Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng không chỉ trong hệ thống pháp
luật của nhiều nước mà còn thể hiện rất rõ trong pháp luật quốc tế. Chế định
nuôi con nuôi được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt vì nó là
sự bảo vệ về pháp lý rất cần thiết nhằm đảm bảo những lợi ích tốt nhất cho
những trẻ em không những chỉ non nớt về thể chất và trí tuệ mà còn có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn cần được sự chăm sóc từ phía gia đình và xã hội.
Chính vì vậy, vấn đề nuôi con nuôi được nhiều quốc gia trên thế giới quan
tâm, thực hiện. Tuy mỗi nước có những quy định khác nhau về trình tự, thủ tục
giải quyết việc nuôi con nuôi, nhưng đều có chung một mục đích đó là nhằm
đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em.
Kể từ khi Nhà nước và nhân dân Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới
đất nước, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng, giao lưu về mọi mặt giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng phát triển, thì các quan hệ
về hôn nhân và gia đình của công dân Việt Nam với người nước ngoài, trong đó
có các quan hệ nuôi con nuôi, đã và đang trở thành một hiện tượng xã hội thu
hút sự quan tâm của nhiều người, cả ở trong và ngoài nước. Trong bối cảnh đó,
việc người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi đã và đang đặt ra
nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện, không chỉ về pháp
luật mà có thể cả về các định chế. Qua tình hình người nước ngoài xin nhận trẻ
em Việt Nam làm con nuôi trong những năm vừa qua, một vấn đề có tính cấp
thiết được đặt ra đối với Việt Nam là cần nghiên cứu, tham gia các Công ước
quốc tế đa phương, ký kết các điều ước quốc tế song phương nhằm tạo ra một cơ
chế hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa Việt Nam với các nước liên quan về lĩnh vực
này, đảm bảo cho trẻ em được nhận làm con nuôi có đủ điều kiện được hưởng
những gì tốt đẹp nhất, cũng như tạo thuận lợi hơn về mặt thủ tục cho cha mẹ
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nuôi trong lĩnh vực này. Mặt khác cũng nhằm hạn chế đến mức tối đa những
hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong lĩnh vực hết sức nhạy cảm này.
nuôi, trước hết phải xuất phát từ mục đích quan trọng là vì lợi ích của người
được nhận làm con nuôi, nhằm mang lại cho đứa trẻ được nhận làm con nuôi
một mái ấm gia đình, được yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bên
cạnh đó, việc nuôi con nuôi cũng xuất phát từ nhu cầu tình cảm của người nhận
nuôi, nhằm thiết lập quan hệ tình cảm gắn bó giữa cha, mẹ và con cái.
Xuất phát từ ý nghĩa xã hội và mục đích nhân đạo của việc nuôi con nuôi,
tại Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định rất cụ thể về vấn
đề này. Điều 67 : “ Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa
người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người
được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù
hợp với đạo đức xã hội “. Đây chính là khung pháp lý quan trọng nhằm xác lập
mối quan hệ giữa cha mẹ và con nuôi và là cơ sở để phát sinh quyền và nghĩa vụ
giữa họ với nhau.
1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là vấn đề hiện được nhiều nước trên thế
giới quan tâm. Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài thực sự đã trở thành vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu và
đã được thể chế hoá trong pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước.
Ở nước ta trong những năm gần đây nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
được Nhà nước đặc biệt quan tâm bằng việc ban hành nhiều chính sách, văn bản
quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhằm xử lý những sai phạm, làm cho việc cho trẻ em làm con nuôi người nước
ngoài thực sự mang tính nhân đạo, tìm mái ấm gia đình và hạnh phúc cho trẻ
em.
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định của quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài. Mặt khác, quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài chính là quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) phát sinh trong đời
sống quốc tế và quan hệ dân sự này luôn có đặc trưng là mang “ yếu tố nước
bao gồm các quan hệ sau :
1. Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với trẻ em Việt Nam cư
trú trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cư trú ở nước ngoài.
2. Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với trẻ em nước ngoài
ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài.
3. Quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc
cả hai bên định cư ở nước ngoài.
4. Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau phát sinh tại
Việt Nam.
Theo các trường hợp trên, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã
được mở rộng, không chỉ là quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài mà còn bao gồm quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân Việt
Nam với nhau ở nước ngoài và quan hệ nuôi con nuôi giữa người nước ngoài
với nhau ở Việt Nam.
1.2 Đặc trưng của quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.2.1 Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài luôn mang yếu tố nước
ngoài.
Như trên đã phân tích, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao
gồm các loại quan hệ (phần 1.1.2), mà quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa hai bên chủ thể khác quốc tịch
hoặc cùng quốc tịch nhưng sự kiện nhận nuôi con nuôi xảy ra ở nước ngoài
nhằm bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Do vậy, yếu tố nước ngoài trong
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bao gồm :
1.2.1.1 Yếu tố chủ thể :
Khi đề cập đến yếu tố chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài, có hai loại chủ thể cơ bản :
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ nhất : Công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi có
trong quan hệ nuôi con nuôi thực hiện (làm chấm dứt quan hệ về nhân thân và
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tài sản của đứa trẻ với cha, mẹ đẻ và làm phát sinh những quan hệ đó giữa cha,
mẹ nuôi và con nuôi). Hành vi của những người tham gia quan hệ pháp luật
nuôi con nuôi nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong lĩnh
vực nuôi con nuôi cần thiết phải có cả quyết định của cơ quan có thẩm quyền
công nhận sự kiện hoặc hành vi theo thủ tục luật định. Ví dụ : Để cho việc xác
nhận con nuôi làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người nhận nuôi và con
nuôi thì cần thiết phải có quyết định về việc nhận con nuôi của Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Uỷ ban nhân xã nếu việc nuôi con
nuôi giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước
láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam.
Sự kiện pháp lí làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lí xảy ra ở nước ngoài. Về việc nhận
nuôi con nuôi ở nước ngoài, pháp luật Việt Nam thường sử dụng quy tắc luật nơi
thực hiện hành vi để giải quyết xung đột pháp luật phát sinh trong quan hệ này.
Trong trường hợp Việt Nam và nước hữu quan kí kết điều ước quốc tế thì xung
đột pháp luật trong vấn đề này được điều chỉnh theo các quy phạm pháp luật ghi
nhận trong các điều ước đó.
Như vậy, việc xác định đúng thời điểm mà sự kiện pháp lí làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xác định đúng luật áp dụng để giải quyết xung đột
pháp luật phát sinh giữa các bên, từ đó áp dụng luật chính xác trong việc giải
quyết tranh chấp liên quan đến các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài.
1.2.1.3 Yếu tố cư trú của các bên đương sự.
Theo Pháp luật Việt Nam (Điều 826-Bộ Luật Dân Sự) chỉ nói đến ba yếu
tố nước ngoài. Nhưng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định bổ
sung thêm yếu tố cư trú của các đương sự tham gia vào quan hệ gia đình có yếu
nhanh chóng và thuận lợi do không phải áp dụng pháp luật nước ngoài.
Như vậy, yếu tố nước ngoài trong quan hệ nuôi con nuôi được quy định
trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã được mở rộng hơn trước đây. Việc
mở rộng yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết, phù hợp với tình hình thực tế
hiện nay của nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế.
1.2.2 Phương pháp điều chỉnh.
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu
tố nước ngoài trong đó có quan hệ nuôi con nuôi là phương pháp xung đột và
phương pháp thực chất. Hai phương pháp này được kết hợp hài hoà và tác động
tương hỗ với nhau trong điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhằm bảo đảm sự thuận lợi cho các bên trong quá trình giải quyết việc nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.2.2.1 Phương pháp xung đột.
Phương pháp xung đột là phương pháp điều chỉnh dựa vào các quy tắc
được ấn định để áp dụng pháp luật của một nước chỉ định nhằm giải quyết quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phát sinh thông qua các quy phạm xung
đột [3].
Phương pháp xung đột được hình thành và phát triển trên nền tảng hệ
thống các quy phạm xung đột của quốc gia và các quy phạm xung đột trong các
điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Quy phạm xung đột là quy phạm
pháp luật ấn định pháp luật của nước nào phải được áp dụng để điều chỉnh quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể. Như vậy,
quy phạm xung đột là loại quy phạm pháp luật “dẫn chiếu“, theo đó các cơ quan
có thẩm quyền chọn được hệ thống pháp luật tối ưu để điểu chỉnh quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài. Khác với các loại quy phạm pháp luật thông
thường, quy phạm xung đột được cấu thành bởi hai bộ phận là phạm vi (tương
tự phần “ giả định “) và hệ thuộc (tương tự phần “ quy định”), không có phần
chế tài.
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết. Nó làm hài hoà
sự khác biệt trong pháp luật của các quốc gia và có tính chất đơn giản hoá trong
việc điều chỉnh các quan hệ này. Khi các quốc gia kí kết với nhau điều ước quốc
tế trong đó có quy phạm thực chất thống nhất, cơ quan có thẩm quyền giải quyết
sẽ dựa vào đó để xem xét và giải quyết thực chất vấn đề trên cơ sở áp dụng ngay
quy phạm đó.Việc áp dụng các quy phạm thực chất sẽ loại trừ vấn đề phải chọn
luật và cả vấn đề áp dụng luật nước ngoài.
Quy phạm thực chất còn được xây dựng trong pháp luật quốc gia. Loại
quy phạm này gọi là quy phạm thực chất thông thường. Tuy nhiên, về vấn đề
này, trong khoa học pháp lí các nước chưa có quan điểm thống nhất. Song, cùng
với các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất thống nhất, các quy phạm
thực chất thông thường là quy phạm được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài. Các quy phạm thực chất này được ghi nhận trong các văn
bản pháp luật Việt Nam ban hành. Ví dụ như Khoản 1 - Điều 105 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000. Rõ ràng các quy phạm thực chất trong pháp luật quốc gia
điều chỉnh trực tiếp quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Tóm lại, để điều chỉnh trực tiếp quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài, các quốc gia thường sử dụng hai phương pháp xung đột và phương pháp
thực chất với các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất. Hai loại quy phạm
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
này cùng tồn tại song song, hỗ trợ cho nhau với những chức năng khác nhau để
điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.3 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật điều
chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt nam.
Theo từng thời gian, để phù hợp với sự nghiệp cách mạng của đất nước,
phù hợp với tình hình phát triển của các điều kiện kinh tế, xã hội và thực tế của
các quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài nói riêng, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
đình có yếu tố nước ngoài nhưng vấn đề này được quy định trong một số văn
bản pháp luật khác, như trong Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945 về quốc tịch
Việt Nam. Hiến pháp năm 1959 là cơ sở pháp lí quan trọng để điều chỉnh quan
hệ gia đình trong thời kì này, tuy nhiên vẫn chưa có quy định cụ thể điều chỉnh
trực tiếp quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài.
Pháp luật trong nước về quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài còn hết
sức đơn giản, chưa tập hợp thành hệ thống. Nhà nước ta chủ trương chưa ban
hành văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh trực tiếp quan hệ gia đình có yếu tố
nước ngoài mà chỉ điều chỉnh quan hệ gia đình trong nước theo Hiến pháp 1946.
Quan hệ hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với các nước chủ
yếu là các nước xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn này mới bắt đầu kiến lập và dần
được củng cố. Trong bối cảnh đó, các quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài phát
sinh, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh, tuy nhiên vấn đề quan hệ gia đình
có yếu tố nước ngoài chưa phải là yêu cầu bức xúc.
1.3.3 Từ năm 1959 đến 1986
Trong thời kì này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 31/12/1959, tiếp tục ghi
nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ (Điều 24). Xuất phát từ tình hình thực tế
của quan hệ gia đình trong thời kì mới, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc
hội thông tại kì họp thứ 11 ngày 29/12/1959. Luật đã điều chỉnh quyền và nghĩa
vụ giữa vợ chồng, giữa cha, mẹ và con. Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình
năm 1959 không có quy phạm điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài.
Ở miền Bắc, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04 ngày 16/01/1961
kèm theo Điều lệ về đăng kí hộ tịch. Ngày 21/06/1961, Bộ nội vụ ban hành
Thông tư số 05/NV hướng dẫn thi hành Điều lệ về đăng kí hộ tịch nói trên. Tuy
nhiên, trong văn bản pháp luật này chưa quy định điều chỉnh quan hệ gia đình có
yếu tố nước ngoài đầy đủ nhưng những quy định này sẽ là nền móng cơ bản để
chúng ta giải quyết quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là vấn đề con
nuôi. Trong giai đoạn này, một số ít trường hợp người nước ngoài nhận trẻ em
12
phát huy những phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp về hôn nhân và gia
đình, từng bước nâng cao nhận thức và ý thức của nhân dân trong việc thi hành
các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Về cơ bản, Luật hôn nhân và gia
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đình năm 1986 kế thừa và tiếp tục phát huy những thành tựu lập pháp của Luật
hôn nhân và gia đình năm 1959, đồng thời bổ sung những chế định quan trọng
phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hôn
nhân và gia đình, Nhà nước ta đã dành một chương riêng (Chương IX) để quy
định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Trong chương này,
các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều
52, 53 và 54. Đây là bước phát triển mới của Luật hôn nhân và gia đình năm
1986, đáp ứng nhu cầu của tình hình mới và phản ánh xu hướng mở rộng phạm
vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình, bước đầu quy định về hôn nhân và
gia đình.
Trong khoảng thời gian này, Quốc hội đã thông qua một số văn bản pháp
lí có liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung
và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng như Luật quốc tịch năm
1988, Điều 14 quy định : trẻ em là công dân Việt Nam làm con nuôi người nước
ngoài không vì thế mà mất quốc tịch Việt Nam ; Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục
trẻ em quy định (Điều 7)“ Mọi trường hợp đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ
nước ngoài vào phải theo quy định của pháp luật “; Pháp lệnh lãnh sự năm
1990, trong đó có quy định Cơ quan lãnh sự có thẩm quyền đăng kí kết hôn,
nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
Ngày 29/04/1992, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 145/
HĐBT quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em
mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành lao động thương
binh xã hội quản lí. Sau đó, ngày 19/01/1993, Bộ lao động - thương binh - xã
hội, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số
01/TTLB hướng dẫn thi hành Quyết định 145/HĐBT. Quyết định 145/HĐBT là
thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng của Nhà nước ta trong thời kỳ mới.
Đồng thời đã định ra một cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp với các Uỷ
ban nhân dân tỉnh trong giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.3.5 Từ năm 2000 đến nay.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã đóng góp một phần to lớn trong
việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, trong giai đoạn
đổi mới hiện nay, nhiều quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
không còn phù hợp nữa do đó cần được nghiên cứu và bổ sung. Để đáp ứng yêu
cầu trong nước và quốc tế trong giai đoạn mới, Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua
ngày 9/6/2000 tại kỳ họp thứ 7 khoá X. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
1/1/2001. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thay thế cho Luật hôn nhân và
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
gia đình năm 1986, Pháp lệnh 1993, Nghị Định 184/CP và các văn bản hướng
dẫn thi hành Nghị Định.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dành một chương (chương XI) quy
định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Chương này gồm 7
điều từ Điều 100 đến Điều 106. Trong đó quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài được quy định tại Điều 105 “ Người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam
hoặc nhận trẻ em nước ngoài thường trú tại Việt Nam làm con nuôi phải tuân
theo quy định của Luật này và quy định trong pháp luật của nước mà người đó
là công dân về điều kiện nhận nuôi con nuôi.” Sự ra đời của Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 đã đáp ứng được yêu cầu thực tế trong việc giải quyết quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng, nó có phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Pháp lệnh 1993 và Nghị Định 184/CP.
Ngày 10/07/2002, Nghị Định 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài đã được Chính phủ thông qua. Ngày 16/12/2000, Bộ
nhận trong Công ước La Hay về hợp tác nuôi con nuôi 1993. Từ đó, có thể thấy
nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài dựa
trên nguyên tắc của Công ước La Hay 1993. Quy định này nhằm đảm bảo đúng
mục đích của của việc nuôi con nuôi. Bởi vì trong thời gian qua, một số trường
hợp người nhận con nuôi đã lợi dụng việc nuôi con nuôi, có các hành vi bóc lột
sức lao động của con nuôi, xâm phạm tình dục đối với con nuôi. Những việc làm
đó là hoàn toàn trái với mục đích của việc nhận nuôi con nuôi, trái pháp luật và
đạo đức xã hội. Quy định này của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chính là
cơ sở để phòng ngừa, ngăn chặn, và xử lý những hiện tượng xã hội tiêu cực đó.
Thứ hai, Việc cho người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em
có quốc tịch Việt Nam làm con nuôi được xem xét, giải quyết nếu Việt Nam và
nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú đã ký kết hoặc cùng gia nhập điều
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi ( trừ trường hợp là xin trẻ đích danh theo
quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 36 – Nghị Định 68/2002/NĐ-CP ).
Đây chính là điểm mới của NĐ 68/2002 so với NĐ 184/CP, mà trước đây
nghị định 184/CP đã không quy định nguyên tắc này. Đây là nguyên tắc hết sức
quan trọng vì nó yêu cầu việc giải quyết con nuôi phải đặt ở tầm quan hệ giữa
hai nhà nước, chứ không còn là quan hệ giữa người xin con nuôi, người cho con
nuôi và cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thông qua cơ chế hợp tác này, Hiệp
định bảo đảm về cả phía ta và phía nước ngoài quản lý tốt hơn cha mẹ nuôi và
con nuôi, cũng như toàn bộ trình tự thủ tục giải quyết. Điều này làm tăng độ tin
cậy đối với hồ sơ, cũng như toàn bộ quy trình giải quyết cho con nuôi, phù hợp
với các nguyên tắc, mục đích cao cả của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ
em ngày 20/11/1989 và Công ước La Hay về hợp tác nuôi con nuôi năm 1993.
Bên cạnh những nguyên tắc được quy định tại Điều 35 của Nghị Định
68/2002/NĐ-CP, trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi cần đảm bảo các
nguyên tắc sau :
a. Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở
của các bên đều được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật về hôn
nhân và gia đình của Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và
tham gia. Việt Nam cũng bày tỏ kiên quyết trong đấu tranh chống các hành vi
lợi dụng quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm mục đích mua bán,
bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục đối với trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi
khác.
b. Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài (Điều 101).
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định của quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài, do đó trong quá trình giải quyết việc nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài cũng phải tuân theo nguyên tắc này. Do bản chất của
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nên có ít nhất hai hệ thống pháp luật
(pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài hữu quan) cùng có thể được áp
dụng để điều chỉnh quan hệ đó. Việc áp dụng pháp luật nước nào không phải do
ý chí chủ quan của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà là do sự dẫn chiếu của
quy phạm xung đột. Theo Điều 101, trong các trường hợp sau, pháp luật nước
ngoài được áp dụng :
a. Một là, khi quy phạm xung đột trong Luật hôn
nhân và gia đình dẫn chiếu áp dụng pháp luật nước ngoài.
b. Hai là, trong các văn bản khác của Việt Nam (bao gồm cả các văn
bản hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) dẫn
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chiếu áp dụng pháp luật nước ngoài để điều chỉnh quan hệ hôn nhân
và gia đình.
c. Ba là, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia dẫn chiếu
áp dụng pháp luật nước ngoài.
Do vậy, căn cứ để áp dụng pháp luật nước ngoài, trước hết phải dựa trên
các quy phạm xung đột được quy định trong pháp luật Việt Nam hoặc trong điều
ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Việc áp dụng pháp luật nước
nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú đã kí kết hoặc cùng gia nhập điều
ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi (bao gồm trẻ em sống tại gia đình và cơ sở
nuôi dưỡng). Đối với người nước ngoài thường trú tại nước chưa kí kết hoặc
cùng gia nhập với Việt Nam điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi thì chỉ
được nhận trẻ em Việt Nam đang sống tại gia đình làm con nuôi trong trường
hợp xin đích danh trẻ em thuộc trường hợp bị mồ côi, bị tàn tật, trẻ em có quan
hệ họ hàng thân thích với người xin nhận con nuôi. Và cũng tại Nghị định số
68/CP, Khoản 1 - Điều 37 thì điều kiện đối với người xin nhận con nuôi bao
gồm “ Người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải có đủ điều
kiện để nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam và pháp luật của nước nơi người đó thường trú”. Như vậy, người nước
ngoài phải đáp ứng được các điều kiện tại Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 tức là phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ hai
mươi tuổi trở lên; có tư cách đạo đức tốt; có điều kiện thực tế bảo đảm việc
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; không phải là người đang
bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên…[19].
Việc quy định như vậy là hết sức cần thiết. Bảo đảm cho người con nuôi
được sống trong môi trường gia đình lành mạnh, được chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục tốt bảo đảm cho sự hình thành và phát triển tốt về nhân cách cho người
con nuôi. Đồng thời, bảo đảm cho việc nuôi con nuôi đạt được mục đích của nó
và phù hợp với ý nghĩa của việc nuôi con nuôi. Do vậy, khi nhận con nuôi,
người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện đó. Trong trường hợp vợ chồng
xin nhận con nuôi thì vợ chồng đều phải có đủ các điều kiện quy định tại Điều
69 của Luật hôn nhân và gia đình (Điều 70-Luật hôn nhân và gia đình , Khoản
2-Điều 37 Nghị Định 68/2002/NĐ-CP ).
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2.1.2.2 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi.
Trước đây, Nghị Định 184/CP không có quy định hạn chế về đối tượng
trẻ em được cho làm con nuôi nên trong một thời gian dài bất cứ người nước
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
b. Trẻ em đang sống tại gia đình thuộc diện mồ côi, bị tàn tật hoặc có
quan hệ họ hàng, thân thích với người xin nhận con nuôi.
Như vậy, Nghị Định 68/2002/NĐ-CP không cho phép cơ sở y tế trực tiếp
cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài như Nghị Định 184/CP trước đây,
nhằm giới hạn đối tượng con nuôi về một mối thống nhất để dễ quản lý, ngăn
chặn các hiện tượng tiêu cực có thể phát sinh.
2.1.3 Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con nuôi.
Khi quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được xác lập thì vấn đề tất
yếu là xác định nội dung các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.
Để giải quyết xung đột pháp luật về vấn đề này, khoản 2 Điều 105 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định :
Thứ nhất : Nếu việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện
tại Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được xác lập
theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 và các văn
bản hướng dẫn thi hành. Điều 74 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định
“ Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
theo quy định của Luật này, kể từ thời điểm đăng kí việc nuôi con nuôi “. Việc
pháp luật Việt Nam khẳng định vị trí con nuôi như con trong giá thú có ý nghĩa
rất quan trọng, đảm bảo sự chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục của cha, mẹ nuôi
đối với con nuôi.
Thứ hai : Nếu việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại
nước không phải là Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con
nuôi được xác định theo quy định của pháp luật nước nơi người con nuôi thường
trú. Quy định này hoàn toàn khác với Pháp lệnh 1993 về hôn nhân và gia đình
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Theo Khoản 2 - Điều 16 Pháp
lệnh 1993 thì quyền và nghĩa vụ của người nuôi và con nuôi giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người
nuôi là công dân nếu cha mẹ nuôi có quốc tịch khác nhau thì áp dụng pháp luật
của nước nơi thường trú của con nuôi.
ngoài ở Việt Nam hiện nay là Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của con
nuôi. Trong trường hợp trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài đã xuất
cảnh ra nước ngoài cùng cha mẹ nuôi, thì việc chấm dứt nuôi con nuôi do Toà
án hoặc Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài nơi tiến hành việc nuôi con
nuôi đó, thực hiện theo pháp luật nước ngoài.
* Việc chấm dứt nuôi con nuôi có những hệ quả pháp lý :
Nếu việc chấm dứt nuôi con nuôi được tiến hành tại Tòa án Việt Nam, thì
các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi hoàn toàn chấm dứt. Giữa
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cha mẹ nuôi và con nuôi không còn tồn tại mối quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và
con nữa; nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật,
mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động hoặc không có tài sản
để tự nuôi mình, thì Toà án quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá
nhân, tổ chức trông nom, nuôi dưỡng. Nếu con nuôi có tài sản riêng thì được
nhận lại tài sản của mình. Nếu con nuôi đã thay đổi họ, tên, thì được lấy lại họ
tên cũ của mình do cha mẹ đẻ đặt.
Nếu việc chấm dứt nuôi con nuôi do Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền
khác của nước ngoài tiến hành thì thường phát sinh những hệ quả pháp lý sau :
1. Quan hệ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt tức là cha mẹ
nuôi và con nuôi không còn tồn tại mối quan hệ pháp lý giữa cha mẹ
và con, không có các quyền và nghĩa vụ đối với nhau kể cả về cấp
dưỡng, thừa kế.
2. Quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ (nếu có) và con nuôi được khôi phục
lại.
3. Con nuôi được lấy lại họ của cha mẹ đẻ.
4. Khôi phục lại các quan hệ gia đình giữa con nuôi và gia đình gốc của
mình kể cả quan hệ thừa kế.
Sau khi Toà án hoặc Cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài quyết
định việc chấm dứt nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước