nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật việt nam và công ước la hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước - Pdf 10

LỜI NÓI ĐẦU
Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng không chỉ trong hệ thống pháp
luật của nhiều nước mà còn thể hiện rất rõ trong pháp luật quốc tế. Chế định
nuôi con nuôi được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt vì nó là
sự bảo vệ về pháp lý rất cần thiết nhằm đảm bảo những lợi ích tốt nhất cho
những trẻ em không những chỉ non nớt về thể chất và trí tuệ mà còn có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn cần được sự chăm sóc từ phía gia đình và xã hội.
Chính vì vậy, vấn đề nuôi con nuôi được nhiều quốc gia trên thế giới quan
tâm, thực hiện. Tuy mỗi nước có những quy định khác nhau về trình tự, thủ tục
giải quyết việc nuôi con nuôi, nhưng đều có chung một mục đích đó là nhằm
đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em.
Kể từ khi Nhà nước và nhân dân Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới
đất nước, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng, giao lưu về mọi mặt giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng phát triển, thì các quan hệ
về hôn nhân và gia đình của công dân Việt Nam với người nước ngoài, trong đó
có các quan hệ nuôi con nuôi, đã và đang trở thành một hiện tượng xã hội thu
hút sự quan tâm của nhiều người, cả ở trong và ngoài nước. Trong bối cảnh đó,
việc người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi đã và đang đặt ra
nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện, không chỉ về pháp
luật mà có thể cả về các định chế. Qua tình hình người nước ngoài xin nhận trẻ
em Việt Nam làm con nuôi trong những năm vừa qua, một vấn đề có tính cấp
thiết được đặt ra đối với Việt Nam là cần nghiên cứu, tham gia các Công ước
quốc tế đa phương, ký kết các điều ước quốc tế song phương nhằm tạo ra một cơ
chế hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa Việt Nam với các nước liên quan về lĩnh vực
này, đảm bảo cho trẻ em được nhận làm con nuôi có đủ điều kiện được hưởng
những gì tốt đẹp nhất, cũng như tạo thuận lợi hơn về mặt thủ tục cho cha mẹ
1
nuôi trong lĩnh vực này. Mặt khác cũng nhằm hạn chế đến mức tối đa những
hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong lĩnh vực hết sức nhạy cảm này.
Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu của công cuộc hội nhập
nhất là trong việc chuẩn bị gia nhập Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và

nuôi, nhằm thiết lập quan hệ tình cảm gắn bó giữa cha, mẹ và con cái.
Xuất phát từ ý nghĩa xã hội và mục đích nhân đạo của việc nuôi con nuôi,
tại Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định rất cụ thể về vấn
đề này. Điều 67 : “ Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa
người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho
người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục phù hợp với đạo đức xã hội “. Đây chính là khung pháp lý quan trọng nhằm
xác lập mối quan hệ giữa cha mẹ và con nuôi và là cơ sở để phát sinh quyền và
nghĩa vụ giữa họ với nhau.
1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là vấn đề hiện được nhiều nước trên thế
giới quan tâm. Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài thực sự đã trở thành vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu và
đã được thể chế hoá trong pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước.
Ở nước ta trong những năm gần đây nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
được Nhà nước đặc biệt quan tâm bằng việc ban hành nhiều chính sách, văn bản
quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
nhằm xử lý những sai phạm, làm cho việc cho trẻ em làm con nuôi người nước
3
ngoài thực sự mang tính nhân đạo, tìm mái ấm gia đình và hạnh phúc cho trẻ
em.
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định của quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài. Mặt khác, quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài chính là quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) phát sinh trong đời
sống quốc tế và quan hệ dân sự này luôn có đặc trưng là mang “ yếu tố nước
ngoài “. Yếu tố nước ngoài đã được khẳng định một cách rất rõ ràng trong Bộ
Luật Dân sự (Điều 826), Nghị định 60/CP ngày 6/6/1997 của Chính phủ hướng
dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài (Điều 1) đã khẳng định : “ Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được
hiểu là các quan hệ dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham

cả hai bên định cư ở nước ngoài.
4. Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau phát sinh tại
Việt Nam.
Theo các trường hợp trên, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã
được mở rộng, không chỉ là quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài mà còn bao gồm quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt
Nam với nhau ở nước ngoài và quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài
với nhau ở Việt Nam.
1.2 Đặc trưng của quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.2.1 Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài luôn mang yếu tố nước
ngoài.
Như trên đã phân tích, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao
gồm các loại quan hệ (phần 1.1.2), mà quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa hai bên chủ thể khác quốc tịch
hoặc cùng quốc tịch nhưng sự kiện nhận nuôi con nuôi xảy ra ở nước ngoài
nhằm bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Do vậy, yếu tố nước ngoài trong
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao gồm :
1.2.1.1 Yếu tố chủ thể :
Khi đề cập đến yếu tố chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài, có hai loại chủ thể cơ bản :
Thứ nhất : Công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài phải có quyền năng chủ thể tức là có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi trước tiên theo pháp luật Việt Nam. Năng lực pháp luật và năng
5
lực hành vi là những thuộc tính của chủ thể pháp luật, là đặc trưng không thể
thiếu của chủ thể pháp luật. Vấn đề năng lực pháp luật và năng lực hành vi ở đây
trước hết được xác định trên cơ sở các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam.
Thứ hai : Bên cạnh đó, người nước ngoài cũng là chủ thể cơ bản của quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

nhận con nuôi làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người nhận nuôi và con
nuôi thì cần thiết phải có quyết định về việc nhận con nuôi của Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Uỷ ban nhân xã nếu việc nuôi con
nuôi giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước
láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam.
Sự kiện pháp lí làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lí xảy ra ở nước ngoài. Về việc nhận
nuôi con nuôi ở nước ngoài, pháp luật Việt Nam thường sử dụng quy tắc luật nơi
thực hiện hành vi để giải quyết xung đột pháp luật phát sinh trong quan hệ này.
Trong trường hợp Việt Nam và nước hữu quan kí kết điều ước quốc tế thì xung
đột pháp luật trong vấn đề này được điều chỉnh theo các quy phạm pháp luật ghi
nhận trong các điều ước đó.
Như vậy, việc xác định đúng thời điểm mà sự kiện pháp lí làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xác định đúng luật áp dụng để giải quyết xung đột
pháp luật phát sinh giữa các bên, từ đó áp dụng luật chính xác trong việc giải
quyết tranh chấp liên quan đến các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài.
1.2.1.3 Yếu tố cư trú của các bên đương sự.
Theo Pháp luật Việt Nam (Điều 826-Bộ Luật Dân Sự) chỉ nói đến ba yếu
tố nước ngoài. Nhưng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định bổ
sung thêm yếu tố cư trú của các đương sự tham gia vào quan hệ gia đình có yếu
tố nước ngoài cũng như quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, khi
nói đến yếu tố cư trú của đương sự tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài có thể xảy ra hai trường hợp :
Thứ nhất : Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Theo quy định tại
Điều 100 - Khoản 4 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì các quy định của
Chương XI (quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài) cũng được áp
dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau
mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Quy định này là hoàn toàn

tương hỗ với nhau trong điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
nhằm bảo đảm sự thuận lợi cho các bên trong quá trình giải quyết việc nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.2.2.1 Phương pháp xung đột.
8
Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh dựa vào các quy tắc
được ấn định để áp dụng pháp luật của một nước chỉ định nhằm giải quyết quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phát sinh thông qua các quy phạm xung
đột [3].
Phương pháp xung đột được hình thành và phát triển trên nền tảng hệ
thống các quy phạm xung đột của quốc gia và các quy phạm xung đột trong các
điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Quy phạm xung đột là quy phạm
pháp luật ấn định pháp luật của nước nào phải được áp dụng để điều chỉnh quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể. Như vậy,
quy phạm xung đột là loại quy phạm pháp luật “dẫn chiếu“, theo đó các cơ quan
có thẩm quyền chọn được hệ thống pháp luật tối ưu để điểu chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài. Khác với các loại quy phạm pháp luật thông
thường, quy phạm xung đột được cấu thành bởi hai bộ phận là phạm vi (tương
tự phần “ giả định “) và hệ thuộc (tương tự phần “ quy định”), không có phần
chế tài.
Để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài, các nước thường sử dụng một số kiểu hệ thuộc cơ bản sau : Luật
nhân thân (lex personalis) bao gồm luật quốc tịch (lex patriae) và luật nơi cư trú
(lex domicilii); luật nơi thực hiện hành vi (lex loci astus) và luật toà án (lex fori).
Ở Việt Nam, quy phạm xung đột về vấn đề nuôi con nuôi được ghi nhận
trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và một số văn bản khác. Ngoài ra,
quy phạm xung đột còn được ghi nhận trong Hiệp định tương trợ tư pháp
(HĐTTTP) Việt Nam đã kí kết với các nước. Ví dụ như : Theo Điều 29
HĐTTTP Việt Nam – Bungari; Điều 30 HĐTTTP Việt Nam – Ba lan ; Điều 29
HĐTTTP Việt Nam – Mông Cổ đều khẳng định “ việc nuôi con nuôi sẽ được áp

thực chất thông thường là quy phạm được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài. Các quy phạm thực chất này được ghi nhận trong các văn
bản pháp luật Việt Nam ban hành. Ví dụ như Khoản 1 - Điều 105 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000. Rõ ràng các quy phạm thực chất trong pháp luật quốc gia
điều chỉnh trực tiếp quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Tóm lại, để điều chỉnh trực tiếp quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài, các quốc gia thường sử dụng hai phương pháp xung đột và phương pháp
thực chất với các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất. Hai loại quy phạm
này cùng tồn tại song song, hỗ trợ cho nhau với những chức năng khác nhau để
điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
10
1.3 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt nam.
Theo từng thời gian, để phù hợp với sự nghiệp cách mạng của đất nước,
phù hợp với tình hình phát triển của các điều kiện kinh tế, xã hội và thực tế của
các quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài nói riêng, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài. Nhà nước ta đã kịp thời ban hành các văn bản pháp luật về hôn nhân và
gia đình. Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình dần được hoàn thiện, là công
cụ pháp lý của Nhà nước ta, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
1.3.1 Trước năm 1945
Pháp luật phong kiến nước ta từ thế kỉ XV đến thể kỉ XIX tiêu biểu là hai
bộ luật đó là : Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới
triều Lê) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long được ban hành dưới
triều Nguyễn).
Hai bộ luật này quy định khá cụ thể việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi
trong thời kỳ đó. Thể hiện rõ nét phong tục, tập quán truyền thống của người
Việt Nam về gia đình. Song các bộ luật này cũng không tránh khỏi hạn chế của
chế độ phong kiến đang suy tàn, xu hướng duy trì chế độ phụ hệ vững chắc, triệt

có yếu tố nước ngoài chưa phải là yêu cầu bức xúc.
1.3.3 Từ năm 1959 đến 1986
Trong thời kì này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 31/12/1959, tiếp tục ghi
nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ (Điều 24). Xuất phát từ tình hình thực tế
của quan hệ gia đình trong thời kì mới, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc
hội thông tại kì họp thứ 11 ngày 29/12/1959. Luật đã điều chỉnh quyền và nghĩa
vụ giữa vợ chồng, giữa cha, mẹ và con. Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình
năm 1959 không có quy phạm điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài.
Ở miền Bắc, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04 ngày 16/01/1961
kèm theo Điều lệ về đăng kí hộ tịch. Ngày 21/06/1961, Bộ nội vụ ban hành
Thông tư số 05/NV hướng dẫn thi hành Điều lệ về đăng kí hộ tịch nói trên. Tuy
nhiên, trong văn bản pháp luật này chưa quy định điều chỉnh quan hệ gia đình có
yếu tố nước ngoài đầy đủ nhưng những quy định này sẽ là nền móng cơ bản để
chúng ta giải quyết quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là vấn đề con
nuôi. Trong giai đoạn này, một số ít trường hợp người nước ngoài nhận trẻ em
12
Việt Nam làm con nuôi đã được giải quyết. Do vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài không được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật nói trên nên khi
giải quyết các việc này các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của ta còn gặp
nhiều khó khăn và lúng túng.
Ở miền Nam, cũng trong giai đoạn này, chính quyền Nguỵ Sài Gòn đã
ban hành Bộ dân luật ngày 20/12/1972. Trong Bộ dân luật này đã quy định về
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng. Điều 248 Bộ dân luật Sài Gòn có quy
định về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, theo quy định này thì
“Người Việt Nam có thể lập người ngoại quốc làm con nuôi hay làm con nuôi
của người ngoại quốc “.
Sau khi đất nước thống nhất, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước
ngày càng được mở rộng, do đó đã làm phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ

Trong khoảng thời gian này, Quốc hội đã thông qua một số văn bản pháp
lí có liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung
và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng như Luật quốc tịch năm
1988, Điều 14 quy định : trẻ em là công dân Việt Nam làm con nuôi người nước
ngoài không vì thế mà mất quốc tịch Việt Nam ; Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục
trẻ em quy định (Điều 7)“ Mọi trường hợp đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ
nước ngoài vào phải theo quy định của pháp luật “; Pháp lệnh lãnh sự năm
1990, trong đó có quy định Cơ quan lãnh sự có thẩm quyền đăng kí kết hôn,
nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
Ngày 29/04/1992, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 145/
HĐBT quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em
mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành lao động thương
binh xã hội quản lí. Sau đó, ngày 19/01/1993, Bộ lao động - thương binh - xã
hội, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số
01/TTLB hướng dẫn thi hành Quyết định 145/HĐBT. Quyết định 145/HĐBT là
văn bản pháp luật trong nước đầu tiên của Việt Nam cụ thể hoá nuôi con nuôi
giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. Tuy nhiên trong quá trình thực
hiện việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, Quyết định
145/HĐBT đã bộc lộ một số hạn chế.
Ngày 02/12/1993 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, trong đó Pháp
lệnh có đề cập đến nuôi con nuôi tại Điều 16, Điều 17 với nội dung quy định cơ
chế giải quyết tranh chấp và xác định quyền và nghĩa vụ của người nuôi và con
14
nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi. Để thi hành Pháp lệnh, ngày 30/11/1994 Nhà
nước đã ban hành Nghị Định 184/CP quy định về thủ tục kết hôn, nhận con
ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người
nước ngoài. Theo Điều 16 của Nghị Định trên thì trẻ em được nhận làm con
nuôi bao gồm trẻ ở cơ sở nuôi dưỡng, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được cha
mẹ đồng ý và cả trường hợp trẻ em bị bỏ lại ở các cơ sở y tế.

định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Chương này gồm 7
điều từ Điều 100 đến Điều 106. Trong đó quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài được quy định tại Điều 105 “ Người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt
Nam hoặc nhận trẻ em nước ngoài thường trú tại Việt Nam làm con nuôi phải
tuân theo quy định của Luật này và quy định trong pháp luật của nước mà
người đó là công dân về điều kiện nhận nuôi con nuôi.” Sự ra đời của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 đã đáp ứng được yêu cầu thực tế trong việc giải
quyết quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng, nó có phạm vi điều chỉnh rộng
hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh 1993 và Nghị Định
184/CP. Ngày 10/07/2002, Nghị Định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài đã được Chính phủ thông qua. Ngày
16/12/2000, Bộ Tư pháp ra thông tư số 07/2000/TT-BTP hướng dẫn thi hành
một số điều của Nghị Định 68/2002/NĐ-CP. Các văn bản pháp lí này đã tạo
điều kiện cho việc áp dụng dễ dàng và thống nhất các quy định về hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Như vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi
hành luật này đã tạo khung pháp lí hoàn chỉnh cho việc nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài được thực hiện một cách dễ dàng và nhanh chóng đáp ứng nhu cầu
hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài.
16
CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU
TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM.
2.1 Pháp luật Việt nam điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài.
2.1.1 Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy
định tại Điều 35 - Nghị Định 68/2002/NĐ-CP thể hiện quan điểm cơ bản, chủ

hai nhà nước, chứ không còn là quan hệ giữa người xin con nuôi, người cho con
nuôi và cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thông qua cơ chế hợp tác này, Hiệp
định bảo đảm về cả phía ta và phía nước ngoài quản lý tốt hơn cha mẹ nuôi và
con nuôi, cũng như toàn bộ trình tự thủ tục giải quyết. Điều này làm tăng độ tin
cậy đối với hồ sơ, cũng như toàn bộ quy trình giải quyết cho con nuôi, phù hợp
với các nguyên tắc, mục đích cao cả của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ
em ngày 20/11/1989 và Công ước La Hay về hợp tác nuôi con nuôi năm 1993.
Bên cạnh những nguyên tắc được quy định tại Điều 35 của Nghị Định
68/2002/NĐ-CP, trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi cần đảm bảo các
nguyên tắc sau :
a. Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở
nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật
và tập quán quốc tế. Đồng thời không phân biệt đối xử với người nước ngoài
trong quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, người nước ngoài tại Việt Nam
được hưởng các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp
pháp luật Việt Nam có quy định khác “. Theo nguyên tắc này, khi người nước
ngoài tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài sẽ được hưởng
các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ một số trường hợp cụ thể mà
pháp luật Việt Nam có quy định khác. Như vậy, Nhà nước Việt Nam đã áp dụng
chế độ đãi ngộ như công dân đối với người nước ngoài trong quan hệ nuôi con
nuôi được thực hiện tại Việt Nam
Bên cạnh việc thừa nhận và bảo hộ quyền lợi của công dân nước ngoài,“
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù
hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán
18
quốc tế” (Khoản 3 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Quy định

bản hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) dẫn
19
chiếu áp dụng pháp luật nước ngoài để điều chỉnh quan hệ hôn nhân
và gia đình.
c. Ba là, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia dẫn chiếu
áp dụng pháp luật nước ngoài.
Do vậy, căn cứ để áp dụng pháp luật nước ngoài, trước hết phải dựa trên
các quy phạm xung đột được quy định trong pháp luật Việt Nam hoặc trong điều
ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Việc áp dụng pháp luật nước
ngoài bắt buộc phải bảo đảm điều kiện không trái với các nguyên tắc của Luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Tóm lại, có thể nói việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam phải tuân theo một số nguyên tắc pháp lí nhất định. Những nguyên tắc
này được cụ thể hoá trong các quy định của pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài của Việt Nam. Việc tuân thủ các nguyên tắc này không chỉ bảo vệ
lợi ích của quốc gia trong quan hệ quốc tế mà còn bảo vệ quyền lợi chính đáng
của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
2.1.2 Điều kiện nuôi con nuôi.
Như chúng ta đã biết, mục đích của việc nuôi con nuôi nói chung cũng
như nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng là nhằm gắn bó tình cảm giữa
người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha, mẹ và con, đảm bảo cho người con
chưa thành niên được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt phù hợp
với đạo đức xã hội [19]. Do vậy, việc nuôi con nuôi là biện pháp hữu hiệu nhằm
tạo ra mái ấm gia đình, sự yêu thương chăm sóc, giáo dục của cha, mẹ nuôi đối
với con nuôi. Để việc nuôi con nuôi được thực hiện theo đúng mục đích tốt đẹp
đó, đồng thời đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, pháp luật Việt Nam
quy định về điều kiện nhận nuôi con nuôi bao gồm điều kiện đối với người nhận
nuôi con nuôi và điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi.
20
2.1.2.1 Điều kiện đối với người nhận con nuôi.

xin nhận con nuôi thì vợ chồng đều phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều
69 của Luật hôn nhân và gia đình (Điều 70-Luật hôn nhân và gia đình , Khoản
2-Điều 37 Nghị Định 68/2002/NĐ-CP ).
21
2.1.2.2 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi.
Trước đây, Nghị Định 184/CP không có quy định hạn chế về đối tượng
trẻ em được cho làm con nuôi nên trong một thời gian dài bất cứ người nước
ngoài nào cũng có thể vào Việt Nam để xin trẻ em từ các cơ sở nuôi dưỡng, cơ
sở y tế hoặc từ gia đình có con nuôi. Do đó, hiện tượng môi giới, trung gian về
nuôi con nuôi đã xuất hiện, gây mất trật tự an ninh, xã hội nghiêm trọng. Để
khắc phục hiện tượng này, Nghị Định 68/2002/NĐ-CP ngoài việc quy định về
điều kiện đối với người nhận con nuôi còn quy định điều kiện đối với người
được nhận làm con nuôi là trẻ em Việt Nam bao gồm :
* Phải là người từ đủ 15 tuổi trở xuống.
Quy định này xuất phát từ cơ sở những người chưa thành niên từ 15 tuổi
trở xuống là người chưa có năng lực hành vi đầy đủ, họ chưa nhận thức được
đầy đủ hành vi của mình, quan hệ nuôi con nuôi sẽ bảo đảm cho người con nuôi
có được sự giám hộ của cha mẹ nuôi. Hơn nữa, căn cứ vào đặc tính thể chất, ở
lứa tuổi này, các em chưa có khả năng tự lập nên cần được nuôi dưỡng, quan
tâm chăm sóc và giáo dục. Nếu các em ở độ tuổi này rơi vào tình trạng không
còn cha mẹ, không xác định được cha mẹ hoặc cha mẹ rơi vào tình trạng không
có khả năng lao động hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì các em có quyền
được nhận làm con nuôi để cha mẹ nuôi chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các
em. Theo quy định tại Điều 1 Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em ( 12/08/1991) và
Công ước quốc tế về quyền trẻ em thì đây là lứa tuổi các em cần được đặc biệt
quan tâm bảo vệ.
* Trẻ em trên 15 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là trẻ em
tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Việc quy định như vậy nhằm tạo cho
các em có một cơ hội chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn.
* Đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi

trú. Quy định này hoàn toàn khác với Pháp lệnh 1993 về hôn nhân và gia đình
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Theo Khoản 2 - Điều 16 Pháp
lệnh 1993 thì quyền và nghĩa vụ của người nuôi và con nuôi giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người
nuôi là công dân nếu cha mẹ nuôi có quốc tịch khác nhau thì áp dụng pháp luật
của nước nơi thường trú của con nuôi.
Như vậy, pháp luật Việt Nam sử dụng hệ thuộc luật nơi thường trú (lex
domicilli) của con nuôi để xác định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi khi việc
nuôi con nuôi được thực hiện ở nước ngoài.
23
2.1.4 ChÊm dứt việc nuôi con nuôi.
Việc nuôi con nuôi không chỉ là một biện pháp phúc lợi cho trẻ em mà
còn là một biện pháp xã hội và pháp lý để bảo vệ trẻ em nhằm tạo ra mái ấm gia
đình, sự thương yêu đùm bọc của cha mẹ nuôi để cứu giúp những đứa trẻ bất
hạnh như các trẻ em mồ côi, trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi…
Việc chấm dứt việc nuôi con nuôi nằm ngoài sự mong đợi của cha mẹ
nuôi và con nuôi. Nhưng để nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên cũng như ý
nghĩa xã hội của chế định nuôi con nuôi mà pháp luật về hôn nhân và gia đình
Việt Nam quy định những trường hợp chấm dứt nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam. Cụ thể là :
- Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên cùng tự nguyện chấm dứt quan hệ
nuôi con nuôi.
- Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc có
hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi.
- Cha mẹ nuôi đã lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm
phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác ; bị hạn chế hoặc
bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính
mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác ; ngược đãi hành hạ ông
bà, vợ, chồng, cha, mẹ, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình ; dụ dỗ, ép

4. Khôi phục lại các quan hệ gia đình giữa con nuôi và gia đình gốc của
mình kể cả quan hệ thừa kế.
Sau khi Toà án hoặc Cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài quyết
định việc chấm dứt nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài, để đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em, nếu cha mẹ nuôi hoặc cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài yêu cầu nhận trẻ em về Việt Nam do hậu quả của
việc chấm dứt nuôi con nuôi đó, thì cha mẹ đẻ, người giám hộ hoặc cơ sơ nuôi
dưỡng đã giao trẻ em đó trước đây có trách nhiệm làm thủ tục tiếp nhận trẻ em.
2.1.5 Trình tự và thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi tại Việt Nam
Nghị định 68/CP quy định chi tiết hơn rất nhiều về trình tự, thủ tục giải
quyết các vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nhiều quy định được thể
hiện trong các mẫu hồ sơ ban hành kèm theo thống nhất trên phạm vi cả nước.
Các loại giấy tờ, thời hiệu, trình tự giải quyết được quy định hợp lý hơn, thuận
lợi hơn cho người xin con nuôi, đảm bảo sự yên tâm cho người xin con nuôi và
người cho con nuôi, đồng thời cũng đảm bảo lợi ích tốt nhất của đứa trẻ bởi một
đứa trẻ đã bị bỏ rơi và khi được người khác nhận làm con nuôi thì không phải
chịu thêm bất hạnh một lần nữa do việc xin con nuôi không thành.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status