Phân tích các nguyên tắc chọn luật áp dụng để xác định hiệu lực pháp lý của hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam - Pdf 13

Tư pháp Quốc tế - Lớp NO3. TL2. Nhóm 2
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 02
Nội dung 03
Nguyên tắc xác định luật áp dụng đối với tư cách chủ thể giao kết
hợp đồng
03
Nguyên tắc xác định luật áp dụng đối với hình thức hợp đồng 04
1. Khái niệm hình thức hợp đồng 04
2. Đối với hợp đồng xác định theo nơi giao kết 05
3. Hợp đồng giao kết vắng mặt 06
4. Hợp đồng điện tử 06
Nguyên tắc xác định luật áp dụng đối với nội dụng hợp đồng. 07
1. Khái niệm nội dung hợp đồng 07
2. Trong trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng 07
3. Nguyên tắc chọn luật áp dụng với nội dung hợp đồng trong trường
hợp các bên không thỏa thuận luật áp dụng
10
Kết luận 11
Phụ lục 12
Danh mục tài liệu tham khảo 12
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự Toàn cầu hóa của nhân loại, sự mở cửa của các nền
kinh thế trên thế giới thì các giao kết hợp đồng có yếu tố nước ngoài ngày càng
phổ biến và phức tạp hơn. Trong quá trình thực hiện kí kết hợp đồng, để xác
định hiệu lực pháp lý thì dù hợp đồng có yếu tố nước ngoài hay hợp đồng trong
nước đều phải đảm bảo được tư cách chủ thể giao kết, hình thức hợp đồng và
nội dung hợp đồng. Đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài, việc xác định hiệu
1
Tư pháp Quốc tế - Lớp NO3. TL2. Nhóm 2

các nhân là người nước ngoài như sau:
Theo khoản 1 Điều 761 BLDS 2005: “Năng lực pháp luật dân sự của cá
nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó
có quốc tịch”.
Theo pháp luật Việt Nam, việc xác định năng lực pháp luật dân sự của
người nước ngoài được quy định tại Điều 761 Bộ luật dân sự : “ Người nước
ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam”.
Và Điều 762 BLDS Việt Nam 2005 quy định: “ 1.Năng lực hành vi dân
sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó
là công dân, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
quy định khác
2.Trong trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự
tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định
theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Về năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác lập, thực hiện
giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của họ được xác định
theo pháp luật Việt Nam.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam ( tùy theo từng trường hợp) năng lực
hành vi ký kết hợp đồng của các bên chủ thể được xác định theo luật quốc tịch
của họ ( Lex Nationalis) hoặc theo luật nơi thực hiện hành vi ( Lex Loci Actus).
Còn đối với luật nơi cư trú ( Lex domicilii) được hiểu là luật của quốc gia,
mà ở đó đương sự có nơi cư trú ổn định ( cư trú ổn định là nơi thường trú).
3
Tư pháp Quốc tế - Lớp NO3. TL2. Nhóm 2
Đối với pháp nhân nước ngoài, Điều 765 BLDS 2005 quy định: “
1.Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo
pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều này.
2.Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao
dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác

đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được ký kết bằng văn bản.
2. Đối với hợp đồng xác định theo nơi giao kết.
Đây được coi là một nguyên tắc chung trong tư pháp quốc tế để giải quyết
xung đột về hình thức hợp đồng. Theo đó hính thức của một hợp đồng chỉ được
công nhận có hiệu lực nếu nó được lập phù hợp với pháp luật nơi giao kết hợp
đồng đó. Khoản 1 Điều 770 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 cũng quy
định “Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết
hợp đồng”. Điều này xuất phát từ việc cho rằng hành vi giao kết hợp đồng là
một dạng hành vi pháp lý nên hành vi pháp lý luôn phải tuân thủ pháp luật nước
nơi thực hiện hành vi (locus regit actum). Tuy nhiên, không phải trong mọi
trường hợp đều áp dụng nguyên tắc luật nơi giao kết hợp đồng để xác định hiệu
lực hình thức hợp đồng. Có hai trường hợp đặc biệt sẽ không áp dụng nguyên
tắc này, đó là:
Hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hoặc chuyển giao quyền sở hữu
công trình, nhà cửa và các bất động sản khác trên lãnh thổ Việt Nam thì hình
thức hợp đồng phải tuân theo pháp luật Việt Nam (Khoản 2 Điều 770 Bộ luật
Dân sự Việt Nam).
Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam
thì cũng phải tuân theo pháp luật Việt Nam (Khoản 1 Điều 769), dù tính chất
của các hợp đồng này có thể có yếu tố nước ngoài.
Bên cạnh đó quy chế Rome I cũng đưa ra những trường hợp ngoại lệ của
luật nơi giao kết hợp đồng
2
.
3. Hợp đồng giao kết vắng mặt (không xác định được nơi giao kết hợp đồng).
Trong thực tiễn hiện nay, các hình thức giao kết hợp đồng gián tiếp diễn ra
ngày càng phổ biến như việc giao kết hợp đồng thông qua chào hàng hoặc chấp
nhận chào hàng. Hình thức của hợp đồng chào hàng sẽ tuân theo pháp luật của
nước nơi cá nhân cư trú hoặc nơi pháp nhân có trụ sở chính là bên đề nghị giao
1Xem Điều 11 Công ước Viên năm 1980 quy định “Hợp đồng mua bán không cần phải được

khá rõ ràng về các vấn đề liên quan đến chào hàng và chấp nhận chào hàng
4
.
4. Hợp đồng điện tử.
Giữa pháp luật và công nghệ thông tin có nhiều tác động qua lại. Có ý kiến
cho rằng, một trong những lý do dẫn đến cần phải cải cách pháp luật nói chung
là khi có sự ra đời của công nghệ mới mà pháp luật hiện hành không đủ khả
năng điều tiết. Hợp đồng điện tử là hợp đồng được giao kết thông qua việc sử
dụng phương tiện điện tử. Nói đến hợp đồng điện tử là nói đến một phương thức
thiết lập hợp đồng chứ không phải là một loại hợp đồng dựa trên một đối tượng
cụ thể nào. Công nghệ thông tin không làm thay đổi về mặt bản chất của hợp
đồng.Tuy nhiên, thực tế giao kết hợp đồng tử cũng cho thấy sự phức tạp mà hợp
đồng điện tử mang lại đối với luật hợp đồng hiện có và những vấn đề có thể nảy
sinh khi áp dụng quy định hiện tại đối với hợp đồng điện tử như vấn đề về xác
định năng lực chủ thể của các bên, bảo vệ quyền lợi nguời tiêu dùng, xác thời
điểm và địa điểm giao kết hợp đồng, vấn đề bản gốc, công chứng hợp đồng điện
tử Pháp luật hợp đồng truyền thống chưa đề cập đến những vấn đề như thông
điệp dữ liệu, giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử, chữ
ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử và vì vậy, chưa thể giải quyết những đề
rất đặc thù phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Do đó, ngày
3XemĐiều 771 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005.
4 Xem Điều 15 đến điều 22 Công ước Viên năm 1980.
6
Tư pháp Quốc tế - Lớp NO3. TL2. Nhóm 2
nay, nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh các đạo luật hợp đồng truyền thống,
người ta đã phải sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp
luật để điều chỉnh những giao dịch đuợc tiến hành bằng phuơng tiện điện tử.
Việt Nam cũng đã có nhiều văn bản điều chỉnh đến các vấn đề liên quan
đến hợp đồng điện tử như Luật giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định số
57/2006/NĐ-CP của Chính phủ về Thương mại điện tử, Thông tư số

đối với hợp đồng cũng là một hình thức thể hiện các nguyên tắc tự do ý chí.
5Xem Luật mẫu của UNCITRAL về Thương mại điện tử năm 1996 (sửa đổi năm 1998), từ Điều 5
đến Điều 15.
6 Viện Đại học mở Hà Nội, giáo trình Tư Pháp Quốc Tế, NXB Tư Pháp – 2013, tr.113
7
Tư pháp Quốc tế - Lớp NO3. TL2. Nhóm 2
Hiện nay, tự do hợp đồng đã trở thành một nguyên tắc trung tâm của hợp đồng
của nhiều quốc gia và trong các điều ước quốc tế cũng như thực tiễn pháp lý các
nước và pháp luật Việt Nam
7
. Cụ thể:
• Theo điều ước quốc tế.
- Các điều ước song phương mà Việt Nam tham gia kí kết không có nhiều quy
định về vấn đề này, và cũng có ít điều ước có quy định. Trong đó, theo Điều 36
Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam kí kết với Nga quy định: “ Nghĩa vụ phát
sinh trong hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước do các bên lựa
chọn, nếu điều đó không trái với pháp luật của các bên kí kết.”
8
. Như vậy, Hiệp
định này cũng ghi nhận nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa các bên chủ thể của
hợp đồng, đồng thời cũng quy định luật của các bên kí kết cũng có vai trò xác
định tính hợp pháp về nội dung của hợp đồng.
- Điều 3 của Quy chế Rome I năm 2008 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp
đồng cũng ghi nhận nguyên tắc tự do thỏa thuận (freedom of choice)
9
theo đó,
hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp luật được lựa chọn bởi các bên. Sự lựa chọn
phải được thể hiện hoặc chứng tỏ một cách chắc chắn hợp lý theo các điều
khoản của hợp đồng và các bên có thể lựa chọn pháp luật áp dụng cho toàn bộ
hoặc một phần của hợp đồng.

+ Luật do các bên thoả thuận là chính các điều khoản trong hợp đồng.
+ Luật do các bên thoả thuận là pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế hay
tập quán quốc tế.
Như vậy có thể thấy, luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế không chỉ giới
hạn là hệ thống pháp luật của các quốc gia trong hợp đồng quốc tế mà còn có thể
là các Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế như bộ các Điều kiện thương mại quốc
tế INCOTERMS, các nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế UNIDROIT
(PICC) hay UPC 600 quy tắc để thực hành thống nhất về thư tín dụng trong hoạt
động thanh toán quốc tế,
- Thời điểm lựa chọn pháp luật áp dụng: Về thời điểm lựa chọn pháp luật áp dụng
hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng, tuy nhiên thực tiễn giao
kết và giải quyết tranh chấp về hợp đồng các bên có thể lựa chọn luật áp dụng
đối với hợp đồng vào mọi thời điểm từ khi xây dựng điều khoản hợp đồng hoặc
trong giai đoạn thực hiện hợp đồng và cả sau khi phát sinh tranh chấp.
10
b. Phạm vi áp dụng của luật do các bên thỏa thuận.
Hệ thống pháp luật được các bên lựa chọn chỉ có hiệu lực pháp lý đối với
chính bản thân các vấn đề pháp sinh từ nội dung của hợp đồng, nó loại trừ các
vấn đề về hình thức và xác định tư cách chủ thể của các bên. Luật áp dụng điều
chỉnh nội dung của hợp đồng để xem xét các vấn đề:
- Pháp luật áp dụng điều chỉnh các vấn đề về nội dung hợp đồng: giải thích pháp
luật, thực hiện hợp đồng, hậu quả vi phạm một phần hay toàn bộ hợp đồng, hậu
quả của hợp đồng vô hiệu, các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng, thời
hiệu.
- Các bên có thể lựa chọn luật áp dụng đối với một phần hoặc toàn bộ hợp đồng
(có thể áp dụng nhiều luật nhưng phải thống nhất với nhau).
Ngoài ra cần có một số lưu ý về phạm vi áp dụng luật do thỏa thuận của các
bên. Pháp luật quốc gia và quốc tế đều có các quy định giới hạn phạm vi của
nguyên tắc tự do ý chí. Trong một số trường hợp các bên không được thỏa thuận
10 Xem giáo trình Tư Pháp Quốc Tế, Viện Đại Học Mở Hà Nội, tr.115

• Theo pháp luật Việt Nam.
Hiện nay, việc chọn luật áp dụng giải quyết tranh chấp hợp đồng tại Việt
Nam thuộc về các cơ quan tài phán (chủ yếu là tại tòa án và trọng tài). Nếu
tranh chấp giải quyết tại trọng tài thì trọng tài có thể lựa chọn theo nguyên tắc
sau:“Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, hội đồng trọng tài áp dụng pháp
luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì
hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà hội đồng trọng tài cho là
phù hợp nhất”
14
. Để chọn luật nội dung điều chỉnh quan hệ hợp đồng có yếu tố
nước ngoài, cơ quan tài phán có thể áp dụng các quy phạm của tư pháp quốc tế
11 Phụ lục , mục 2
12 Khoản 1 Điều 36 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga ngày 25 tháng 8 năm 1998.
13 Điều 4 Quy chế Rome I năm 2008
14 Khoản 2 Điều 14 Luật Trọng Tài 2010
10
Tư pháp Quốc tế - Lớp NO3. TL2. Nhóm 2
theo Điều 769 BLDSVN 2005: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng
dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu
không có thoả thuận khác”.
Như vậy, nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật pháp luật về nội dung
hợp đồng theo pháp luật Việt Nam hiện nay là “luật nơi nước thực hiện hợp
đồng” sẽ là pháp luật xác định tính hợp pháp về nội dung hợp đồng.
Thực tế cho thấy việc xác định nơi thực hiện hợp đồng hết sức phức tạp,
mỗi loại hợp đồng sẽ có cách xác định nơi thực hiện hợp đồng khác nhau và
một số loại hợp đồng đặc thù sẽ không có nơi giao kết hợp đồng như hợp đồng
thương mại điện tử. Theo quy định Khoản 2 Điều 769 BLDSVN 2005 quy định:
“Trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực
hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

2.
- Theo pháp luật Việt Nam sự thỏa thuận cũng bị hạn chế tại khoản 3 Điều 759
BLDSVN năm 2005: “ Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường
hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận đó không trái với
quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam”.
- Quy chế Rome I năm 2008 cũng đề cập tới vấn đề có một số hạn chế đối với
nguyên tắc tự do ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng tại khoản 4 Điều 3
Quy chế Rome I năm 2008:
“3. Nếu tại thời điểm kí kết hợp đồng, tất cả các yếu tố liên quan đến vụ
việc được xác lập tại một quốc gia không phải là nơi có luật áp dụng, thì luật
của quốc gia đó sẽ được áp dụng bất kể thỏa thuận của các bên
4. Nếu tại thời điểm kí kết hợp đồng, tất cả các yếu tố liên quan đến vụ việc
được xác lập tại một hoặc nhiều quốc gia thành viên, thì bất kể thỏa thuận của các
bên, luật của tòa án
(1)
sẽ được áp dụng”.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Dân sự Việt Nam 2005.
2. Quy chế Rome 2008.
3. Công ước Viên 1980.
4. Luật trọng tài Việt Nam 2010.
5. Giáo trình Tư pháp quốc tế, Đại học Luật Hà Nội. Nxb Tư pháp.
6. Giáo trình Tư pháp quốc tế, Đại học Mở Hà Nội, 2013.
7. Tư pháp quốc tế Việt Nam và vấn đề dẫn chiếu trong lính vực hợp đồng.
Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 10/2003
8. Luật áp dụng trong hợp đồng mua bán quốc tế - khóa luận tốt nghiệp, tg Nguyễn
Khánh Linh, hà Nội – 2011.
9. Một số hiệp định tương trợ tư pháp, điều ước quốc tế của Việt Nam với
các quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status