ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM ÁI LINH
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT
SINH TỪ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG Ở
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM ÁI LINH
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT
SINH TỪ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG Ở
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thuận
NGƢỜI CAM ĐOAN
Phạm Ái Linh
2
MỤC LỤC
Trang
Lời cam loan ………………….………………………………...………...…2
Mục lục ………………………………………………………..…….………3
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ……………………………...………6
MỞ ĐẦU …………………………………………………………...……….7
1.
Tính cấp thiết của đề tài ……………………………………………...……...7
2.
Mục tiêu nghiên cứu ……………………………………………..………….8
2.1.
Mục tiêu tổng quát …………………………………………...……………..8
2.2.
Mục tiêu cụ thể …………………………………………..…………………..8
Khái niệm, đặc trưng về tranh chấp, giải quyết tranh chấp và sự cần thiết
phải giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng...…..18
1.2.1. Khái niệm về tranh chấp phát sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng ..……18
1.2.2. Một số đặc trưng của tranh chấp phát sinh từ hoạt động BLNH …… …….20
1.2.3. Giải quyết tranh chấp và sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp phát sinh từ
hoạt động bảo lãnh ngân hàng ……………………………………………...23
3
1.3. Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân
hàng…………………………………………………………………………..25
1.3.1. Khái niệm pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh về bảo lãnh ngân
hàng…………………………………………………………………………25
1.3.2. Nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
bảo lãnh ngân hàng …………………………………………………………25
1.4. Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở một
số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam …………...……………38
Chƣơng 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp phát
sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam……………..………..41
2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh ngân hàng trong giải quyết tranh chấp
phát sinh từ hoạt động BLNH ở Việt Nam…………………………….…….41
2.1.1. Thực tiễn các quy định pháp luật về bảo lãnh ngân hàng……………...……41
2.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo lãnh ngân hàng trong giải quyết tranh
chấp phát sinh từ hoạt động BLNH ở Việt Nam……………..………………48
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh
trong hoạt động BLNH ở Việt Nam…………………………………….……50
2.3. Thực tiễn áp dụng các quy định về phương thức giải quyết tranh chấp……..51
2.3.1. Thực tiễn quy định pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp…...…..51
3.2.1. Về chủ thể giải quyết trong quan hệ pháp luật bảo lãnh ngân hàng……..…68
3.2.2. Hoàn thiện pháp luật quy định về bảo lãnh ngân hàng trong giải quyết tranh
chấp phát sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam……...………71
3.2.3. Giải pháp về phương thức giải quyết tranh chấp…………………………...78
3.2.4. Giải pháp về thủ tục giải quyết tranh chấp ………………………………….81
3.2.5. Một số giải pháp, kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước…………………84
KẾT LUẬN ……………………………………………...…………...……86
Danh mục tài liệu tham khảo …………………………..……………...…88
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật Dân sự
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng dân sự
BLNH
Bảo lãnh ngân hàng
KDTM
Kinh doanh thương mại
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng nói riêng luôn có một vai trò
quan trọng trong việc bình ổn thị trường tiền tệ, giữ vững sự ổn định của thị trường
tài chính quốc gia, thúc đẩy sự tăng trưởng của kinh tế đất nước. Để khẳng định vai
trò của mình và phù hợp với xu thế phát triển kinh tế, các Ngân hàng thương mại
trên thế giới ngày càng có xu hướng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ của mình.
Bảo lãnh ngân hàng là một trong những hoạt động tín dụng phổ biến của Ngân hàng
thương mại hiện đại, đồng thời cũng là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đem
lại cho ngân hàng nhiều lợi ích thiết thực, thúc đẩy các giao dịch về vốn, hỗ trợ các
giao dịch kinh doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong lĩnh vực dự
thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm… Tại Việt Nam, bảo lãnh
ngân hàng được thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20 với các quy định pháp
luật được hoàn thiện dần qua các thời kỳ và đã có những tác động tích cực đến sự
phát triển vững mạnh của đất nước. Tuy nhiên, trước sự biến động của khủng hoảng
kinh tế thế giới và trong nước, hoạt động kinh doanh tiền tệ nói chung và hoạt động
dịch vụ nói riêng trong đó có hoạt động bảo lãnh ngân hàng càng ngày càng tiềm ẩn
nhiều rủi ro. Việc thực trạng các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, dẫn tới
các tranh chấp có liên quan đến hoạt động bảo lãnh ngân hàng đang có xu hướng
tăng dần, giá trị tranh chấp đặc biệt lớn, nguy cơ rủi ro cao cho doanh nghiệp, đặc
biệt là các ngân hàng đứng ra bảo lãnh gây mất an toàn tín dụng, ảnh hưởng đến nền
kinh tế. Các tranh chấp trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam đang diễn
ra rất phổ biến trong thời gian gần đây song việc giải quyết tranh chấp còn nhiều bất
cập và chưa đáp ứng được đòi hỏi của các quan hệ kinh tế. Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến tình trạng này nhưng lý do chủ yếu nhất là do các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động bảo lãnh còn chưa rõ ràng và đầy đủ,
nhiều khi còn chồng chéo gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh tiền tệ nói chung
và hoạt động bảo lãnh nói riêng. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về hoạt động bảo lãnh
ngân hàng nói chung là một yêu cần bức thiết để khơi thông dòng chảy của hoạt
7
với mục đích bảo đảm quyền lợi của bên có quyền đã cam kết thực hiện thay nghĩa
vụ của bên có nghĩa vụ khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ của mình. Trách nhiệm của bên thứ ba là trách nhiệm bổ sung với trách
nhiệm của bên có nghĩa vụ và nó chỉ tồn tại khi nghĩa vụ nó đảm bảo tồn tại trên
thực tế.
Trong pháp luật Hoa Kỳ: “Bảo lãnh chính là sự thỏa thuận, theo đó người
bảo lãnh chấp thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả
nợ, là việc bên bảo lãnh bảo đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ
trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện”. [29]
Theo pháp luật dân sự Việt Nam thì: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau
đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo
lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo
lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải
thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ
của mình”. [13, Điều 361]
Như vậy, ta có thể hiểu bảo lãnh là thoả thuận giữa các bên, trong đó bên bảo
lãnh cam kết sẽ thực hiện các nghĩa vụ theo thoả thuận đối với bên nhận bảo lãnh
11
khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo
thoả thuận. Với định nghĩa trên thì ta thấy bảo lãnh có hai đặc điểm cơ bản :
Một là, bảo lãnh là sự thoả thuận của các bên trong đó các bên tham gia có
thể là: Bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh trong đó bắt buộc
phải có bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
Hai là, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trước tiên thuộc về bên được bảo
lãnh. Trong bảo lãnh đối tượng trực tiếp được đưa ra bảo đảm là sự cam kết. Chỉ khi
nghĩa vụ bị vi phạm thì người thứ ba cam kết mới thực hiện các nghĩa vụ thay cho
số 386/2001/QĐ-NHNN ngày 11/04/2001 và Quyết định số 112/2003/QĐ-NHNN
ngày 11/02/2003.
Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng đã được hoàn thiện dần qua các văn bản
pháp luật, tại Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Ngân hàng
Nhà nước về Quy chế bảo lãnh ngân hàng thì "bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng
văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách
hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận
bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay".
Tại Khoản 18, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì "Bảo
lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng theo đó TCTD cam kết với bên nhận bảo
lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách
hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách
hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận".
Và sau đó là Thông tư 28 /2012/TT-NHNN ngày 03/10/2012 của Ngân hàng
Nhà nước (thay thế Quyết định số 26) đã khẳng định: “Bảo lãnh ngân hàng (sau
đây gọi là bảo lãnh) là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng
văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được
bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả
cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận”.
Nhìn chung, khái niệm "bảo lãnh ngân hàng" theo định nghĩa tại các văn bản
trích dẫn trên đều có những điểm cơ bản: Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn
bản của một bên thứ ba ngoài quan hệ hợp đồng giữa hai bên. Cam kết bằng văn
13
bản là văn bản bảo lãnh của bên thứ ba, bao gồm Thư bảo lãnh và Hợp đồng bảo
lãnh.
hợp khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận
bảo lãnh; (ii) Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh về
việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách
hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình
khi đến hạn; (iii) Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của TCTD với bên mời thầu, để đảm
bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp khách hàng phải nộp
phạt do vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ tiền phạt
do bên mời thầu thì TCTD sẽ thực hiện thay; (iv) Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là
cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ
các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh.
Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho bên nhận bảo
lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì TCTD sẽ thực hiện thay;
(v) Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: là cam kết của TCTD với bên nhận
bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thỏa thuận về chất lượng của
sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng
vi phạm chất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì TCTD sẽ thực hiện thay; (vi) Bảo lãnh
hoàn trả tiền ứng trước: là cam kết của TCTD với bên nhận bảo lãnh về việc bảo
đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký với bên
nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải hoàn trả tiền ứng
trước mà không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ thì TCTD sẽ thực hiện thay.
Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh có (i) Bảo lãnh trực tiếp: là bảo
lãnh trong đó ngân hàng bảo lãnh chịu trách nhiệm phát hành bảo lãnh trực tiếp theo
yêu cầu của người được bảo lãnh. Sau khi ngân hàng đã bồi thường cho người thụ
hưởng bảo lãnh, người được bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân
hàng phát hành.
Bảo lãnh trực tiếp thông thường có ba bên tham gia: Ngân hàng phát hành
bảo lãnh, người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh. Trường hợp người thụ
hưởng bảo lãnh là người nước ngoài có thể có thêm ngân hàng ở cùng quốc gia với
Hai là, chức năng công cụ tài trợ vốn: Không chỉ là bảo đảm, bảo lãnh còn là
công cụ tài trợ cho người được bảo lãnh. Thông qua bảo lãnh người được bảo lãnh
không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh, được vay nợ hoặc được kéo dài thời
16
gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ… Do vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn
như trong cho vay nhưng BLNH giúp cho bên được bảo lãnh được hưởng những
thuận lợi về ngân quỹ như trong trường hợp cho vay.
Ba là, chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng: Bảo lãnh cho phép người
nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu thanh toán khi người được bảo lãnh vi phạm hợp
đồng cam kết trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh và bên bảo lãnh có
quyền đòi lại những khoản tiền này. Do đó, bên bảo lãnh luôn phải theo dõi kiểm
tra giám sát và đôn đốc việc thực hiện hợp đồng của bên được bảo lãnh. Mặt khác,
trong trường hợp bên bảo lãnh phải thanh toán tiền bồi hoàn cho bên nhận bảo lãnh
thì bên được bảo lãnh cũng sẽ phải có trách nhiệm nợ và hoàn trả khoản bồi hoàn đó
cho bên bảo lãnh. Người được bảo lãnh luôn bị một áp lực cho việc bồi hoàn bảo
lãnh. Như vậy, bảo lãnh có chức năng đôn đốc người được bảo lãnh thực hiện hoàn
tất hợp đồng đã ký kết. Điều này càng làm tăng thêm tính bảo đảm cho người nhận
bảo lãnh và có mối liên quan chặt chẽ giữa chức năng bảo đảm và chức năng đôn
đốc hoàn thành hợp đồng. Mặc dù vậy, khi ký kết hợp đồng và thụ hưởng bảo lãnh,
người nhận bảo lãnh vẫn mong muốn người được bảo lãnh thực hiện hợp đồng chứ
không mong chờ ở khoản bồi hoàn tài chính từ bảo lãnh.
1.1.5. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
Hiện nay, bảo lãnh đã phát triển rộng rãi trên hầu hết các lĩnh vực, có vai trò
rất to lớn đối với nền kinh tế. BLNH có vai trò kép, vừa là hoạt động cấp tín dụng
vừa là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, là công cụ tiện ích được sử dụng rộng
rãi để trợ giúp các giao dịch kinh tế, không chỉ hỗ trợ cho các hợp đồng thương mại
mà cả giao dịch phi thương mại, tài chính. BLNH không chỉ là một động lực tạo sự
phải giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng
1.2.1. Khái niệm về tranh chấp phát sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng
Tranh chấp là một hiện tượng khách quan trong xã hội. Từ khi hàng hóa xuất
hiện thì cũng diễn ra các hoạt động thương mại, con người bắt đầu tiến hành các
trao đổi hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu của mình. Những mâu thuẫn xuất phát từ
việc sản xuất, trao đổi và thông thương hàng hóa cũng bắt đầu xuất hiện, đó là tranh
chấp thương mại. Sự hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta trong những năm
đầu của thế kỷ này được diễn ra trong bối cảnh sự phát triển theo chiều rộng và
chiều sâu của các quan hệ kinh tế với tốc độ nhanh chóng chưa từng có để từng
18
bước khẳng định nó là bộ phận không thể thiếu được của thị trường thế giới. Tranh
chấp trong kinh tế nói chung và trong kinh doanh nói riêng với tính cách là hệ quả
tất yếu của quá trình này cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại và gay gắt phức
tạp hơn về tính chất và quy mô. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, song đa số các nhà
khoa học đều thống nhất rằng, tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính
kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể
tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau. Ở đâu có hoạt động kinh
doanh thương mại thì ở đó có khả năng phát sinh tranh chấp. Tranh chấp là hệ quả
tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh, vì vậy giải quyết các tranh chấp phát
sinh được coi là tự thân của các quan hệ kinh tế. Ở góc độ khái quát chung, giải
quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp
thích hợp để giải toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập
lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được [30]. Trong nền
kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế càng phát triển, tranh chấp càng trở nên đa
dạng và phức tạp. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dưới sự tác động của quy
luật cạnh tranh, những bất đồng, xung đột xảy ra giữa các chủ thể kinh doanh là
điều khó tránh khỏi, tranh chấp đã trở thành một hện tượng bình thường đối với mọi
1]; hoạt động này được sử dụng để trợ giúp các giao dịch kinh tế, hỗ trợ cho các
hợp đồng thương mại mà cả giao dịch phi thương mại, tài chính, là hoạt động kinh
tế. BLNH được thực hiện thông qua hình thức bằng văn bản, bao gồm Hợp đồng
bảo lãnh, Thư bảo lãnh, các hình thức khác pháp luật không cấm và phù hợp với
thông lệ quốc tế, qua đó xác lập quan hệ bảo lãnh ngân hàng với các chủ thể bên
bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh.
Do đó, tranh chấp phát sinh từ các hoạt động bảo lãnh ngân hàng là những
tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, là những mâu thuẫn, bất đồng
(hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ bảo lãnh ngân
hàng, xảy ra khi có sự vi phạm các nghĩa vụ trong quá trình thực hiện các hợp đồng.
1.2.2. Một số đặc trƣng của tranh chấp phát sinh từ hoạt động BLNH:
1.2.2.1. Các dạng tranh chấp cơ bản phát sinh trong hoạt động BLNH:
BLNH là mối quan hệ đa phương, với sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, đó là
bên được bảo lãnh, bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Trong quan hệ đa phương
này, quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là quan hệ gốc, làm phát
20
sinh nghĩa vụ được bảo lãnh. Trên cơ sở này sẽ xuất hiện thêm hai quan hệ nữa giữa
bên được bảo lãnh với bên bảo lãnh và giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Vì
vậy, khi có tranh chấp xảy ra sẽ có 03 dạng tranh chấp cơ bản phát sinh trong hoạt
động bão lãnh ngân hàng.
Thứ nhất, tranh chấp đó cụ thể là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và
nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ bảo lãnh, nảy sinh khi có một bên có hành
vi vi phạm nghĩa vụ hoặc các điều khoản của hợp đồng;
Thứ hai, những mâu thuẫn, bất đồng đó phát sinh từ văn bản cam kết bảo lãnh
của một bên thứ ba ngoài quan hệ hợp đồng giữa hai bên.
Thứ ba, những mâu thuẫn, bất đồng đó phát sinh giữa các chủ thể: Bên bảo
lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
này là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Chính vì vậy, khi giải quyết tranh
chấp phát sinh trong hoạt động bảo lãnh thì ngoài việc căn cứ quy định Khoản 2,
Khoản 3, Điều 410 BLDS còn phải áp dụng Nghị định 163/2006/NĐ–CP của Chính
phủ ngày 29/11/2006 về giao dịch đảm bảo đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012
(Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012), cụ thể quy định tại Điều 15 về quan
hệ giữa giao dịch bảo đảm và hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, theo đó thì:
1. Hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh bị vô hiệu mà các
bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì BLNH chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần
hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì BLNH không chấm dứt, trừ
trường hợp có thoả thuận khác.
2. BLNH vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và
bên được bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3. Hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh bị huỷ bỏ hoặc
đơn phương chấm dứt thực hiện mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì BLNH
chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo
đảm thì BLNH không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4. BLNH bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện không làm chấm
dứt hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả
thuận khác.
22
5. Trong trường hợp BLNH không chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và
khoản 3 Điều này thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh
toán nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình.
1.2.3. Giải quyết tranh chấp và sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp phát
sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng
Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng được hiểu
là các hình thức, các phương pháp, nguyên tắc, thủ tục nhằm giải quyết các bất