1
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ PHƢƠNG THỦY
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các sơ đồ MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG HOẠT ĐỘNG THANH
TOÁN BẰNG TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
6
1.1.
Một số vấn đề lý luận về thanh toán tín dụng chứng từ
6
1.1.1.
Khái niệm thanh toán và dịch vụ thanh toán
6
1.1.2.
Thư tín dụng
7
1.1.2.1.
Khái niệm thư tín dụng
17
1.3.
Tranh chấp trong thanh toán bằng tín dụng chứng từ
23
5
1.3.1.
Tính tất yếu của các tranh chấp trong thanh toán bằng tín
dụng chứng từ
23
1.3.2.
Nguyên nhân của các tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thanh toán bằng tín dụng chứng từ
24
1.3.2.1.
Tính phức tạp của quy trình thanh toán bằng L/C
24
1.3.2.2.
Sự đa dạng của luật điều chỉnh
27
1.3.2.3.
Sự thiếu chặt chẽ trong xây dựng nội dung hợp đồng ngoại
thương và thư tín dụng
28
1.4.
Các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ
28
1.4.1.
Phương thức thương lượng
40
2.1.2.
Các tranh chấp phổ biến trong hoạt động thanh toán bằng
tín dụng chứng từ ở Việt Nam và thực tiễn giải quyết
44
2.1.2.1.
Tranh chấp trong quá trình phát hành L/C
45
2.1.2.2.
Tranh chấp trong quá trình thông báo L/C
48
6
2.1.2.3.
Các tranh chấp liên quan đến hàng hóa
60
2.1.2.4.
Tranh chấp liên quan đến thời hạn xuất trình chứng từ
62
2.1.3.
Nhận xét về thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động tín dụng chứng từ ở Việt Nam
65
2.1.3.1.
Thiếu quy định pháp luật nội dung để làm cơ sở giải quyết
tranh chấp
65
2.1.3.2.
Xung đột giữa pháp luật quốc gia và thông lệ quốc tế
67
KẾT LUẬN
84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
85 7 Danh mục các sơ đồ
Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
1.1
Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ
25
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động
ngoại thương đã thúc đẩy nền kinh tế thế giới tăng trưởng không ngừng. Các
quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế cũng nhờ thế mà gia tăng với số lượng và
quy mô ngày một lớn, kéo theo sự phát triển của hoạt động thanh toán. Trải
phức tạp. Ở Việt Nam các tranh chấp trong hoạt động thanh toán bằng tín
dụng chứng từ diễn ra rất phổ biến song việc giải quyết tranh chấp còn nhiều
bất cập và chưa đáp ứng được đòi hỏi của các quan hệ kinh tế. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng lý do chủ yếu nhất là do các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động chứng từ
còn chưa rõ ràng và đầy đủ.
Nghiên cứu thực trạng các quy phạm được sử dụng để giải quyết tranh
chấp và từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hạn chế các nguy cơ tiềm ẩn của
tranh chấp cũng như giải quyết hiệu quả các tranh chấp từ phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ đã phát sinh là một yêu cầu cấp thiết mà thực tế đang
đặt ra. Vì lý do đó tôi đã chọn: "Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ ở Việt Nam" làm đề tài
cho khóa luận tốt nghiệp thạc sĩ luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam cho đến nay thanh toán bằng thư tín dụng là một đề tài
thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, bên cạnh các bài viết, bài
phân tích trên các tạp chí, có thể kể ra ở đây một số công trình nghiên cứu:
- "Vận dụng UCP 500 để giải quyết các tranh chấp trong thanh toán
xuất nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ", Luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Xuân Thu, 1998, Trường Đại học Ngoại thương. Với đề tài này, tác
10
giả đi sâu vào phân tích những tranh chấp có thể có trong hoạt động thanh
toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ theo UCP và vận dụng những quy định
của UCP để giải quyết những tranh chấp đó.
- "Pháp luật về thanh toán bằng thư tín dụng ở Việt Nam và thực tiễn
áp dụng", Luận văn thạc sĩ của Đỗ Văn Sử, 2004, Khoa luật Đại học Quốc gia
Hà Nội. Trong đề tài này tác giả đã tìm hiểu các quy định hiện hành về thanh
toán bằng thư tín dụng, so sánh đối chiếu với thông lệ quốc tế và tìm kiếm
giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thanh toán bằng tín dụng
- Phân tích các tranh chấp phổ biến trong thanh toán bằng tín dụng
chứng từ tại Việt Nam và cách giải quyết, đánh giá thực thực trạng pháp luật
về giải quyết tranh chấp.
- Đưa ra các kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật về thanh toán
bằng tín dụng chứng từ ở Việt Nam và các kiến nghị nhằm tăng cường tính
hiệu quả của các phương thức giải quyết tranh chấp.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ. Các tranh chấp có thể
phát sinh trong một quy trình thanh toán tín dụng chứng từ rất đa dạng, trong
khả năng còn hạn chế của mình, tác giả chỉ có tham vọng tìm hiểu chủ yếu
nhóm tranh chấp phát sinh trong quan hệ giữa bên mua (người yêu cầu mở
thư tín dụng) với bên bán (người thụ hưởng), bên mua với ngân hàng phát
hành tín dụng thư, quan hệ giữa bên bán với ngân hàng thông báo. Các tranh
chấp phát sinh giữa các ngân hàng với nhau trong quá trình thanh toán và
cách giải quyết, phần nhiều có liên quan đến kỹ thuật chuyên môn đặc thù của
ngành ngân hàng, sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
12
5. Đóng góp khoa học của đề tài
Luận văn đã làm sáng tỏ hơn nữa các vấn đề lý luận về thanh toán
quốc tế bằng tín dụng chứng từ, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp
trong phương thức này.
Luận văn hệ thống lại các quy phạm pháp luật hiện điều chỉnh các
hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ, đánh giá thực tiễn pháp luật về
giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thanh toán tín dụng chứng từ ở Việt
Nam. Trên cơ sở đó, luận văn bổ sung những vấn đề trong thanh toán bằng tín
dụng chứng từ cần được điều chỉnh bởi pháp luật, nêu các kiến nghị liên quan
đến quy trình giải quyết tranh chấp đặc thù đối với các tranh chấp về thanh
toán tín dụng chứng từ.
bên thứ ba có đủ năng lực thu hộ. Những người nhập khẩu cũng không thể tự
mình đứng ra thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà cung cấp ở nước
ngoài, vì vậy, họ phải ủy thác cho một bên thứ ba thay mặt họ thực hiện nghĩa vụ
thanh toán. Tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia cụ thể mà mỗi quốc gia
có những quy định riêng về những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán như yêu
cầu về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các công cụ và các phương
thức đòi hoặc chi trả tiền tệ. Dịch vụ thanh toán theo luật Việt Nam được hiểu là:
"việc ung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong
nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân
hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo
yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán" [1, khoản 5 Điều 3]. Hiện nay
có ba loại tổ chức được đứng ra thực hiện chức năng trung gian thanh toán là
14
Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng thương mại và các Tổ chức khác được Ngân
hàng Nhà nước cho phép thực hiện dịch vụ thanh toán. Pháp luật Việt Nam
hiện hành ghi nhận 5 loại dịch vụ thanh toán chủ yếu được thực hiện bởi các
Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, bao gồm:
- Thanh toán bằng séc
- Thanh toán bằng lệnh chi/ ủy nhiệm chi
- Thanh toán bằng thu/ủy nhiệm thu
- Thanh toán bằng thẻ ngân hàng
- Thanh toán bằng thư tín dụng
1.1.2. Thư tín dụng
1.1.2.1. Khái niệm thư tín dụng
Thư tín dụng hay tín dụng thư, tín dụng chứng từ (tiếng Việt), Letter
of Credit (L/C hoặc LC); Credit; Documentary Credit (DC hoặc D/C) (tiếng
Anh) là một công cụ trong thanh toán, được định nghĩa như "một sự thỏa
thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên thế nào, thể hiện một cam kết
chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán
- Địa điểm và ngày hết hạn
- Quy tắc áp dụng (dẫn chiếu áp dụng UCP)
B, Các bên tham gia
- Người yêu cầu phát hành (tên và địa chỉ)
- Người thụ hưởng (tên và địa chỉ)
- Ngân hàng phát hành
- Ngân hàng trả tiền
- Ngân hàng thông báo
- Ngân hàng chiết khấu
- Điều kiện xác nhận
16
C, Nội dung về vận tải
- Tên cảng xếp hàng
- Tên cảng giao hàng
- Thời hạn giao hàng
- Điều kiện giao hàng từng phần
- Điều kiện chuyển tải
D, Nội dung về hàng hóa
- Mô tả hàng hóa (thường bao gồm điều kiện giao hàng)
E, Nội dung về chứng từ
- Các chứng từ xuất trình (loại chứng từ, quy cách, số bản)
- Thời hạn xuất trình chứng từ
G, Các nội dung khác
- Cam kết của ngân hàng phát hành
- Điều khoản phạt đối với trường hợp chứng từ có sai sót
- Hướng dẫn đối với ngân hàng trả tiền, ngân hàng chiết khấu, ngân
hàng thông báo
- Chữ ký, dấu của ngân hàng phát hành
1.1.2. Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ mang một số đặc điểm cơ
bản sau đây:
- Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng phát hành cam kết
thanh toán đối với người thụ hưởng thư tín dụng.
Trong các bản UCP được ban hành trước năm 2006, thì cam kết của
ngân hàng phát hành có thể là hủy ngang hoặc không thể hủy ngang tùy thuộc
vào yêu cầu của người mua (người yêu cầu phát hành thư tín dụng). Tuy
18
nhiên, từ UCP 600 thì thư tín dụng chỉ có thể là không hủy ngang mà thôi,
điều này có nghĩa là khi thư tín dụng đã được phát hành và có hiệu lực thì nó
sẽ là sự ràng buộc không thể hủy bỏ của ngân hàng phát hành đối với người
thụ hưởng. Có ý kiến cho rằng thuật ngữ "tín dụng" trong phương thức tín
dụng chứng từ "thể hiện việc ngân hàng cho người mua vay sự tín nhiệm của
mình bằng lời hứa trả tiền của mình đối với người bán thay cho lời hứa trả
tiền của người mua" [31, tr. 159].
Tuy thư tín dụng là một cam kết thanh toán không thể hủy bỏ của ngân
hàng phát hành đối với người thụ hưởng song cam kết chỉ có hiệu lực khi các
điều kiện của thư tín dụng được người thụ hưởng thực hiện đúng và đầy đủ.
- Giao dịch tín dụng chứng từ độc lập với hợp đồng cơ sở.
Mặc dù L/C được hình thành trên cơ sở hợp đồng thương mại nhưng
sau khi được thiết lập, hiệu lực của nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng
ngay cả khi hợp đồng được L/C dẫn chiếu đến. Điều đó có nghĩa là ngân hàng
không bị ràng buộc vào hợp đồng giữa bên mua và bên bán. Người bán chỉ
cần thực hiện đúng các điều kiện và điều khoản của thư tín dụng là có thể
được ngân hàng trả tiền mà không cần biết trên thực tế có vi phạm các thỏa
thuận với người mua hay không.
- Các giao dịch trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ chỉ
dựa trên cơ sở chứng từ.
Các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt. Lập
tác động của một hệ thống quy phạm đa dạng bao gồm pháp luật quốc gia và
tập quán quốc tế. Đồng thời những quan hệ thanh toán mang tính kỹ thuật -
nghiệp vụ cao từ L/C cũng chịu sử điều chỉnh của các tiêu chuẩn thuộc chuyên
môn nghiệp vụ ngân hàng. Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ đề cập chủ
yếu đến các quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa các bên trong quan hệ mua
bán hàng hóa với các ngân hàng phục vụ thanh toán bằng phương thức L/C.
1.2.1. Thông lệ quốc tế
Thông lệ quốc tế, hay tập quán quốc tế là "những quy tắc xử sự phổ
20
biến được thừa nhận và áp dụng rộng rãi ở một khu vực nhất định (tập quán
khu vực) hoặc trên phạm vi toàn cầu (tập quán toàn cầu)" [4, tr. 34].
Hiện nay, thông lệ quốc tế phổ biến nhất điều chỉnh các quan hệ thuộc
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là bộ Quy tắc và thực hành thống
nhất về Tín dụng chứng từ - UCP.
UCP là một tập hợp các nguyên tắc và tập quán quốc tế được Phòng
thương mại quốc tế (International Chamber of Commercial - ICC) soạn thảo
và ban hành, quy định quyền hạn, trách nhiệm của các bên liên quan trong
giao dịch tín dụng chứng từ với điều kiện thư tín dụng có dẫn chiếu việc tuân
thủ UCP.
Được nghiên cứu bởi Ủy ban Kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng (Commision
on Banking Technique and Practice) thuộc Phòng thương mại quốc tế nhằm
thống nhất khái niệm, đơn giản hóa và tập hợp các tập quán, kỹ thuật nghiệp
vụ áp dụng trong L/C, ngay từ khi ra đời, UCP đã được thừa nhận và áp dụng
rộng rãi trên thế giới, trở thành cơ sở cho thanh toán bằng L/C trong thương
mại quốc tế.
Từ khi được ban hành lần đầu tiên đến nay, UCP đã trải qua 06 lần
sửa đổi để theo kịp với thực tiễn phát triển của các quan hệ thương mại quốc
tế, bao gồm:
- Phát hành lần đầu : 1933
để phù hợp với sự phát triển của thương mại điện tử, ICC đã ban hành Tập
quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng, số
ấn phẩm 681 năm 2007 - viết tắt là ISBP 681 và bản phụ trương điện tử UCP
600, phiên bản 1.1 năm 2007 - viết tắt là eUCP 1.1.
Sự ra đời của bản ISBP 681 là sự bổ sung mang tính thực tiễn cho
UCP, là sự cụ thể hóa Quy tắc 14 của UCP 600 - Quy tắc kiểm tra chứng từ.
ISBP 681 không phải là một bản sửa đổi của UCP mà chỉ giải thích chi tiết và
rõ ràng hơn cách áp dụng các quy tắc của UCP trong giao dịch tín dụng chứng
22
từ. Nhờ đó, ISBP đã làm cho những quy tắc chung quy định trong UCP, cách
hiểu và vận dụng UCP trở nên thống nhất trên toàn thế giới.
Bản quy tắc ISBP 681 có 185 điểm được chia làm ba phần chính:
Phần 1 - Mở đầu: Đề cập tới các nội dung trong yêu cầu phát hành thư
tín dụng và việc phát hành thư tín dụng (từ điểm số 1 đến điểm số 5).
Phần 2 - Những nguyên tắc chung: Quy định nguyên tắc chung trong
việc lập chứng từ theo yêu cầu của thư tín dụng (từ điểm số 6 đến điểm số 42).
Phần 3 - Các quy định về một số loại chứng từ cơ bản được sử dụng
trong thư tín dụng: Tập trung vào những quy tắc cơ bản khi tạo lập chứng từ
như: Hối phiếu, hóa đơn thương mại; Chứng từ vận tải; Chứng nhận bảo
hiểm; Chứng nhận xuất xứ (từ điểm số 43 đến điểm số 85).
+ Bản eUCP 1.1 là một bản phụ trương của UCP 600, gồm 12 quy tắc, tập
trung chủ yếu vào những vấn đề tác nghiệp của ngân hàng khi sử dụng các chứng
từ điện tử như về cách thức áp dụng, phạm vi điều chỉnh, mối quan hệ giữa
eUCP và UCP, cách thức xuất trình và kiểm tra chứng từ điện tử… Một thư tín
dụng có dẫn chiếu đến việc áp dụng phiên bản xuất trình chứng từ điện tử eUCP
thì đương nhiên UCP sẽ được áp dụng song không đúng với điều ngược lại.
Bộ ba tập quán UCP 600, eUCP 1.1, ISBP 681 là những tập quán quốc
tế thống nhất và đang được các ngân hàng, doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử
dụng chủ yếu trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ trên phạm vi
theo quy định về quản lý ngoại hối, điều kiện đối với chủ thể được phép giao
dịch, những hành vi bị cấm… được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của
quốc gia mà tại đó hoạt động thanh toán diễn ra. Ngoài ra, thanh toán bằng
phương thức tín dụng chứng từ gắn bó mật thiết với các nghiệp vụ kinh tế
khác như mua bán hàng hóa, vận tải, bảo hiểm… đòi hỏi phải vận dụng đến
nhiều luật lệ, tập quán đặc thù của các nghiệp vụ này ở hai hay nhiều nước
khác nhau khi giải quyết các tranh chấp và do vậy thường nảy sinh sự xung
đột giữa các nguồn luật. Khi đó việc lựa chọn luật để áp dụng được thực hiện
theo các nguyên tắc về xung đột pháp luật quy định tại các hệ thống pháp luật
24
quốc gia, và những nguyên tắc này có sự khác nhau tùy theo từng nước. Như
vậy, cùng với các thông lệ quốc tế, pháp luật quốc gia là một nguồn quan
trọng để điều chỉnh các hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ.
1.2.2.2. Các quy định của pháp luật Việt Nam về thanh toán tín dụng
chứng từ
Với tư cách là một dịch vụ thanh toán thường được sử dụng trong
thương mại quốc tế, thanh toán bằng tín dụng chứng từ chịu sự điều chỉnh của
các quy định thuộc quản lý ngoại hối, thanh toán và thanh toán quốc tế, cụ thể:
- Luật các tổ chức tín dụng 2010
- Pháp lệnh Ngoại hối 2005
- Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 16/07/2009 về tổ chức và hoạt động
của ngân hàng thương mại
- Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20/09/2001 về hoạt động thanh
toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
- Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng
- Quyết định số 1092/2002/QĐ-NHNN ngày 08/10/2002 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy định thủ tục thanh toán qua
các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quy trình được quy định chủ yếu
trong Quyết định 1092/2002/QĐ-NHNN ngày 08/10/2002.
Thủ tục mở thư tín dụng được quy định tại Điều 7:
Khi có nhu cầu thanh toán bằng thư tín dụng, người trả tiền
lập giấy mở thư tín dụng nộp vào ngân hàng phục vụ mình. Mẫu
giấy mở thư tín dụng, số liên lập giấy mở thư tín dụng, phương thức
giao nhận, xử lý giấy mở thư tín dụng do ngân hàng phục vụ người
trả tiền quy định nhưng phải đảm bảo phù hợp với các quy định về
26
lập, kiểm soát, xử lý chứng từ kế toán ngân hàng, tổ chức tín dụng
do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành [13].
Điều 7 quy định về nghĩa vụ của ngân hàng phát hành như sau:
Khi nhận được giấy xin mở thư tín dụng của khách hàng,
ngân hàng phục vụ người trả tiền xử lý:
Kiểm tra giấy thủ tục lập giấy xin mở tín dụng, đảm bảo
tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ.
Ký tên và đóng dấu ngân hàng mình lên 2 liên đầu giấy mở
thư tín dụng.
Ghi ký hiệu mật lên các liên giấy mở thư tín dụng [13].
Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sau khi nhận được giấy mở thư tín
dụng có nghĩa vụ "tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của giấy mở thư tín dụng (…)
sau đó ghi ngày nhận, ký tên, đóng dấu đơn vị trên các liên giấy mở thư tín
dụng và gửi 1 liên giấy mở thư tín dụng cho người thụ hưởng để làm căn cứ
giao hàng, còn 1 liên lưu lại và mở sổ theo dõi giấy mở thư tín dụng đến" [13].
Về nghĩa vụ đối với người thụ hưởng, Điều 7 quy định:
Sau khi nhận giấy mở thư tín dụng của người trả tiền do
ngân hàng phục vụ mình gửi đến, người thụ hưởng phải đối chiếu
với hợp đồng hay đơn đặt hàng, kiểm soát giấy ủy nhiệm nhận
hàng, giấy chứng minh nhân dân của người nhận hàng nếu đúng thì
toán các giao dịch thanh toán" [13, Điều 3] mà thôi.
Để lấp khoảng trống về pháp luật đối với thanh toán bằng thanh toán tín
dụng chứng từ, Điều 19 Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2002
đã mở đường cho việc áp dụng UCP:
Việc mở, phát hành, sửa đổi, thông báo, xác nhận, kiểm tra
chứng từ thanh toán và quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong
thanh toán bằng tín dụng thực hiện theo các quy tắc chung về tín
dụng chứng từ do Phòng Thương mại quốc tế ICC ban hành, do các
bên tham gia thanh toán thỏa thuận áp dụng và theo quy định hiện