Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài bằng toà án Việt Nam đáp ứng nhu cầu gia nhập tổ chức thương mại thế giới - Pdf 25

đạI học quốc gia hà nội
khoa luật

Nguyễn Thanh Nam Hoàn thiện pháp luật về giải quyết
tranh chấp th-ơng mại có yếu tố n-ớc ngoài
bằng Tòa án Việt Nam đáp ứng nhu cầu
gia nhập Tổ chức th-ơng mại thế giới

Chuyờn ngnh: Lut Quc t
Mó s: 60.38.60 TóM TắT luận văn thạc sĩ luật học
H Ni - 2007 Công trình được hoàn thành tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Chí Hiếu

1.1.2 Phân loại tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài 12
1.1.3 Giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài 14
1.1.4 Các hình thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc
ngoài 17
1.2 Giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng Tòa án ở
một số quốc gia 22
1.2.1 Các nƣớc theo truyền thống luật Châu Âu lục địa 23
1.2.2 Các nƣớc theo truyền thống luật Anh - Mỹ 24
1.2.3 Giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng Tòa án của các nƣớc
ASEAN 25
1.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại trong khuôn khổ WTO 26
1.3.1 Khái quát về WTO và cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại 26
1.3.2 Sự phát sinh tranh chấp và phƣơng thức tiến hành khởi kiện 28
1.3.3 Các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO 28
1.3.4 Tiến trình giải quyết vụ kiện tại WTO 30
1.3.5 Việt Nam và những ƣu đãi trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại
của WTO đối với các nƣớc đang phát triển 36

1.3.6 So sánh cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và Tòa án Việt
Nam 40
1.4 Pháp luật về giải quyết các tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài
bằng Tòa án tại Việt Nam 42
1.4.1 Hệ thống pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp thƣơng mại
có yếu tố nƣớc ngoài 42
1.4.2 Những nội dung cơ bản trong pháp luật về giải quyết tranh chấp
thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài bằng Tòa án 44
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƢƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI BẰNG TÒA ÁN VIỆT NAM 46
2.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài 46
2.1.1 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam 46 BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự
BLDS

Bộ luật Dân sự
DSB
Dispute Settlement Body
Cơ quan giải quyết tranh
chấp của WTO
DSU
Dispute Settlement
Understanding
Bản ghi nhớ về giải quyết
tranh chấp
HĐKT

Hợp đồng kinh tế
TAND

Tòa án nhân dân
TANDTC

gia nhập tổ chức này [64]. Đây là tổ chức thương mại lớn nhất thế giới với các giao
dịch thương mại giữa các nước thành viên chiếm khoảng 98% giao dịch thương mại
quốc tế. Tổng sản lượng quốc dân của các nước trong WTO chiếm khoảng 93%
tổng sản lượng quốc tế [57]. Tất cả các thành viên của WTO đều có một sân chơi
kinh tế bình đẳng bất kể giàu hay nghèo, được bảo vệ quyền và lợi ích của mình
thông qua hệ thống giải quyết tranh chấp bình đẳng, mạnh mẽ và hiệu quả của WTO.
2
Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ tham gia vào một sân chơi lớn nhất toàn cầu về
thương mại, là bước đi quan trọng nhất trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế
giới. Việt Nam sẽ được hưởng rất nhiều lợi ích về thương mại, dịch vụ với tư cách
là thành viên cũng như được bảo vệ nền kinh tế của mình đối với các nước lớn như
Mĩ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU Tuy nhiên, Việt Nam cũng sẽ đối mặt với rất
nhiều thách thức về năng lực cạnh tranh, môi trường pháp lý và nhất là trong điều
kiện nền kinh tế đang có trình độ phát triển thấp, khi tham gia hội nhập sẽ rất dễ dẫn
đến tình trạng khó kiểm soát.
Trong bối cảnh mở rộng hội nhập quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã trở thành
thành viên chính thức của WTO, các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài
xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam. Các tranh chấp phát sinh đòi hỏi phải được
giải quyết thỏa đáng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp,
bảo vệ trật tự công cộng.
Với điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay, các tranh chấp thương mại nói
chung và tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài nói riêng chủ yếu được giải
quyết bằng con đường Tòa án. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp thương mại có
yếu tố nước ngoài bằng Tòa án của Việt Nam trong thời gian qua đang bộc lộ nhiều
bất cập, chưa tạo được niềm tin đối với các nhà kinh doanh, nhất là các doanh nhân
nước ngoài. Việc giải quyết các tranh chấp thương mại thường có thời gian giải
quyết lâu, qua nhiều cấp xét xử hoặc thường xuyên hoãn phiên tòa để bổ sung thêm
tài liệu. Các Tòa án cấp tỉnh, kể cả tòa án ở thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh khi xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài rất hiếm khi áp dụng pháp luật
nước ngoài hoặc sử dụng các quy định trong các điều ước quốc tế để giải quyết. Rất ít

pháp lý liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh
doanh thương mại bằng Tòa án của Việt Nam trên cơ sở các quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự (BLTTDS), trong mối liên hệ với các quy định của WTO về giải
quyết tranh chấp.
4
Với tính chất của đề tài này, luận văn không nghiên cứu tất cả các vấn đề về
giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án mà chỉ đặt trọng tâm vào việc làm rõ
các đặc trưng pháp lý của quá trình này, từ đó chỉ ra những điểm bất tương thích
của pháp luật Việt Nam với các quy định của WTO.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với tính chất và các yêu cầu đặt ra từ đề tài này, luận văn sử dụng phổ biến
các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích; so sánh luật học; khảo sát
đánh giá thực tiễn, thống kê
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm phong phú thêm kiến thức khoa học luật chuyên
ngành về WTO, cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài,
những yêu cầu đặt ra cho việc giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước
ngoài trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO.
Bên cạnh giá trị lý luận, đề tài nghiên cứu còn mang giá trị thực tiễn với việc
phân tích những bất hợp lý trong cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố
nước ngoài bằng Tòa án của Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng xét xử của
Tòa án trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập nền kinh tế thế giới mà trước mắt là
quá trình thực hiện các cam kết khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước
ngoài bằng Tòa án Việt Nam và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại có
yếu tố nước ngoài bằng Tòa án Việt Nam.

Thương mại Pháp. Thương mại tách biệt với dân sự nhưng chỉ là một dạng đặc thù
của quan hệ dân sự. Các hành vi thương mại bao gồm 6 loại: 1/ mua tài sản để bán
6
lại; 2/ các xí nghiệp sản xuất, chuyên chở những hãng thầu cung cấp vật liệu, những
hãng bán đấu giá công khai; 3/ các nghiệp vụ hối đoái, ngân hàng, giao dịch chứng
khoán, bảo hiểm; 4/ các nghiệp vụ trung gian, đại diện, đại lý thương mại; 5/ khai
thác hầm mỏ và nguyên liệu; 6/ Giải trí công cộng: nhà hát, rạp chiếu phim, rạp
xiếc (Điều 632 Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807).
Còn theo Bộ luật Thương mại của Việt Nam cộng hòa, hành vi thương mại
được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: 1/ các hành vi chế tạo, chế biến các sản phẩm
kỹ nghệ; 2/ khai thác hầm mỏ và nguyên liệu; 3/ mua hàng để bán lại; 4/ thuê tài
sản; 5/ các hoạt động vận chuyển, bảo hiểm, hối đoái ngân hàng, giao dịch chứng
khoán, trung gian thương mại (các điều từ 340 đến 346 Bộ luật Thương mại của
Việt Nam cộng hòa).
Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung bao cấp, các tranh chấp liên quan đến
hoạt động thương mại hay hoạt động kinh tế đều gọi là tranh chấp kinh tế hoặc
tranh chấp kinh doanh với ý nghĩa là tất cả các hoạt động kinh tế thực hiện theo mô
hình kế hoạch hóa tập trung trên cơ sở chỉ tiêu, kế hoạch của nhà nước. Nguyên
nhân là trong thời kỳ đó, chúng ta chịu ảnh hưởng của nền luật học Xô viết cùng với
sự tồn tại của một ngành luật độc lập là ngành luật kinh tế. Trong thời kỳ mà hoạt
động kinh tế chủ yếu là kế hoạch hóa tập trung với sự thống trị của khu vực kinh tế
nhà nước và kinh tế tập thể sử dụng mệnh lệnh hành chính thì mọi hoạt động kinh tế
chủ yếu do nhà nước thực hiện và chi phối. Kinh tế tư nhân, tư bản không có điều
kiện phát triển. Các đơn vị kinh tế đều hoạt động thông qua kế hoạch và sử dụng
hợp đồng kinh tế làm công cụ thực hiện kế hoạch được giao. Do đó, các tranh chấp
kinh tế trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung đôi khi đồng nghĩa với tranh chấp hợp
đồng kinh tế [19, tr13].
Bắt đầu từ khi có Luật Thương mại năm 1997, khái niệm thương mại đã
được chính thức định nghĩa trở lại. Theo Luật Thương mại năm 1997, hoạt động
thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân,

doanh. TS. Nguyễn Thị Kim Vinh xác định “Trong các loại hình tranh chấp kinh tế,
tranh chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó, trong
8
một số trường hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp
kinh tế được sử dụng với ý nghĩa tương đương với nhau” [27].
Có ý kiến cũng cho rằng: “Tranh chấp trong kinh doanh là một dạng của
tranh chấp kinh tế, biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ
giữa các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lời” [9, tr10].
Sau khi Việt Nam ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ngày
13/7/2000 và được Quốc hội phê chuẩn ngày 28/11/2001, quan niệm về thương mại
và tranh chấp thương mại của chúng ta đã được mở rộng và mang bản chất của
thương mại. Khái niệm thương mại bao gồm thương mại hàng hoá, thương mại dịch
vụ, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư [5, tr.156]. Còn tranh chấp thương mại là tranh
chấp phát sinh giữa các bên trong một giao dịch thương mại (Điều 9.4 Chương I).
Ngoài ra Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ còn phân biệt thêm về thương
mại nhà nước. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam sửa đổi và ban hành hàng loạt
các văn bản pháp luật quan trọng sau này về thương mại và giải quyết tranh chấp
thương mại.
Các quan niệm về thương mại như trong Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp
tục được thể hiện trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, BLTTDS năm
2004 và Luật Thương mại năm 2005.
Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định: “Hoạt động thương mại là
việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh
bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương
mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư;
tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành
khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi
thương mại khác theo quy định của pháp luật”.
Quan niệm về thương mại trong BLTTDS lại được thể hiện bằng việc liệt kê

kỹ thuật; cấp phép; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hay
10
nhượng quyền; liên doanh và các hình thức khác của công nghiệp hay hợp tác
thương mại; vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách bằng máy bay, đường biển,
đường sắt hay đường bộ” [39].
1.1.1.2 Quan niệm về yếu tố nước ngoài trong tranh chấp thương mại
Thuật ngữ “yếu tố nước ngoài” lần đầu tiên được xác định cụ thể trong
BLDS năm 1995. Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là các
quan hệ dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ
để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên
quan đến quan hệ đó ở nước ngoài (Điều 826). Nghị định số 60/CP ngày 06/6/1997
hướng dẫn thi hành các quy định của BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
một lần nữa khẳng định yếu tố nước ngoài thuộc một trong các trường hợp: 1/ Có
người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia; 2/ Căn cứ để xác lập, thay đổi,
chấm dứt ở nước ngoài; 3/ Tài sản liên quan ở nước ngoài. Trong đó, "người nước
ngoài" là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và
người không có quốc tịch; "pháp nhân nước ngoài" là tổ chức có tư cách pháp nhân
theo quy định của pháp luật nước ngoài.
Tuy nhiên, quan niệm về yếu tố nước ngoài vẫn bỏ sót một số đối tượng nên
xảy ra nhiều trường hợp tranh cãi về yếu tố nước ngoài như việc xác định quốc tịch
của cá nhân, pháp nhân. Thời điểm này, pháp luật Việt Nam không thừa nhận cá
nhân vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước khác (Điều 3, Luật Quốc
tịch năm 1998). Do đó, công dân Việt Nam đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài
vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài hoặc bị mất quốc tịch sẽ
rất khó được pháp luật Việt Nam bảo vệ với tư cách là công dân Việt Nam.
Bắt đầu từ BLTTDS năm 2004, khái niệm yếu tố nước ngoài được xác định
rõ ràng hơn trong đó quy định có ít nhất một trong các đương sự là người nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các
đương sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay
đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài

- Đó là các mâu thuẫn, xung đột về lợi ích thương mại giữa các bên khi tham
gia các quan hệ thương mại.
- Các mâu thuẫn, xung đột này phát sinh từ các quan hệ pháp luật được thiết
lập trên cơ sở bình đẳng, thoả thuận, tự nguyện;
- Các quan hệ pháp luật làm phát sinh tranh chấp có yếu tố nước ngoài như
một bên hoặc các bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc
căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có tranh chấp phát sinh ở nước ngoài
hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài.
Với những phân tích nêu trên, tác giả đề xuất khái niệm về tranh chấp thương
mại có yếu tố nước ngoài như sau: “Tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài là
các mâu thuẫn, xung đột về lợi ích của ít nhất một bên có mục đích lợi nhuận và
một trong các bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài hoặc là các quan hệ giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt
Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước
ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan ở nước ngoài.”
1.1.2 Phân loại tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài
Tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài xảy ra trên thực tế hết sức đa
dạng, phong phú. Do đó, việc phân loại các tranh chấp thương mại có yếu tố nước
ngoài giúp cho quá trình giải quyết tranh chấp có định hướng, thuận lợi và hiệu quả.
1.1.2.1 Phân loại theo chủ thể của quan hệ tranh chấp
Do quan hệ tranh chấp có yếu tố nước ngoài nên các yêu cầu về xác định chủ
thể hết sức quan trọng. Theo cách phân loại này, tranh chấp thương mại có yếu tố
nước ngoài bao gồm những loại sau:
- Một trong các bên tham gia tranh chấp là người nước ngoài; người Việt
Nam ở nước ngoài;
- Các bên tham gia tranh chấp đều là cá nhân, tổ chức Việt Nam nhưng căn
cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại
nước ngoài hoặc tài sản liên quan ở nước ngoài.
13
Sở dĩ có sự phân biệt như trên là do năng lực hành vi, năng lực pháp luật của

về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ là tranh chấp dân sự nhưng nếu có
mục đích lợi nhuận thì được coi là tranh chấp thương mại. Tuy nhiên, có những
tranh chấp thương mại không mang tính lợi nhuận trực tiếp như: tranh chấp giữa
công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau
liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách,
chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty (Điều 29 khoản 3 BLTTDS).
1.1.3 Giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài
Giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài được mọi quốc gia
coi trọng vì kết quả của các phán quyết không chỉ ảnh hưởng đến môi trường kinh
doanh của một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhiều
quốc gia khác, nhất là trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu đang phát triển mạnh với
những công ty hoạt động ở hàng trăm quốc gia khác nhau. Quá trình giải quyết
tranh chấp cũng phức tạp hơn, ngoài việc áp dụng pháp luật quốc gia, pháp luật
quốc tế cũng có ảnh hưởng lớn đến thủ tục giải quyết tranh chấp như các hiệp định
thương mại song phương, đa phương, các điều ước quốc tế, quy định của các tổ
chức thương mại quốc tế mà quốc gia là thành viên.
BLTTDS đã dành hẳn Phần thứ chín để quy định về thủ tục giải quyết các vụ
việc dân sự có yếu tố và tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự. Ngoài ra, có nhiều
nội dung trong BLTTDS quy định riêng liên quan đến giải quyết tranh chấp thương
mại có yếu tố nước ngoài như Phần Thứ sáu: “Thủ tục công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài
nước ngoài”
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, giải quyết tranh chấp thương mại có
yếu tố nước ngoài là việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương
mại mà một bên hoặc các bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia
hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có tranh chấp phát sinh ở nước
ngoài hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài [49, Đ2].
15
Mục đích của việc giải quyết tranh chấp thương mại nói chung là việc tìm ra
giải pháp giải quyết các vấn đề bất đồng giữa các bên nhằm bảo đảm quyền và lợi

APEC, ASEAN, ASEM nên cũng phải tuân thủ các quy định về thương mại và
giải quyết tranh chấp thương mại được quy định trong các hiệp định của tổ chức.
Theo thỏa thuận giữa các bên về giải quyết tranh chấp, việc giải quyết tranh
chấp thương mại có yếu tố nước ngoài có thể áp dụng pháp luật nước ngoài để giải
quyết. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài chủ yếu là luật nội dung để xác định về
phạm vi và nội dung tranh chấp, còn luật tố tụng về thủ tục giải quyết tranh chấp
thông thường tuân theo pháp luật nơi giải quyết tranh chấp. Công ty trách nhiệm
hữu hạn A của Việt Nam ký hợp đồng mua hàng hóa của công ty B quốc tịch
Singapore tại Singapore, trong đó điều khoản giải quyết tranh chấp hợp đồng quy
định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án Việt Nam. Việc giao
hàng tại cảng của Singapore. Khi tiến hành giao nhận, công ty A nhận thấy hàng
hóa không đúng quy cách, chất lượng cam kết trong hợp đồng. Công ty A đã không
nhận số hàng trên và khởi kiện ra Tòa án kinh tế Việt Nam. Tòa án kinh tế Việt
Nam thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng của Việt Nam nhưng pháp luật áp dụng
để xác định năng lực pháp nhân của công ty B là pháp luật Singapore [34; Đ765];
quy cách, chất lượng hàng hóa phải tuân theo pháp luật của nơi thực hiện hợp đồng
là Singapore.
Thứ hai, giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài phải phù
hợp với các quy tắc và tập quán thương mại quốc tế như quy định của luật mẫu
UNCITRAL, các tập quán thương mại hàng hải (CIF, FOF ), thanh toán L/C
Thứ ba, người giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài phải có
chuyên môn cao, am hiểu hoạt động kinh doanh, thương mại quốc tế, các “ngón
nghề, thủ thuật” Ở nhiều nước trên thế giới, thẩm phán, hội thẩm hay trọng tài
thương mại được bầu từ những thương gia có uy tín như Pháp, Đức, Nga
17
Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài dễ gây
ảnh hưởng đến thị trường trong phạm vi rộng lớn liên quan đến nhiều quốc gia nên
các phán quyết đưa ra phải hết sức thận trọng, trường hợp cá biệt phải có sự can
thiệp của các hoạt động ngoại giao.
1.1.4 Các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài

Phương thức hòa giải có những lợi thế nhất định như:
- Tranh chấp được giải quyết nhanh chóng mà vẫn duy trì được quan hệ
kinh doanh và các bí mật kinh doanh;
- Chi phí giải quyết tranh chấp thấp.
Biện pháp hòa giải cũng luôn được sử dụng khi các bên tiến hành các thủ tục
tố tụng tại Trọng tài hay Tòa án.
1.1.4.3 Trọng tài
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng
do pháp luật quy định [49, Đ2]. Trọng tài là tổ chức phi chính phủ có chức năng giải
quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo một trình tự, thủ tục nhất định.
Khác với Tòa án, Trọng tài giải quyết tranh chấp đóng vai trò trung gian, trên cơ sở
ý chí thỏa thuận của các bên để đưa ra phán quyết trọng tài giúp các bên giải quyết
tranh chấp.
Có hai hình thức trọng tài là trọng tài giải quyết theo vụ việc (ad-hoc) và
trọng tài thường trực. Trọng tài giải quyết theo vụ việc là trọng tài đặc biệt thường
chỉ sử dụng để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế có tính chất đơn giản,
mềm dẻo. Khi giải quyết xong vụ việc, trọng tài tự giải thể. Trọng tài thường trực là
19
hình thức trọng tài phổ biến, được thành lập dưới dạng Trung tâm trọng tài, có tổ
chức và hoạt động theo quy tắc tố tụng riêng.
Về thẩm quyền, Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp phát
sinh trong hoạt động thương mại theo sự thoả thuận của các bên. Hoạt động thương
mại trước đây theo Luật thương mại năm 1997 bao gồm 14 hành vi thương mại
(Điều 45), nhưng theo Luật thương mại năm 2005, hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Khái niệm
này gần hơn với quan niệm về thương mại trong Công ước Viên năm 1980 về mua
bán hàng hoá quốc tế và Luật mẫu UNCITRAL (Điều 1).
Về thủ tục, các bên muốn tiến hành tố tụng Trọng tài chỉ khi các bên có thỏa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status