kỳ nhận nuôi từ năm
1999 đến năm 2011

66 Phần các phụ lục tham khảo
Phụ lục 1.1: Số lượng văn phòng con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt
Nam cập nhật ngày 14/9/2012

Phụ lục 2.1: Các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình
và hình sự giữa Việt Nam và các nước đến năm 2012

Phụ lục 2.2: Các Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam và các nước

Phụ lục 2.3: Danh sách các nước tham gia công ước Lahay 1993

Phụ lục 2.4: Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Nam Hà Hùng Cường gặp gỡ và giao lưu với
các gia đình Ailen nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi ngày 22/9/2012

Phụ lục 2.5: Một số điển hình trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con
nuôi
với pháp luật của một số nước trên thế giới trong bối cảnh hiện nay giúp chúng ta có cái nhìn khách
quan, tổng thể và toàn diện hơn về pháp luật của Việt Nam. Với tình hình thực tế Luật Nuôi con
nuôi mới có hiệu lực hơn hai năm và việc thi hành còn gặp nhiều khó khăn do tư tưởng cũ muốn
quay lại qui trình cũ đã gây nhiều áp lực cho các cơ quan giải quyết việc nuôi con nuôi. Chính vì
thế việc so sánh này có ý nghĩa nhất định để hoàn thiện hơn cơ chế nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam trong quá trình thực hiện Luật Nuôi con nuôi 2010 trong những năm tới cũng
như việc tuân thủ Công ước Lahay 1993.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học
pháp lý nghiên cứu và bình luận. Thông qua các nghiên cứu này các nhà khoa học pháp lý đã phân
tích và làm rõ các chế định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên nhiều khía cạnh như dưới
góc độ hôn nhân gia đình, dưới góc độ bảo vệ quyền trẻ em và trước yêu cầu hội nhập quốc tế

2

cũng như đáp ứng yêu cầu gia nhập Công ước Lahay 1993. Tuy nhiên việc so sánh pháp luật về
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và một số nước trên thế giới chưa được đề cập
nhiều, chính vì vậy việc chọn đề tài này nhằm tìm hiểu một cách tổng thể pháp luật nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài của một số nước trên thế giới để tìm ra những nội dung tương đồng cũng như
sự khác biệt trong pháp luật của các nước. Đồng thời so sánh với pháp luật Việt Nam nhằm làm
sáng tỏ hơn sự giống và khác nhau với các nước trên để chúng ta có cái nhìn khách quan, toàn diện
hơn với các chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ các vấn đề sau:
- Tổng quan về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam theo Luật Nuôi con nuôi 2010.
- Tổng quan về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của một số nước trên thế giới như:
Trung Quốc, Ấn Độ, Guatemala, Nepan, đây là các nước tương đồng nhiều mặt với Việt Nam và
cũng là các quốc gia đóng vai trò là nước cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài.
- So sánh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và các nước trên nhằm tìm ra sự
giống và khác nhau. Phân tích sự khác biệt dựa trên yếu tố về văn hoá, lịch sử, tác động xã hội

- Chƣơng 1:Tổng quan về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
- Chƣơng 2:Tình hình ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi của Việt Nam
- Chƣơng 3: Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của một số nước trên thế giới, so sánh
với pháp luật Việt Nam
- Chƣơng 4: Bài học kinh nghiệm và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài
- Kết luận 4

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1.1. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
Nuôi con nuôi nói chung được đề cập tới như là việc trẻ em được một gia đình trong cùng
nước đó hoặc ở nước ngoài nhận làm con để nuôi dưỡng, chăm sóc. Việc nuôi con nuôi nhằm xác
lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi,
bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trong môi trường gia đình.
Như vậy, quan hệ nuôi con nuôi là một hiện tượng tự nhiên của xã hội và mang tính nhân
đạo sâu sắc. Quan hệ này đã được điều chỉnh bằng các qui phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi.
Trong thời đại toàn cầu hóa, việc nhận nuôi con nuôi không còn bó hẹp trong mỗi quốc gia
nữa mà nó đã trở thành mối quan tâm của các nước với nhau. Việc người nước ngoài nhận trẻ em
làm con nuôi đã trở lên phổ biến trong mấy thập kỷ gần đây.
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với

5. Công ước của của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989: lần đầu tiên các vấn đề
nuôi con nuôi được “luật pháp hóa”, được xác lập bằng các quy phạm pháp luật quốc
tế. Theo qui định của Công ước này, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đảm bảo
những lợi ích tốt nhất cho trẻ em trong quá trình xem xét cho và nhận con nuôi. Trẻ em
được nhận làm con nuôi ở nước khác được coi là biện pháp chăm sóc thay thế khi
không thực hiện được việc gửi nuôi, nhận con nuôi hay các hình thức chăm sóc thích
hợp khác ngay tại nước gốc.
6. Công ước về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước năm
1993 là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng nhất và liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề
nuôi con nuôi nước ngoài, đến việc bảo vệ quyền lợi cho trẻ em được người nước
ngoài nhận làm con nuôi.
Như vậy, vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam cũng giống như các
nước khác trên thế giới: ngày càng hoàn thiện hơn và việc nội luật hóa pháp luật quốc tế là xu
hướng tất yếu thể hiện quyết tâm hội nhập quốc tế ngày càng cao trong xã hội hiện đại ngày nay.

6

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển các chế định về nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài tại
Việt Nam
Việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam mới được đề cập đến trong khoảng hai
thập kỷ gần đây, trước đây có nhiều lý do khách quan mà quan hệ này không được đề cập đến.
Xem xét về các văn bản pháp luật điều chỉnh mối quan hệ này kể từ năm 1945 khi nước Cộng hòa
dân chủ Việt Nam ra đời, ta thấy quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mới được đề cập đến
trong khoảng từ năm 1994, chủ yếu tập trung trong khoảng 10 năm gần đây, cụ thể các giai đoạn
như sau:
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Đây là giai đoạn Việt Nam vừa mới giành được độc lập và bước ra khỏi chế độ phong
kiến. Luật HNGĐ 1959 được Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 29/12/1959, đây là
văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền tảng cho các quan hệ hôn nhân tiến bộ.
Do thời kỳ này, Đảng và Nhà nước phải tập trung vào nhiều mục tiêu chính trị, kinh tế dân

có yếu tố nước ngoài chưa được đề cập đến một cách cụ thể trong Luật HNGĐ 1986 mặc dù các
quan hệ này đã bắt đầu xuất hiện và tồn tại. Cơ quan chịu trách nhiệm về vấn đề hôn nhân có yếu
tố nước ngoài và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài lúc bấy giờ do Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) đảm trách.
Như vậy có thể khẳng định đến thời điểm năm 1986, Việt Nam vẫn chưa có bất kỳ văn
bản pháp luật chính thức nào qui định về quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mà chỉ tạm
thời qui định HĐBT (nay là Chính phủ) giải quyết các vụ việc cụ thể về hôn nhân và nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài. Đây cũng chính là một bất cập lớn vì không có một chế định pháp lý nào để
làm căn cứ giải quyết vấn đề này trong khi thực tế đã phát sinh nhu cầu nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài.
1.2.3. Giai đoạn 1986 đến năm 2000
Đây là thời kỳ Việt Nam đổi mới, xã hội đã có những biến chuyển sâu sắc. Xu hướng hội
nhập, quốc tế hóa, toàn cầu hóa được mở rộng kéo theo đó là việc phát sinh nhiều quan hệ xã hội
cần có sự điều chỉnh bằng pháp luật. Trong đó quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phát
sinh đã gặp rất nhiều bất cập do Việt Nam trong một thời gian dài không có khung pháp lý qui
định về vấn đề này. Chính vì thế mỗi địa phương lại vận dụng và giải quyết theo hướng khác nhau
gây ra những khó khăn và tiêu cực tạo dư luận không tốt trong xã hội. Giai đoạn từ năm 1986 đến

8

năm 1999 Việt Nam chưa tham gia bất kỳ điều ước quốc tế nào trong lĩnh vực nuôi con nuôi chính
vì thế Việt Nam chưa có cơ sở pháp lý mang tính quốc tế nào để điều chỉnh hoạt động nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài, điều này mang đến hậu quả pháp lý là các đối tượng trong quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài không được bảo vệ.
Chính vì thực tiễn đó, ngày 02/4/1992 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban
hành Quyết định tạm thời số 145/HĐBT qui định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận trẻ
em Việt Nam làm con nuôi, bao gồm trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do
Bộ Lao động – Thương binh và xã hội quản lý. Trong Quyết định này cũng qui định việc nhận
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đều vì mục đích vì lợi ích lâu dài của trẻ em, cụ thể tại Điều 1
qui định như sau: “Việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam bị mồ côi, bỏ rơi, bị tàn tật

nhiệm của các cơ sở nuôi dưỡng cũng như phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng
trong việc giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nươc ngoài.
Tiếp sau đó, ngày 30/11/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 184/CP qui định chi
tiết một số điều của Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài. Qui định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công
dân Việt Nam và người nước ngoài. Nghi định này đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho các trường
hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Nhận thấy tầm quan trọng trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, nhằm tạo ra
sự phối hợp giữa các ban nghành để thuận lợi cho việc giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con
nuôi người nước ngoài. Bộ Tư pháp sau khi được tái thành lập vào năm 1981 đã được phân công
nhiệm vụ đảm trách một phần vai trò về nuôi con nuôi. Năm 1995, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao,
Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ban hành Thông tư liên bộ số 503/TT-LB ngày 25/5/1995
hướng dẫn chi thiết thi hành Nghị định 184/CP của Chính phủ để cùng phối hợp giải quyết các
quan hệ phát sinh liên quan đến nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Tiếp theo đó, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành Nghị quyết số 01/NQ-
HĐTP ngày 20/01/1988 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Luật HNGĐ năm 1986 nhằm
giải thích việc áp dụng thống nhất chế độ pháp lý của con nuôi như con đẻ, có quyền pháp lý như
nhau liên quan đến thừa kế tài sản.
Như vậy chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mới bắt đầu hình thành từ năm 1992
khi có Quyết định 145/HĐBT sau đó là các văn bản pháp lý khác như: Pháp lệnh về HNGĐ, Nghị
định 184/NĐ-CP; Thông tư liên Bộ số 503/TT-LB. Tất cả các văn bản pháp luật này nhằm tạo ra

10

hành lang pháp lý, đảm bảo cho việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Có
thể nói giai đoạn này đánh dấu sự hoàn thiện bước đầu của chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài, đáp ứng được nhu phát triển của xã hội liên quan đến lĩnh vực này. Minh chứng thực tế cho
thấy: từ năm 1990 đến năm 1992 chỉ giải quyết được 673 trường hợp trẻ em Việt Nam cho người
nước ngoài nhận nuôi. Đến giai đoạn 1993 – 2000, số lượng trẻ em Việt Nam cho người nước
ngoài nhận nuôi đã tăng vọt lên 14.000 trường hợp. Điều này cho thấy, người nước ngoài rất quan

- Qui trình, thủ tục nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng chưa minh bạch, rõ ràng
càng làm khó cho những người xin con nuôi. Nhiều trường hợp người nước ngoài phải bỏ cuộc
giữa chừng vì không thể chờ đợi thêm được nữa do các qui trình, thủ tục quá phức tạp, rắc rối.
- Các qui định hiện hành không còn phù hợp với thông lệ chung của các nước trên thế giới
cũng như Công ước La hay 1993 về quyền trẻ em.
Chính vì các vấn đề tồn tại nêu trên đặt ra cho chúng ta phải nhanh chóng hoàn thiện các
chế định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Ngày 9/6/2000 Quốc hội khóa 10 kỳ họp thứ 7
thông qua Luật HNGĐ năm 2000 có hiệu lực từ ngày 01/01/2001 thay thế Luật HNGĐ năm
1986. Chế định nuôi con nuôi được qui định tại chương 8 với 12 điều (từ điều 67 đến điều 78) và
tại chương 1 điều 105 về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Sau khi Quốc hội thông qua Luật HNGĐ năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định
68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật HNGĐ năm 2000
về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài (gọi tắt là Nghị định 68/CP), trong đó có những thay đổi
căn bản về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi.
Cụ thể những điểm mới trong Nghị định 68/CP là:
- Đối tượng trẻ em được cho làm con nuôi là hai đối tượng: Trẻ em đang sống tại cơ sở
nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; và trẻ em sống
tại gia đình thuộc diện mồ côi, tàn tật có quan hệ họ hàng, thân thích với người xin con nuôi.

12

- Về nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi: tiếp tục khẳng định việc giải quyết cho trẻ
em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài trên tinh thần nhân đạo, nhằm bảo đảm lợi ích tốt
nhất cho trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em. Một điểm mới là nội dung Nghị định đã
qui định chỉ giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại các nước mà nước đó và Việt Nam
cùng gia nhập và ký kết điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam. Trường hợp
ngoại lệ chỉ giải quyết nếu người nước ngoài đã có thời gian sinh sống ở Việt Nam 6 tháng trở lên
và xin nhận đích danh con nuôi là trẻ em đang sinh sống tại gia đình thuộc trường hợp mồ côi, tàn
tật hoặc có quan hệ họ hàng, thân thích với người xin con nuôi. Đây là qui định hoàn toàn mới giúp
cho các cơ quan có thẩm quyền quản lý tốt hơn hoạt động xin con nuôi của người nước ngoài,

ý nghĩa nhân đạo xã hội của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Chính vì không có sự đồng
bộ dẫn đến việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài gặp nhiều hạn chế.
Kể từ khi Cục Con nuôi quốc tế (thuộc Bộ tư pháp) được thành lập vào năm 2002 với
chức năng nhiệm vụ quản lý lĩnh vực con nuôi có yếu tố nước ngoài, với những nỗ lực to lớn cơ
quan này cố gắng từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức cũng như thực hiện chức năng của mình
một cách tốt nhất. Qua quá tình hoạt động, để phù hợp thực tiễn khách quan cũng như chức năng
nhiệm vụ được giao ngày 04/12/2008 Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ra quyết định số 2278/QĐ-BTP
thành lập Cục Con nuôi trên cơ sở Cục Con nuôi quốc tế. Chức năng nhiệm vụ của Cục Con
nuôi không chỉ dừng trong phạm vi các quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài mà còn
mở rộng trong lĩnh vực quản lý quan hệ nuôi con nuôi trong nƣớc. Đây chính là bước đi tiếp
theo để hoàn thiện cơ cấu tổ chức nhằm tạo nền tảng chuẩn bị cho việc ra đời Luật Nuôi con nuôi
2010.
Với hành lang pháp lý chưa hoàn thiện thì chức năng quản lý gặp rất nhiều khó khăn. Căn
cứ thực tế khách quan và sự cần thiết phải có một đạo luật độc lập điều chỉnh quan hệ mang tính
nhân đạo này, sau nhiều năm chuẩn bị, ngày 17 tháng 6 năm 2010 Quốc hội khóa XII, Kỳ họp thứ
7 đã thông qua Luật Nuôi con nuôi. Đây chính là dấu mốc quan trọng đặt nền tảng cho các chế
định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam thống nhất trong một đạo luật, mở ra một
thời kỳ mới cho các quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Giai đoạn này cũng là giai đoạn số lượng trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận
nuôi tiếp tục tăng so với giai đoạn trước. Tuy nhiên khi có Luật Nuôi con nuôi 2010 số lượng trẻ
giảm hẳn do qui trình cho con nuôi trong thời kỳ quá độ chuyển sang một qui trình mới. Tham
khảo số liệu trẻ em được người nước ngoài nhận nuôi trong giai đoạn để thấy rõ nội dung trên:
Biểu đồ 1.2 - Số liệu trẻ em Việt Nam đƣợc ngƣời nƣớc ngoài nhận nuôi từ năm 2001 đến
năm 2012 [2]

14 Như vậy, Việt Nam từ năm 1990 trở về trước chưa có các qui định cụ thể về nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài. Bắt đầu từ năm 1991 các khái niệm và chế định về nuôi con nuôi có yếu tố

cam kết quốc tế của Nhà nước ta khi quyết định tham gia Công ước về quyền trẻ em, tôn trọng và
bảo đảm các quyền trẻ em; bảo đảm việc nuôi con nuôi được tiến hành trên nguyên tác nhân đạo,
vì lợi ích tốt nhất của trẻ em trên tinh thần Công ước Lahay ngày 29/5/1993 về bảo vệ trẻ em và
hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế.
1.3.2. Nội dung Luật Nuôi con nuôi 2010
Luật Nuôi con nuôi 2010 bao gồm 5 chương 52 điều qui định chi tiết về nuôi con nuôi nói
chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng. Luật Nuôi con nuôi đã đảm bảo hài hòa
giữa các điều khoản liên quan đến con nuôi trong nước và con nuôi nước ngoài nhằm rút ngắn
khoảng cách khác biệt giữa hai loại hình con nuôi. Chính điều này đã đưa ra một chế định ngắn
gọn, dễ hiểu, minh bạch trong quá trình thực hiện. Cụ thể như sau:
Chương 1: Những qui định chung (gồm 13 điều từ điều 1 đến điều 13).
Bao gồm những nguyên tắc chung nhất về các vấn đề cho con nuôi (cả con nuôi trong
nước và con nuôi nước ngoài)
Chương 2: Nuôi con nuôi trong nước (gồm 14 điều từ điều 14 đến điều 27)
Qui định về nuôi con nuôi trong nước liên quan đến các nội dung: điều kiện của người
nhận con nuôi; trách nhiệm tìm gia đình thay thế cho trẻ em; qui trình đăng ký nhu cầu nhận con
nuôi; hồ sơ của người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi; qui trình giải quyết

16

việc nuôi con nuôi; hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi; căn cứ và hệ quả chấm dứt nuôi con
nuôi .
Chương 3: Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (gồm 16 điều từ điều 28 đến điều 43)
Qui định về các nội dung nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, bao gồm: điều kiện đối với
người nhận con nuôi; hồ sơ của người nhận con nuôi và hồ sơ của người được giới thiệu làm con
nuôi nước ngoài; trình tự thủ tục cho con nuôi; qui định về tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt
Nam.
Chương 4: Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về nuôi con nuôi (gồm 6 điều từ điều 44
đến điều 49)
Qui định các cơ quan như Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, các Bộ và cơ

bảo vệ trẻ em. Cụ thể được thể hiện trong bốn nguyên tắc sau đây:
- Nguyên tắc chung: được qui định tại Điều 2: “Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan
hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo
đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc trong môi trường gia đình”.
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất xuyên suốt quá trình cho nhận con nuôi, nhằm đảm bảo
quyền, lợi ích tốt nhất và toàn diện cho trẻ được nhận làm con nuôi.
- Nguyên tắc tìm gia đình tại nƣớc gốc cho trẻ: được qui định tại Điều 4:
1. Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi
trường gia đình gốc.
2. Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con
nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật
và đạo đức xã hội.
3. Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở
trong nước.
Rõ ràng tại nội dung này cho ta thấy thêm một lần nữa nhấn mạnh nguyên tắc việc đảm
bảo quyền lợi của trẻ em được cho làm con nuôi, và chỉ cho trẻ làm con nuôi người nước ngoài khi
không tìm được gia đình thay thế tại nước gốc.
- Nguyên tắc ƣu tiên lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ: được qui định tại Điều 5, cụ
thể như sau:

18

1. Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế được thực hiện quy định sau đây:
a) Cha dượng, mẹ kế, cô,cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
b) Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước;
c) Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
d) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
đ) Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.
2. Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem
xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status