Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Toà án ở Việt Nam - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN THỊ THÙY TRANG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG
CON ĐƢỜNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI- 2014

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự chỉ bảo tận tình
của người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Lan Hương.
Góp phần giúp tôi hoàn thành luận văn này còn có sự chỉ bảo tận tình
của các cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã giúp tôi trong việc thu
thập các nguồn tư liệu cho bài viết của mình.
Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các thầy cô
trong Khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, giáo viên hướng dẫn TS.
Nguyễn Thị Lan Hương, các cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, gia
đình đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này.

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu được trích dẫn theo nguồn đã công bố. Kết quả nêu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

1.1.1. Khái niệm hợp đồng tín dụng 5
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng tín dụng 6
1.2. Khái niệm, phân loại, nguyên nhân tranh chấp hợp đồng tín
dụng 9
1.2.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng 9
1.2.2. Phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng 10
1.2.3. Nguyên nhân tranh chấp hợp đồng tín dụng 13
1.3. Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng 20
Kết luận Chƣơng 1 28

CHƢƠNG 2 :THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG
CON ĐƢỜNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 29
2.1. Thực trạng quy định thẩm quyền của Toà án và trình tự thủ tục
giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng 29 2.1.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín
dụng bằng con đường toà án 31
2.1.3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng bằng con đường toà án 33
2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
bằng con đƣờng tòa án ở Việt Nam 41
2.2.1. Tình hình tranh chấp hợp đồng tín dụng được giải quyết bằng
con đường tòa án ở Việt Nam 41
2.2.2. Một số vụ án điển hình về giải quyết tranh chấp phát sinh từ
hợp đồng tín dụng được giải quyết tại Tòa án ở Việt Nam 43
- Trong các dạng tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thì tranh
chấp đòi nợ quá hạn và lãi suất là dạng tranh chấp phổ biến nhất. 43

TAND : Tòa án nhân dân
TCTD : Tổ chức tín dụng 1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước
đã góp phần tạo nên những bước tiến đáng kể vào công cuộc cải tiến nước
nhà, mở ra nhiều cơ hội mới và cũng đặt ra những thách thức vô cùng to lớn
cho mọi lĩnh vực, mọi doanh nghiệp trong đó không thể không nói đến ngân
hàng, một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở các nước đi lên từ nền kinh tế bao cấp.
Ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền
kinh tế hàng hóa để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh toán…,
phục vụ cho việc phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức
kinh tế, cá nhân. Trong hoạt động ngân hàng thì cho vay là hoạt động truyền
thống mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng là hoạt
động tiềm ẩn những rủi ro vô cùng lớn. Biểu hiện của rủi ro tín dụng khi
khách hàng không hoàn trả gốc và lãi đúng hạn hoặc phát sinh ra những tranh
chấp trong hợp đồng tín dụng…
Trong những năm qua, pháp luật về ngân hàng nói chung và pháp luật
về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng nói riêng đã được Nhà
nước ta quan tâm và không ngừng hoàn thiện như: Bộ luật Dân sự năm 2005,
Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung 2011, Luật Ngân hàng Nhà
nước, Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành…những
văn bản trên tạo ra khung pháp lý quan trọng, tạo đà cho hoạt động cho vay

phù hợp với thực tiễn.
Với luận văn này, tôi mong muốn làm rõ hơn những vấn đề cơ bản
về hợp đồng tín dụng, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng,
chỉ ra những bất cập của việc thực hiện các quy định pháp luật trong thực
tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Từ đó, đề
3

xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở Việt Nam
hiện nay.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật Việt
Nam về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường
tòa án. Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng các quy định đó trong thực
tiễn, chỉ ra những vấn đề phát sinh và bất cập, từ đó đề ra một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở Việt Nam hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề phát sinh từ thực trạng giải
quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở Việt
Nam. Qua đó, đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về
giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở
Việt Nam hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp như : phương pháp thống
kê, khảo sát; phương pháp tổng hợp, phân tích các quy định của pháp luật
Việt Nam về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG
TÍN DỤNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH
TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG CON ĐƢỜNG TÒA ÁN

1.1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái niệm hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản đã
được quy định trong BLDS 2005. Tuy nhiên, chỉ gọi là HĐTD trong trường
hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng.
Theo quy định tại điều 471 BLDS 2005: “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả
thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn
trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số
lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy
định”. Hợp đồng tín dụng về bản chất là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng
là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác
định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả
cả gốc và lãi. Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố,
chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng.
Hợp đồng tín dụng là một căn cứ pháp lý mà qua đó, ngân hàng thực
hiện hoạt động cho vay. Hoạt động tín dụng luôn giữ một vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế và các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng diễn
ra ngày một nhiều, gây thiệt hại không nhỏ cho các chủ thể, song, cho đến nay
vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào của nước ta đưa ra một khái niệm
chính thức về hợp đồng tín dụng mà chỉ liệt kê những nội dung chủ yếu của
hợp đồng tín dụng. Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải
được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về
6

điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay,
lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương

và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD. Bên vay thường phải chấp nhận
những điều khoản trong hợp đồng mà không phải ai cũng có thể yêu cầu sửa
đổi điều khoản theo hướng có lợi hơn cho mình. Sự tự do ý chí được thể hiện
thông qua việc khách hàng chấp nhận những điều khoản trong đó thì đồng ý
giao kết hợp đồng, ngược lại thì không giao kết. Thực tế cho thấy việc thỏa
thuận sửa một số điều khoản trong HĐTD theo mẫu ít xảy ra và chỉ xảy ra với
những tổ chức, cá nhân có uy tín, khoản vay lớn và TCTD có thể thu được lợi
nhuận lớn từ hợp đồng này.
Theo khoản 2, khoản 3 điều 407 BLDS 2005: “Trong trường hợp hợp
đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo
mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó. Trong trường hợp hợp
đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng
theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia
thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Như vậy, pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ khách hàng trong trường hợp
hợp đồng theo mẫu có những điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp
đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó hoặc điều
khoản gây bất lợi cho khách hàng thì điều khoản này không có hiệu lực khi
không có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, hợp đồng tín dụng ngân hàng được ký kết dưới các hình
thức pháp lý là văn bản bao gồm cả văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng
thông điệp dữ liệu. Căn cứ khoản 1 điều 124 BLDS 2005, “Giao dịch dân sự
được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch
dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được
8

coi là giao dịch bằng văn bản”; và điều 11, 12, 13, 14 Luật Giao dịch điện tử
năm 2005 thì dù hợp đồng tín dụng ngân hàng ký kết dưới hình thức nào
trên đây đều có giá trị pháp lý ngang nhau và đều là chứng cứ trong quá trình
giao dịch. Trên thực tế thì hợp đồng tín dụng được ký kết dưới hình thức văn

định, quyết định cho vay; Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng
quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó
giám đốc)” [6, Khoản 1 Điều 19]. Đối với người vay là bố, mẹ, vợ, chồng,
con của Giám đốc, Phó Giám đốc chi nhánh của tổ chức tín dụng do tổ chức
tín dụng xem xét quyết định” [6, khoản 3 Điều 19].
Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan
hệ tín dụng, HĐTD trở nên rất quan trọng. Đặc biệt, các bên phải chú ý đến
nội dung của hợp đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng buộc
các bên thực hiện đúng trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần giảm bớt
các tranh chấp phát sinh và thúc đẩy sự phát triển trong hoạt động kinh doanh
của cả TCTD và khách hàng.
1.2. Khái niệm, phân loại, nguyên nhân tranh chấp hợp đồng tín
dụng
1.2.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cùng với sự tồn tại và phát triển của các HĐTD là những tranh chấp
trong HĐTD phát sinh từ sự mâu thuẫn hay không thống nhất về quyền và
nghĩa vụ hoặc lợi ích trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng của các bên
tham gia. Một hợp đồng tín dụng chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung
đột, bất đồng về quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài thông
qua những bằng chứng cụ thể và xác định được. Theo TS. Bùi Ngọc Cường,
tranh chấp kinh tế được hiểu là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa
vụ và lợi ích kinh tế giữa các bên chủ thể khi tham gia kinh doanh [21].
10

Tranh chấp hợp đồng khác biệt với vi phạm hợp đồng. Vi phạm hợp
đồng là hành vi pháp lý của các bên đã xử sự trái với các điều khoản được
cam kết trong hợp đồng. Còn tranh chấp hợp đồng là ý kiến không thống nhất
của các bên về hành vi vi phạm đó hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát
sinh từ sự vi phạm đó và được thể hiện ra bên ngoài. Cho nên, không phải cứ
khi nào vi phạm hợp đồng thì khi đó có tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp

dụng có hai loại :
- Thứ nhất, tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng
dân sự khi bên vay vốn là hộ gia đình, cá nhân hay tổ chức không có đăng ký
kinh doanh và không có mục đích lợi nhuận.
- Thứ hai, tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp kinh doanh -
thương mại khi bên vay vốn là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều
có mục đích lợi nhuận.
* Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng :
- Tranh chấp do các bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng:
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay (ngân hàng) khi HĐTD có
hiệu lực, vì một lý do nào đó bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân. Điều này, làm ảnh hưởng xấu tới quyền và
lợi ích hợp pháp của bên vay.
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi của bên vay. Rõ ràng khi cần
tiền để thực hiện kế hoạch, mục tiêu của mình thì khách hàng mới đi vay.
Cũng vì lý do này nên ban đầu thông thường thì khách hàng chấp nhận với lãi
suất của ngân hàng đưa ra nhưng sau một thời gian thực hiện hợp đồng phía
khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không đồng ý. Đồng thời, quá
trình sử dụng vốn vay không hiệu quả nên dẫn đến mất khả năng thanh toán
12

nợ gốc và lãi. Đây là dạng tranh chấp xảy ra nhiều nhất trong các tranh chấp
HĐTD.
- Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng. Tranh chấp này
trên thực tế tương đối đa dạng và phức tạp nhất là trong những trường hợp có
yếu tố nước ngoài. Điều này gây không ít khó khăn cho cơ quan giải quyết
tranh chấp. Trong quá trình ký kết hợp đồng tín dụng, việc xem xét tư cách
chủ thể của bên vay vốn là một vấn đề quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu lực của HĐTD. Trên thực tế, nếu tổ chức tín dụng xem nhẹ vấn đề này,
không xác định đúng tư cách chủ thể (đặc biệt là trường hợp khách hàng vay

quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng (nếu như có yếu tố nước ngoài) thì
sau này có nhiều khả năng xảy ra việc tranh chấp về luật áp dụng để giải
quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Thực tiễn cho thấy tranh
chấp này ít xảy ra.
Hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam ít nhiều chịu sự ảnh hưởng không
nhỏ bởi các cuộc khủng hoảng của các nước trên Thế giới dẫn đến việc xảy ra
tranh chấp trong hợp đồng tín dụng ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp.
Do đó, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết sức cần
thiết. Từ đó, có những biện pháp, đường lối, chính sách nhằm khắc phục tình
trạng tranh chấp để tiến tới giảm thiểu đáng kể số lượng tranh chấp.
1.2.3. Nguyên nhân tranh chấp hợp đồng tín dụng
Nguyên nhân gây ra tranh chấp hợp đồng tín dụng rất đa dạng, có thể xuất
phát từ phía bên cho vay (ngân hàng) và cũng có thể xuất phát từ phía bên vay
(khách hàng).
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay có thể bao gồm:
14

+ Thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vốn (vấn đề giải ngân): Tại khoản 4
Điều 404 BLDS 2005: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời
điểm bên sau cùng ký vào văn bản”; tại Điều 405 BLDS 2005 quy định: “Hợp
đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp
có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Trong hợp đồng tín
dụng bắt buộc phải nêu rõ mục đích vay của khách hàng, thời hạn phải hoàn
trả nợ vay… và ngược lại TCTD có nghĩa vụ giải ngân đúng số tiền và thời
gian đã thỏa thuận cũng như có quyền kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng
vốn vay hoặc thu hồi nợ theo quy định trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã
ký kết. Vì thế, sau khi HĐTD có hiệu lực, việc thực hiện nghĩa vụ giải ngân
khoản tín dụng mà hai bên đã thoả thuận là nghĩa vụ của bên cho vay.
Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp sau khi ký kết HĐTD với
khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ

dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Việc theo dõi hoạt động của
khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng
giữa khách hàng và ngân hàng. Tuy nhiên, trong thời gian qua các ngân hàng
chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây
phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông
tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung
cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà ngân hàng yêu cầu.
- Nguyên nhân từ phía bên vay:
+ Tranh chấp liên quan đến thanh toán nợ gốc và lãi suất.
Bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những
nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi suất của mình có thể do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan chi phối.
16

Các nguyên nhân khách quan, thể hiện ngoài ý chí của khách hàng như
do thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế, điều
chỉnh quy hoạch ngành, sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trong và
ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi … làm cho hoạt động của
bên vay không thực hiện như kế hoạch đề ra.
Các nguyên nhân chủ quan được hiểu là hành vi cố ý vi phạm nghĩa vụ
trả nợ của khách hàng. Nguyên nhân này có thể bắt nguồn từ sự yếu kém của
khách hàng trong quá trình quản lý và sử dụng vốn vay, hoặc có thể do khách
hàng có đủ tiền trả nợ nhưng không thiện chí trong việc trả nợ vay. Trong quá
trình lập hồ sơ vay vốn, đa số khách hàng là các doanh nghiệp đều chứng
minh được tính khả thi và phương án sử dụng vốn vay hoặc chứng minh được
tài chính tốt. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vốn vay không phải lúc nào
cũng được thuận lợi, đạt hiệu quả cao như mong muốn. Cũng có trường hợp
do bên vay cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn nên khi
về đầu tư hay sử dụng vào mục đích của mình không có hiệu quả.
Hầu như, các tranh chấp liên quan về hợp đồng tín dụng xuất phát từ

ký hợp đồng trong khi bản thân không hiểu rõ về pháp luật, nên khả năng xảy
ra những bất lợi cho mình là rất lớn. Chủ yếu tranh chấp xảy ra là ở các hợp
đồng bảo lãnh.
- Nguyên nhân do bất cập của các qui định pháp luật:
Ở Việt Nam, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ngân
hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới
luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy
nhiên, luật và các văn bản đã có nhưng việc triển khai vào hoạt động ngân
hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập. Các

Trích đoạn Thực trạng quy định thẩm quyền của Toà án và trình tự thủ tục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status