Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng
chứng từ ở Việt Nam Đặng Thị Phương Thủy Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ và hệ thống quy phạm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong thanh toán tín dụng
chứng từ. Phân tích các tranh chấp phổ biến trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ
tại Việt Nam và cách giải quyết, đánh giá thực thực trạng pháp luật về giải quyết
tranh chấp. Đưa ra các kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng
tín dụng chứng từ ở Việt Nam và các kiến nghị nhằm tăng cường tính hiệu quả của
các phương thức giải quyết tranh chấp.
Keywords. Pháp luật Việt Nam; Luật kinh tế; Thanh toán tín dụng chứng từ; Giải
quyết tranh chấp
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động ngoại thương đã thúc
đẩy nền kinh tế thế giới tăng trưởng không ngừng. Các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế
cũng nhờ thế mà gia tăng với số lượng và quy mô ngày một lớn, kéo theo sự phát triển của
cấp thiết mà thực tế đang đặt ra. Vì lý do đó tôi đã chọn: "Pháp luật về giải quyết tranh chấp
phát sinh trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ ở Việt Nam" làm đề tài cho
khóa luận tốt nghiệp thạc sĩ luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam cho đến nay thanh toán bằng thư tín dụng là một đề tài thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều tác giả, bên cạnh các bài viết, bài phân tích trên các tạp chí, có thể kể ra
ở đây một số công trình nghiên cứu:
- "Vận dụng UCP 500 để giải quyết các tranh chấp trong thanh toán xuất nhập khẩu
bằng phương thức tín dụng chứng từ", Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Thu, 1998, Trường
Đại học Ngoại thương. Với đề tài này, tác giả đi sâu vào phân tích những tranh chấp có thể có
trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ theo UCP và vận dụng những quy
định của UCP để giải quyết những tranh chấp đó.
- "Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng", Luận văn
thạc sĩ của Đỗ Văn Sử, 2004, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong đề tài này tác giả đã tìm
hiểu các quy định hiện hành về thanh toán bằng thư tín dụng, so sánh đối chiếu với thông lệ quốc
tế và tìm kiếm giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thanh toán bằng tín dụng
chứng từ.
- "Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế", Luận văn thạc sĩ của Cao Xuân Quảng, 2008, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tại đây tác giả đã nghiên cứu bản chất của thư tín dụng, thực tiễn các tranh chấp phát sinh
phổ biến từ đó đề ra phương hướng về việc xây dựng một văn bản có tính pháp lý cao điều
chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ.
Các đề tài trên đã đóng góp những kết luận khoa học có giá trị trong quá trình tìm hiểu
phương thức thanh toán thú vị này, tuy nhiên vẫn chưa đi sâu nghiên cứu những đặc trưng của
tranh chấp trong thanh toán tín dụng chứng từ cũng như thực trạng pháp luật giải quyết các
tranh chấp này ở Việt Nam. Vì thế tác giả nhận thấy đề tài nghiên cứu của mình là hoàn toàn
cần thiết, phù hợp với xu thế chung và không có sự trùng lặp trong quá trình nghiên cứu so
với những đề tài khác đã được đưa ra cho tới thời điểm hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là khẳng định vai trò của phương thức thanh toán tín
đề trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ cần được điều chỉnh bởi pháp luật, nêu các kiến
nghị liên quan đến quy trình giải quyết tranh chấp đặc thù đối với các tranh chấp về thanh
toán tín dụng chứng từ.
6. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng trong nghiên cứu luận văn này.
Đồng thời, luận văn còn thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu tài liệu,
phân tích, tổng hợp, logic và so sánh luật học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
2 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ.
Chương 2: Thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh
toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ ở Việt Nam và các kiến nghị hoàn thiện.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.1 Một số vấn đề lý luận về thanh toán tín dụng chứng từ
1.1.1 Khái niệm thanh toán và dịch vụ thanh toán
Theo nghĩa chung nhất, thanh toán là hoạt động trả tiền của một chủ thể đối với một chủ
thể khác trong quan hệ dân sự, thương mại.
Dịch vụ thanh toán theo luật Việt Nam được hiểu là: "việc ung ứng phương tiện thanh
toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các
loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán" (khoản 5 Điều 3 Nghị định số
64/2001/NĐ-CP ngày 20/8/2001).
Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận 5 loại dịch vụ thanh toán chủ yếu được thực hiện
bởi các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, bao gồm:
C, Nội dung về vận tải
- Tên cảng xếp hàng
- Tên cảng giao hàng
- Thời hạn giao hàng
- Điều kiện giao hàng từng phần
- Điều kiện chuyển tải
D, Nội dung về hàng hóa
- Mô tả hàng hóa (thường bao gồm điều kiện giao hàng)
E, Nội dung về chứng từ
- Các chứng từ xuất trình (loại chứng từ, quy cách, số bản)
- Thời hạn xuất trình chứng từ
G, Các nội dung khác
- Cam kết của ngân hàng phát hành
- Điều khoản phạt đối với trường hợp chứng từ có sai sót
- Hướng dẫn đối với ngân hàng trả tiền, ngân hàng chiết khấu, ngân hàng thông báo
- Chữ ký, dấu của ngân hàng phát hành
1.1.2. Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ
1.1.2.1. Khái niệm
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán được sử dụng
phổ biến trong thương mại quốc tế, theo đó, các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa thỏa
thuận sử dụng thư tín dụng làm công cụ để thực hiện việc chi trả cho các nghĩa vụ tài chính
phát sinh từ giao dịch mua bán.
Các bên tham gia trong giao dịch thanh toán bằng tín dụng chứng từ:
- Người yêu cầu/người mở/người xin mở (Applicant)
- Người thụ hưởng/người hưởng/người hưởng lợi (Beneficiary)
- Ngân hàng phát hành (Issueing Bank)
- Ngân hàng thông báo (Advising Bank)
- Ngân hàng xác nhận (Comfirming Bank)
- Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank)
1.1.2.2. Đặc điểm
luật. Khi đó việc lựa chọn luật để áp dụng được thực hiện theo các nguyên tắc về xung đột
pháp luật quy định tại các hệ thống pháp luật quốc gia, và những nguyên tắc này có sự khác
nhau tùy theo từng nước.
1.2.2.2 Các quy định của pháp luật Việt Nam về thanh toán tín dụng chứng từ
Với tư cách là một dịch vụ thanh toán thường được sử dụng trong thương mại quốc tế,
thanh toán bằng tín dụng chứng từ trước hết chịu sự điều chỉnh của các quy định thuộc quản
lý ngoại hối, tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, thanh toán và thanh toán quốc
tế.
Cho đến nay mới có bốn văn bản pháp luật có các quy định trực tiếp về thanh toán bằng
thư tín dụng là Nghị định số 64/2001/NĐ-CP; Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN, Quyết định
1092/2002/QĐ-NHNN song chỉ đề cập đến những nội dung hết sức sơ khai về phương thức
thanh toán này.
Khái niệm thư tín dụng được đưa ra tại Điều 16 Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN
ngày 26/03/2011 về cơ bản có sự tương thích với khái niệm của UCP về thanh toán tín dụng
chứng từ.
Thủ tục mở thư tín dụng và thủ tục thanh toán thư tín dụng trong các quy trình được quy
định chủ yếu trong Quyết định 1092/2002/QĐ-NHNN ngày 08/10/2002, nhưng những quy
định này không phản ánh những đặc trưng của quy trình thanh toán tín dụng chứng từ cũng
như quyền lợi và trách nhiệm của ngân hàng từ những giao dịch thanh toán hay mối quan hệ
của ngân hàng với các bên. Thực chất những quy định tại Quyết định 1092/2002/QĐ-NHNN
chỉ gói gọn trong phạm vi thủ tục "lập, kiểm soát, luân chuyển, xử lý chứng từ và hạch toán
các giao dịch thanh toán" mà thôi.
Để lấp khoảng trống về pháp luật đối với thanh toán bằng thanh toán tín dụng chứng từ,
Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002 đã mở đường cho việc áp dụng UCP:
"Việc mở, phát hành, sửa đổi, thông báo, xác nhận, kiểm tra chứng từ thanh toán và quyền, nghĩa
vụ của các bên liên quan trong thanh toán bằng tín dụng thực hiện theo các quy tắc chung về tín
dụng chứng từ do Phòng Thương mại quốc tế ICC ban hành, do các bên tham gia thanh toán
thoả thuận mại dụng và theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam".
Việc áp dụng pháp luật nước ngoài hay tập quán, thông lệ quốc tế cũng được thừa nhận
tại nhiều văn bản khác thuộc hệ thống pháp luật nước ta. Tuy nhiên các quy định này đều thể
hành L/C và người yêu cầu và quan hệ giữa các ngân hàng với nhau. Mỗi quan hệ hợp đồng
có chủ thể và khách thể khác nhau cho nên luật điều chỉnh các quan hệ đó cũng khác nhau.
1.3.2.3. Sự thiếu chặt chẽ trong xây dựng nội dung hợp đồng ngoại thương và thư tín dụng
Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ được ghi
nhận chủ yếu tại hợp đồng và L/C, tuy nhiên do sự sơ suất hoặc do hạn chế về nghiệp vụ,
ngoại ngữ, trình độ pháp lý của những người xây dựng mà nội dung hợp đồng và L/C không
rõ ràng hay khả thi sẽ nảy sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện.
1.4. Các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán
bằng tín dụng chứng từ
Nguy cơ xảy ra tranh chấp đối với các doanh nghiệp phương thức thanh toán bằng tín dụng
chứng từ cao hơn do sự phức tạp trong quy trình vận hành, sự đa dạng của chủ thể tham gia cũng
như luật điều chỉnh, vì lẽ đó họ rất quan tâm đến cách thức để giải quyết khi các tranh chấp xảy
ra. Thông thường, pháp luật các nước ghi nhận bốn phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản sau
đây:
1.4.1. Phương thức thương lượng
1.4.2. Phương thức hòa giải
1.4.3. Phương thức trọng tài
1.4.3. Phương thức khởi kiện tại Tòa án
Chương 2
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG
HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ Ở VIỆT
NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
2.1. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán quốc
tế bằng tín dụng chứng từ ở Việt Nam
2.1.1. Thực tiễn các quy định của pháp luật Việt Nam về các phương thức giải quyết
tranh chấp
Tại mục này, tác giả tìm hiểu từ các vụ việc cụ thể để thấy được thực tiễn quy định của pháp
luật Việt Nam về các phương thức giải quyết tranh chấp.
2.1.1.1. Phương thức khởi kiện tại Tòa án
tài C.
Trọng tài cũng là cơ quan tài phán nhưng mang tính chất của một tổ chức xã hội nghề
nghiệp. Ở nước ta hiện nay, các tổ chức trọng tài thương mại đã được thành lập và ngày càng
phát triển.
Các trung tâm trọng tài thương mại được tổ chức và hoạt động theo các quy định tại Luật
Trọng tài thương mại 2010 (trước đây là Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003) và Quy tắc trọng
tài của từng trung tâm. Nhìn chung, Luật Trọng tài thương mại 2010 đã tiếp thu tối đa tinh thần
của Luật mẫu Uncitral 2006, nâng cao vị thế và quyền lực của Trọng tài khi giải quyết tranh chấp
kinh doanh.
Các quy tắc tố tụng của trọng tài được xây dựng theo hướng tôn trọng quyền tự quyết của
các bên có tranh chấp như việc các bên có quyền tự do lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn luật
áp dụng, thủ tục tố tụng, địa điểm tố tụng. Ưu thế của giải quyết bằng phương thức trọng tài
đối với các tranh chấp liên quan đến thanh toán tín dụng chứng từ thể hiện ở việc các bên có
thể tận dụng kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng để xem xét
vụ việc - điều mà giải quyết tranh chấp bằng Tòa án không có được. Ngoài ra, hầu hết các
tranh chấp liên quan đến thanh toán bằng tín dụng chứng từ giải quyết tại Trọng tài đều được
phân tích dưới giác độ các quy định của UCP - quy tắc được thừa nhận rộng rãi trên thế giới.
2.1.2. Các tranh chấp phổ biến trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ ở
Việt Nam và thực tiễn giải quyết
2.1.2.1. Tranh chấp trong quá trình phát hành L/C
Tóm tắt vụ việc:
Công ty A ký hợp đồng nhập khẩu đạm với Công ty của Hàn quốc. Sau khi hợp đồng được ký
kết, Công ty A đưa ra dự thảo nội dung của L/C có nhiều điểm khác biệt với thỏa thuận ban đầu,
song bị Công ty phía Hàn quốc từ chối. Trong khi Công ty phía Hàn quốc yêu cầu Công ty A bồi
thường tiền chậm mở L/C thì Công ty A khiếu nại với lý do Công ty của Hàn quốc đã không đưa
vào hợp đồng những điều khoản mẫu mà Công ty A đã chuyển cho Công ty của Hàn quốc trước
khi ký hợp đồng.Tranh chấp được đưa ra Trọng tài để giải quyết.
Khi giải quyết vụ việc, cơ quan trọng tài đã dựa trên những quy định về trách nhiệm từ
hợp đồng để xem xét quyền và nghĩa vụ của các bên.Trọng tài xác định hợp đồng đã được ký
kết một cách hợp pháp, vì vậy các bên sẽ bị ràng buộc bởi nghĩa vụ từ hợp đồng, trong đó có
thực. Người thụ hưởng ở đây là Công ty Vinahancoop cũng đã để mất quyền của mình khi
không từ chối những sửa đổi cũng như yêu cầu ngân hàng thông báo xác thực bản tu chỉnh.
Tuy vậy, khi đưa ra xét xử, bản thân cơ quan Tòa án cũng gặp khó khăn trong việc phân
định rõ ràng và chính xác mức độ trách nhiệm của từng bên. Vụ việc giữa Công ty
Vinahandcoop và Ngân hàng Ngoại thương trên thực tế đã trải qua 4 lần xét xử ở các cấp Tòa
án, thời gian kéo dài từ năm 1995 đến năm 2001, các lần xét xử ở mỗi Tòa lại có một mức
phán quyết khác nhau.
Vụ việc 6
Sở Giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn I (Sở Giao dịch I) mở L/C
cho hợp đồng nhập khẩu 10.000 tấn phân Urea giữa Chi nhánh Công ty XNK tổng hợp II tại Hà
Nội (Chi nhánh Centrimex) và Công ty Helm (Đức). Thực hiện hợp đồng, bên mua đã tiến hành
giao hàng tại cảng Hải phòng như cam kết và xuất trình bộ chứng từ đòi tiền theo L/C. Sở Giao
dịch I sau khi kiểm tra bộ chứng từ đã thông báo 03 lỗi, Chi nhánh Centrimex phát hiện thêm 03
lỗi của chứng từ, Chi nhánh Centrimex từ chối nhận hàng và đề nghị Sở Giao dịch I từ chối
thanh toán do chứng từ sai sót. Tuy nhiên, ngân hàng phục vụ người bán không đồng ý với những
lỗi mà Sở Giao dịch I đưa ra. Giữa lúc đó, Bộ Thương mại có công văn yêu cầu Sở Giao dịch I
ngừng thanh toán với người bán. Ngân hàng phục vụ người bán sau khi Sở Giao dịch I kiên quyết
từ chối thanh toán đã trích tài khoản của Sở Giao dịch I tương đương số tiền hàng cộng thêm lãi
chậm trả. Con tàu chở hơn 10.000 tấn Urea sau đó cũng rời cảng Hải Phòng mang theo toàn bộ
hàng hóa đem bán để bù chi phí. Sau khi bị mất tiền, mất hàng, cả SGD I và Chi nhánh
Centrimex đã khiếu kiện đến Tòa án nhân dân TP Hà Nội và Tòa án nhân dân tối cao. Cả hai cả
hai cấp tòa án đều ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc này với tư cách là vụ án kinh tế, vì thấy
có dấu hiệu của hành vi phạm tội, gây thất thoát tài sản lớn của Nhà nước.
Trong tình huống này, các lỗi của chứng từ mà Sở Giao dịch cũng như Chi nhánh
Centrimex đưa ra đều không phù hợp với UCP, vì lẽ đó mà không được sự chấp thuận của
ngân hàng phục vụ người bán. Thay vì từ chối thanh toán, Sở Giao dịch nên giao bộ chứng từ
cho Chi nhánh Centrimex đi nhận hàng.
Bộ Thương mại là cơ quan quản lý nhà nước, việc ra công văn yêu cầu một ngân hàng
ngừng thanh toán là không đủ cơ sở pháp lý và không phù hợp với quy trình nghiệp vụ thanh
toán tín dụng chứng từ.
Công ty của tỉnh T nhập khẩu 01 lô hàng của một doanh nghiệp Thái Lan, thanh toán
bằng L/C. Sau khi hàng đến cảng, kiểm tra thấy hàng hóa không đúng chất lượng, Công ty
của tỉnh T đã chỉ thị cho ngân hàng phát hành ngừng thanh toán và đưa ra yêu cầu với bên
bán hoặc giảm giá lô hàng, hoặc giao hàng hóa thay thế thì mới thanh toán. Với mong muốn
nhận được tiền hàng, doanh nghiệp Thái Lan đã chấp nhận giảm giá lô hàng. Tranh chấp về
chất lượng hàng hóa đã được giải quyết.
Mặc dù theo UCP nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng là độc lập với hợp đồng, với hàng
hóa/ dịch vụ, các giao dịch mà nhờ đó chứng từ hình thành song trên thực tế khi có tranh chấp
xảy ra các bên thường tận dụng những lợi thế mà mình có được để ép đối tác chấp nhận những
yêu cầu của mình. Việc các doanh nghiệp Việt Nam liên kết với ngân hàng phục vụ mình (ngân
hàng mở L/C) đưa ra lời đe dọa ngừng thanh toán với bên mua nhằm giảm giá hàng hóa đã từng
thành công song để lại hậu quả lâu dài là sự mất uy tín trên thị trường quốc tế.
2.1.2.4 Tranh chấp liên quan đến thời hạn xuất trình chứng từ
Vụ việc 10
Công ty B, ký hợp đồng bán hàng cho Công ty M, nước P, thanh toán bằng thư tín dụng
không hủy ngang, có xác nhận. L/C được phát hành bởi Ngân hàng I nước P và được thông
báo qua Ngân hàng A, Việt Nam.
Trước ngày hết hạn xuất trình hai ngày theo L/C, Công ty B gửi chứng từ đến Ngân hàng
A nhưng bị từ chối thanh toán do chứng từ có khác biệt.
Khi nhận được thông báo từ chối thanh toán, Công ty B bảo lưu khác biệt và yêu cầu Ngân
hàng A xin chỉ thị thanh toán bộ chứng từ. Ngân hàng A lập tức điện báo cho Ngân hàng I xin
được thanh toán. Sau khi tham khảo ý kiến của công ty M, Ngân hàng I thông báo chấp nhận thanh
toán bộ chứng từ nói trên.
Vào thời điểm Ngân hàng A nhận được sự chấp thuận thanh toán bộ chứng từ từ Ngân
hàng I thì tình hình kinh tế và chính trị của nước P xấu đi do có cuộc bạo động về chính trị
và quân sự, và vì vậy tài khoản của Ngân hàng I bị phong tỏa và tài khoản của Ngân hàng I
tại Ngân hàng A không còn số dư. Ngân hàng A thông báo không thanh toán cho Công ty B
theo bộ chừng từ mà Công ty B đã xuất trình đòi tiền theo thư tín dụng. Công ty B cho rằng
việc từ chối của Ngân hàng là bất hợp lệ.
Ngân hàng xác nhận có nghĩa vụ thanh toán cho bộ chứng từ chỉ khi xuất trình phù hợp,
một cá nhân là việc áp dụng các biện pháp như tạm giữ, tạm giam, kê biên tài sản… gây ra
những thiệt hại hết sức nặng nề không những đối với riêng người bị truy tố mà còn với cả
doanh nghiệp hay ngân hàng mà họ quản lý.
2.1.3.2. Xung đột giữa pháp luật quốc gia và thông lệ quốc tế
Tình huống xung đột phổ biến là việc Tòa án ra phán quyết yêu cầu ngân hàng ngừng
thanh toán trong khi chiếu theo quy định của UCP thì nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng theo
L/C là không thể hủy ngang được.
2.1.3.3. Xu hướng lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng các phương thức phi Tòa án
Một thực tế đang diễn ra hiện nay là đa số doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn các phương thức
phi Tòa án để giải quyết tranh chấp thay vì khởi kiện ra Tòa.
Đối với trường hợp tranh chấp trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ, các bên có xu
hướng tận dụng mọi lợi thế mà mình có, kể cả trái quy tắc chung, để đẩy rủi ro về phía đối tác tạo
ra những định hướng có lợi cho mình trong việc giải quyết tranh chấp. Đây là các cách thức giải
quyết tranh chấp tự phát, manh mún, gây ảnh hưởng xấu đến các quan hệ kinh tế và uy tín của doanh
nghiệp Việt Nam.
Bỏ qua yếu tố truyền thống văn hóa, thói quen ứng xử của doanh nhân thì bản thân sự
non kém của các phương thức giải quyết tranh chấp chính là nguyên nhân chủ yếu lý giải
hiện tượng này.
2.2. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ
2.2.1. Hoàn thiện pháp luật về thanh toán tín dụng chứng từ
2.2.1.1. Ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ
Khi xây dựng văn bản quy phạm về thanh toán tín dụng chứng từ trước hết phải tôn trọng
những nguyên tắc mà UCP đã đặt ra, bởi lẽ các quan hệ trong phương thức thanh toán L/C có
lịch sử hình thành lâu dài và cơ bản đã được định hình theo một trật tự ổn định dựa trên cơ sở
các quy định của UCP. Căn cứ vào thực tế giao dịch thanh toán L/C ở Việt Nam, văn bản
pháp luật điều chỉnh phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cần tham chiếu đầy đủ các
quy định của UCP có bổ sung các nội dung sau:
Thứ nhất, quy định về quyền của Ngân hàng phát hành đối với hàng hóa nếu người mua
không nhận hàng hoặc mất khả năng thanh toán
Thứ hai, xây dựng thủ tục pháp lý trong một số trường hợp cụ thể
Đây là thủ tục pháp lý để thực hiện: (i) quyền của Ngân hàng đối với hàng hóa khi bên
mua hàng rơi vào tình trạng mất thanh toán và (ii) quyền của các bên liên quan khi xảy ra
trường hợp lừa đảo.
2.2.2. Tăng cường hiệu quả của các phương thức giải quyết tranh chấp đối với tranh
chấp phát sinh trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ
Các thẩm phán ở Việt Nam hầu hết không được đào tạo về chuyên môn kinh tế - tài chính
nên còn gặp hạn chế khi tiếp cận các vụ việc phức tạp. Sự hạn chế này dẫn đến khả năng đánh giá
một vụ việc tranh chấp có liên quan đến tín dụng chứng từ của cán bộ Tòa án nhiều khi không
toàn diện, phán quyết của Tòa không phản ánh được hiện thực khách quan và do đó, không thể
giải quyết tranh chấp một cách triệt để. Trong khi đó, tồn tại đối với giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài thường là sự chênh lệch về kiến thức chuyên môn và kỹ năng tố tụng giữa các
trọng tài viên trong một Hội đồng trọng tài. Để tăng cường hiệu quả của các phương thức giải
quyết tranh chấp thì việc cần làm trước hết là bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệm xét xử cho
các cán bộ xét xử.
Chỉ khi cán bộ tòa án có đủ sự am hiểu về kiến thức kinh tế, kỹ năng xét xử và thực sự
coi giải quyết tranh chấp kinh tế là một dịch vụ mà nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp thì
mới mong đưa doanh nghiệp đến với tòa án để giải quyết tranh chấp một cách tích cực hơn.
2.2.3. Một số kiến nghị cụ thể đối với các bên tham gia thanh toán tín dụng chứng từ
Nếu xem tranh chấp gồm tranh chấp hiện tại và tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai thì việc
giải quyết tranh chấp phải bao gồm cả việc giải quyết tranh chấp đã xảy ra và tranh chấp trong
tương lai. Khi đã xây dựng được các cơ chế phòng ngừa rủi ro có thể nói doanh nghiệp đã đạt được
hiệu quả trong ngăn chặn tranh chấp. Khi tham gia hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ
các bên cần nắm vững những nguyên lý cơ bản để phòng tránh rủi ro, đó là: Độ tin cậy của đối tác;
phát hiện tính bất thường của hợp đồng; đảm bảo nội dung L/C đầy đủ, chặt chẽ về khía cạnh kỹ
thuật, pháp lý là nguyên tắc quan trọng nhất để phòng tránh rủi ro.
KẾT LUẬN
Trong một nền kinh tế mà tính minh bạch về tài chính còn hạn chế và mức độ tin cậy đối
với đối tác chưa cao như Việt Nam, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã và sẽ vẫn
hàng thương mại, Hà Nội.
4. Nguyễn Bá Diến (2003), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
5. Nguyễn Hữu Đức (2008), "Quy định của Trung Quốc về một số vấn đề khi xét xử các vụ
án liên quan đến các tranh chấp thư tín dụng", Thông tin Ngân hàng Ngoại thương, tr 18,
19, 20, 21.
6. "Giải quyết tranh chấp kinh doanh vẫn nặng về thủ tục" (2009), vietbao.vn.
7. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (2003), Một số thủ đoạn của bọn tội phạm trong lĩnh vực
ngân hàng, Nxb Lao động, Hà Nội.
8. Nguyễn Khắc Hình (2009), Rủi ro trong thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
tại các doanh nghiệp ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp hạn chế, Luận văn thạc sĩ,
Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội.
9. "Môi trường pháp lý đối với hoạt động thanh toán quốc tế" (2007), vietship.vn, ngày 4/8.
10. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5 về việc ban
hành Quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm, Hà Nội.
11. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quyết định số 1233/2001/QĐ-NHNN ngày 26/9 về việc sửa
đổi, bổ sung một số quy định của Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN ngày 25/05/2001
về việc ban hành Quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm, Hà Nội.
12. Ngân hàng Nhà nước (2002), Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/3 về ban hành
Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, Hà Nội.
13. Ngân hàng Nhà nước (2002), Quyết định số 1092/2002/QĐ-NHNN ngày 08/10 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy định thủ tục thanh toán qua các
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, Hà Nội.
14. Ngân hàng Nhà nước (2003), Quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8 về việc ban
hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân
hàng, Hà Nội.
15. Ngân hàng Nhà nước (2008), Quyết định số 12/2008/QĐ-NHNN ngày 29/4 về việc sửa
đổi bổ sung Quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/08/2003 về việc ban hành Quy
chế chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng, Hà Nội.
16. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo luật kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
36. Vũ Hữu Tửu, Nguyễn Đức Di, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hoài Thụy (1985), Từ điển Ngoại
thương, Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội.
37. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2005), Pháp lệnh Ngoại hối, Hà Nội.
38. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2003), Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Hà Nội.
Tiếng Anh
39. Albert K. Fiadjoe (2004), Alternative Dispute Resolution: A Developing World
Perspective, Taylor & Francis Group.
40. Audi Gozlan (1999), International Letters of Credit: Resolving Conflict of Law Disputes,
Kluwer Law International.
41. Christopher W.Moore (2003), The Mediation Process, John Wiley & Sons Inc.
42. ICC (1993), UCP 500.
43. ICC (2007), UCP 600.
44. ICC (2007), eUCP 1.1.
45. ICC (2007), ISBP 681.
46. ICC (2008), URR 725.