MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước
đã góp phần tạo nên những bước tiến đáng kể vào công cuộc cải tiến
nước nhà, mở ra nhiều cơ hội mới và cũng đặt ra những thách thức vô cùng
to lớn cho mọi lĩnh vực, mọi doanh nghiệp trong đó không thể không nói đến
ngân hàng, một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở các nước đi lên từ nền kinh tế
bao cấp. Ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển
của nền kinh tế hàng hóa để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh
toán…, phục vụ cho việc phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ
chức kinh tế, cá nhân. Trong hoạt động ngân hàng thì cho vay là hoạt động
truyền thống mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng là
hoạt động tiềm ẩn những rủi ro vô cùng lớn. Biểu hiện của rủi ro tín dụng khi
khách hàng không hoàn trả gốc và lãi đúng hạn hoặc phát sinh ra những tranh
chấp trong hợp đồng tín dụng…
Trong những năm qua, pháp luật về ngân hàng nói chung và pháp
luật
về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng nói riêng đã
được Nhà nước ta quan tâm và không ngừng hoàn thiện như: Bộ luật Dân sự
năm 2005, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung 2011, Luật Ngân
hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi
hành…những văn bản trên tạo ra khung pháp lý quan trọng, tạo đà cho hoạt
động cho vay của các Ngân hàng phát triển, thực hiện chính sách tiền tệ quốc
gia, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành
tựu đạt được thì pháp luật về ngân hàng nói chung và pháp luật về giải quyết
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng nói riêng còn nhiều bất cập. Bằng
đề tài: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín
dụng bằng con đường tòa án ở Việt Nam”, với mong muốn nghiên cứu
những quy định
nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn.
Với luận văn này, tôi mong muốn làm rõ hơn những vấn đề cơ bản
về hợp đồng tín dụng, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín
dụng, chỉ ra những bất cập của việc thực hiện các quy định pháp luật trong
thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Từ
đó, đề
2
xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở Việt Nam
hiện nay.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật Việt
Nam về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường
tòa án. Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng các quy định đó
trong thực
tiễn, chỉ ra những vấn đề phát sinh và bất cập, từ đó đề ra một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ
hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở Việt Nam hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề phát sinh từ thực trạng giải
quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở Việt
Nam. Qua đó, đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp
luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường
tòa án ở
Việt Nam hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản đã
được quy định trong BLDS 2005. Tuy nhiên, chỉ gọi là HĐTD trong trường
hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân
hàng. Theo quy định tại điều 471 BLDS 2005: “Hợp đồng vay tài sản là sự
thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi
đến hạn
trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo
đúng số
lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật
có quy định”. Hợp đồng tín dụng về bản chất là hợp đồng cho vay, theo đó
ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào
mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên
tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo
lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín
dụng.
Hợp đồng tín dụng là một căn cứ pháp lý mà qua đó, ngân hàng thực
hiện hoạt động cho vay. Hoạt động tín dụng luôn giữ một vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế và các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng diễn
ra ngày một nhiều, gây thiệt hại không nhỏ cho các chủ thể, song, cho đến nay
vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào của nước ta đưa ra một khái niệm
chính thức về hợp đồng tín dụng mà chỉ liệt kê những nội dung chủ yếu của
5
hợp đồng tín dụng. Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải
được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về
điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay,
lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương
toàn pháp lý và khi có tranh chấp xảy ra, HĐTD sẽ là căn cứ xác thực nhất để
các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp. Đa phần các HĐTD là hợp đồng
theo mẫu, chủ thể cho vay là TCTD soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật
và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD. Bên vay thường phải chấp nhận
những điều khoản trong hợp đồng mà không phải ai cũng có thể yêu cầu sửa
đổi điều khoản theo hướng có lợi hơn cho mình. Sự tự do ý chí được thể hiện
thông qua việc khách hàng chấp nhận những điều khoản trong đó thì đồng ý
giao kết hợp đồng, ngược lại thì không giao kết. Thực tế cho thấy việc thỏa
thuận sửa một số điều khoản trong HĐTD theo mẫu ít xảy ra và chỉ xảy ra với
những tổ chức, cá nhân có uy tín, khoản vay lớn và TCTD có thể thu được lợi
nhuận lớn từ hợp đồng này.
Theo khoản 2, khoản 3 điều 407 BLDS 2005: “Trong trường hợp hợp
đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo
mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó. Trong trường hợp hợp
đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng
theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia
thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Như vậy, pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ khách hàng trong trường hợp
hợp đồng theo mẫu có những điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp
đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó hoặc điều
khoản gây bất lợi cho khách hàng thì điều khoản này không có hiệu lực khi
không có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, hợp đồng tín dụng ngân hàng được ký kết dưới các hình
thức pháp lý là văn bản bao gồm cả văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng
thông điệp dữ liệu. Căn cứ khoản 1 điều 124 BLDS 2005, “Giao dịch
dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu được
thành nên tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi; để
8
thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm;
để
đáp ứng các nhu cầu chính của các giao dịch mà pháp luật cấm” [6, Khoản 1
Điều 9]. Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng trong các
trường hợp sau đây: Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám
đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;
Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm
định, quyết định cho vay; Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng
quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó
giám đốc)” [6, Khoản 1 Điều 19]. Đối với người vay là bố, mẹ, vợ, chồng,
con của Giám đốc, Phó Giám đốc chi nhánh của tổ chức tín dụng do tổ chức
tín dụng xem xét quyết định” [6, khoản 3 Điều 19].
Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan
hệ tín dụng, HĐTD trở nên rất quan trọng. Đặc biệt, các bên phải chú ý
đến nội dung của hợp đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng
buộc các bên thực hiện đúng trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần
giảm bớt các tranh chấp phát sinh và thúc đẩy sự phát triển trong hoạt động
kinh doanh của cả TCTD và khách hàng.
2.
Khái niệm, phân loại, nguyên nhân tranh chấp hợp đồng tín
dụng
1.
Khách hàng vay vốn có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
hoặc không đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn để kinh doanh, sản xuất
hoặc tiêu dùng, sinh hoạt. Vậy, tranh chấp hợp đồng tín dụng có thể là tranh
chấp về hợp đồng dân sự và cũng có thể là tranh chấp kinh doanh,
thương
mại. Vậy khi nào tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp
đồng dân sự và khi nào là tranh chấp kinh doanh, thương mại? Để trả lời câu
hỏi này, ta cần nhận định rằng bản chất hợp đồng tín dụng là hợp đồng vay tài
sản. Vì vậy, HĐTD ngân hàng là một dạng đặc biệt của hợp đồng dân sự xuất
phát từ hoạt động cho vay của ngân hàng. Nếu ngân hàng thực hiện cho vay
mà bên vay là cá nhân, tổ chức và mục đích vay nhằm đáp ứng nhu cầu về
sinh hoạt và tiêu dùng thì hợp đồng tín dụng ngân hàng mang tính chất là một
hợp đồng
10
dân sự theo đúng nghĩa. Nếu ngân hàng thực hiện cho vay mà bên vay là các
cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh và mục đích nhằm đáp ứng cho nhu
cầu phát triển sản xuất kinh doanh, thương mại thì hợp đồng tín dụng ngân
hàng mang tính chất là hợp đồng kinh doanh, thương mại. Do đó, tuỳ theo đối
tượng và mục đích trong hoạt động cho vay của ngân hàng mà chúng ta nhìn
nhận hợp đồng tín dụng ngân hàng ở gốc độ thích hợp.
Từ phân tích trên tác giả cho rằng tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín
dụng có hai loại :
-Thứ nhất, tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng dân
sự khi bên vay vốn là hộ gia đình, cá nhân hay tổ chức không có đăng ký
kinh doanh và không có mục đích lợi nhuận.
-Thứ hai, tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp kinh doanh thương mại khi bên vay vốn là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều
có mục đích lợi nhuận.
tổ
chức tín dụng coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn
thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển tiền tệ) không thể thanh toán được nợ. Hiện
nay, theo quy định của pháp luật có ba hình thức bảo đảm tín dụng là cầm cố,
thế chấp, bảo đảm tài sản bằng bảo lãnh. Quá trình xác lập, thực hiện giao
dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm được quy định tại Bộ luật Dân sự
2005, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao
dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 của Chính phủ về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày
29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện không phải khi nào các bên cũng tuân thủ nghiêm túc những quy
định của pháp luật, nên trên thực tế, các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo
đảm tương đối nhiều.
12
Các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng này chủ yếu liên quan đến
việc xử lý tài sản bảo đảm. Khi thẩm định hồ sơ vay vốn, nếu như nhân viên
ngân hàng thẩm định không kỹ, kết quả thẩm định không chính xác dẫn
đến chấp nhận những tài sản bảo đảm không đúng quy định của pháp luật về
giao dịch bảo đảm thì sẽ dẫn đến những tranh chấp phát sinh khi ngân hàng
xử lý tài sản bảo đảm. Chẳng hạn, nếu không xác định được tài sản bảo đảm
thuộc sở hữu chung hay riêng của vợ chồng hoặc tài sản bảo đảm không
thuộc của người cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh thì cũng gây khó khăn khi xử
lý tài sản bảo đảm, đặc biệt là tài sản của Hộ gia đình.
- Tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD : Nếu như khi ký
hợp đồng tín dụng mà các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan
giải
quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng (nếu như có yếu tố nước ngoài)
thì sau này có nhiều khả năng xảy ra việc tranh chấp về luật áp dụng để giải
khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ giải ngân. Điều này, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp
của bên vay, làm hạn chế khả năng thực hiện kế hoạch kinh doanh như dự
kiến, hiệu quả kinh doanh đạt được thấp gây ảnh hưởng đến việc trả lãi và gốc
sau này.
+ Năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ tín dụng:
Ở Việt Nam, ngân hàng chưa có chính sách hợp lý và quy trình
cho vay
hiệu quả, cơ chế phân tích và quản lý rủi ro còn hạn chế nên các tranh
chấp thường xảy ra trước hết là do lỗi nghiệp vụ, đó là :
Thứ nhất, do sự hạn chế về năng lực nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng
nên việc đánh giá biện pháp bảo đảm tiền vay còn nhiều bất cập, chưa phân
tích, đánh giá hết các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay một cách
chính xác. Thậm chí, một số nhân viên ngân hàng bị suy thoái phẩm
chất đạo đức cố ý làm trái các quy định, chẳng hạn trong việc cho vay có
14 thế chấp mà bên vay vẫn được giữ
đảm bảo nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản
cả giấy
tờ gốc chứng minh tài sản thế chấp của mình. Điều này dẫn đến có thể bên
vay lại đem bán tài sản đã thế chấp ở ngân hàng cho người thứ ba. Lúc này
ngân hàng và người thứ ba có sự tranh chấp về quyền tài sản. Hầu như, các
vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân hàng thông qua
các hình thức thế chấp, cầm cố đều có sự vi phạm của cán bộ tín dụng như vi
phạm quy chế cho vay hoặc vì động cơ, mục đích khác mà làm trái các quy
định gây hậu quả nghiêm trọng.
Thứ hai, do các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức
cho việc thẩm định trước khi cho vay mà không kiểm soát sử dụng vốn cho
Trong quá trình lập hồ sơ vay vốn, đa số khách hàng là các doanh nghiệp đều
chứng minh được tính khả thi và phương án sử dụng vốn vay hoặc chứng
minh được
tài chính tốt. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vốn vay không phải lúc
nào cũng được thuận lợi, đạt hiệu quả cao như mong muốn. Cũng có
trường hợp
do bên vay cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay
vốn nên khi về đầu tư hay sử dụng vào mục đích của mình không có hiệu quả.
Hầu như, các tranh chấp liên quan về hợp đồng tín dụng xuất phát từ
việc khách hàng vay không thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng về
mục đích vay vốn, thời hạn trả nợ gốc và lãi. Việc khách hàng thực hiện
không đúng các cam kết trong hợp đồng bởi những lý do sau đây :
Thứ nhất, do quy trình xét duyệt cho vay là cả quá trình tương đối
dài,
tốn khá nhiều thời gian, đặc biệt đối với những dự án lớn, những hợp
đồng tín dụng trung và dài hạn thì quá trình này còn dài hơn nữa. Chính vì thời
gian để được vay vốn khá lâu như thế làm cho khách hàng vay mất đi cơ hội
kinh doanh của mình. Cho đến khi nhận được tiền vay từ tổ chức tín dụng thì
kế hoạch kinh doanh đã thay đổi, dẫn đến tình trạng người vay sử dụng số tiền
16
vay sai mục đích với cam kết trong hợp đồng. Điều này, dẫn đến hiệu quả của
sử dụng đồng tiền
đó rất thấp khiến cho khách hàng rơi vào tình trạng không trả được nợ, vi phạm
hợp đồng cụ thể điều khoản sử dụng vốn vay không đúng mục đích.
Thứ hai, khi xét duyệt cho vay tổ chức tín dụng thường cho vay thấp
hơn nhiều lần so với nhu cầu vay vốn của khách hàng việc đó cũng ảnh hưởng
đến kế hoạch đề ra đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sử dụng vốn kém hiệu
chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và nhiều quy định không thể thực hiện được
trên thực tế. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán ở nhiều cơ
quan khác nhau tạo kẽ hở trong quản lý. Theo Nghị định số 163/2006/NĐ- CP
và Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính
phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, cho phép các tổ chức tín dụng được lựa
chọn hình thức xử lý đa dạng như bán tài sản thế chấp, nhận các khoản tiền và
tài sản từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ, phương thức
khác do các bên thoả thuận. Tuy nhiên, trên thực tế ngân hàng không thật sự
làm chủ trong việc xử lý tài sản thế chấp vì vấp phải các quy định trong Bộ
luật Dân sự năm 2005, Luật Đất đai, Luật Nhà ở và các qui định khác. Như
vậy, dù đã tuân thủ nghiêm ngặt một trình tự, thủ tục phức tạp do luật định
nhưng các hợp đồng công chứng trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm chưa thể
hiện được vị trí, vai trò của mình trên thực tế cuộc sống. Điều này, tạo điều
kiện thuận lợi cho các khách hàng không có thiện chí trong việc thanh toán
các khoản nợ và lãi. Tất nhiên, tranh chấp sẽ xảy ra.
- Nguyên nhân từ thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước
về bình ổn kinh tế:
Theo điều 7 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền tự chủ trong hoạt động kinh
doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Không tổ chức,
cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kinh doanh của tổ
chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài có quyền từ chối yêu cầu cấp tín dụng, cung ứng các
dịch vụ
18
khác nếu thấy không đủ điều kiện, không có hiệu quả, không phù hợp với quy
dụng chưa
tiến hành giải chấp (tức chưa thanh lý hợp đồng thế chấp, cầm cố, …mà vẫn
lưu giữ những tài sản hoặc quyền sở hữu tài sản của bên vay). Trong trường
hợp này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do lỗi vi
phạm thuộc về tổ chức tín dụng không thực hiện đúng trách nhiệm của mình
trong việc giải chấp hoặc có thể làm thất lạc tài sản thế chấp, cầm cố. Điều
này cũng làm phát sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng.
1.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng
Để bảo đảm quyền lợi của các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp
hợp đồng tín dụng nên việc giải quyết tranh chấp này đòi hỏi phải đạt được
các yêu cầu sau :
Thứ nhất, tranh chấp phải được giải quyết một cách kịp thời, phải đảm
bảo nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật nhằm hạn chế đến mức thấp
nhất
những rủi ro và có thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh mới cho
các chủ thể tham gia tranh chấp.
Thứ hai, trong quá trình giải quyết tranh chấp phải bảo đảm giữ được bí
mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín của các bên trong quan hệ
tranh chấp. Bởi vì, các bên còn nhiều đối tác quan hệ kinh doanh khác.
Thứ ba, quá trình giải quyết phải đảm bảo tính dân chủ và quyền tự
định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp. Vì lợi ích kinh tế và
sự ổn định trong kinh doanh của các bên tham gia giải quyết tranh chấp nên
mỗi bên đều có quyền cân nhắc, lựa chọn phương thức và đưa ra yêu cầu giải
quyết tranh chấp.
* Các phương thức giải quyết tranh chấp:
Giống như các phương thức giải quyết tranh chấp khác, pháp luật hiện
hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
Phương pháp thương lượng là phương thức được các bên tiến hành đầu
tiên bởi các ưu điểm của nó như : thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh
21
hoạt, ít tốn kém về thời gian, về tiền bạc, không ràng buộc bởi các thủ tục
pháp lý phức tạp, đảm bảo bí mật, uy tín của các bên. Nếu thương lượng
thành công thì ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên
thậm chí còn được tăng cường về sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi kết thúc
cuộc thương lượng.
Tuy vậy, bên cạnh các ưu điểm trên, thương lượng cũng có những
nhược điểm như : thương lượng thành công phụ thuộc vào các bên có thiện
chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp. Nếu bên vay muốn dùng
hình thức thương lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương
lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp hơn. Sự
thực thi kết quả thương lượng phụ thuộc vào ý chí tự nguyện thi hành của
các bên tham
gia. Cũng chính vì, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương
lượng không bị ràng buộc bởi bất kỳ các cơ chế pháp lý nào nên kết quả
thương
lượng cũng không được bảo đảm bởi bất kỳ cơ chế pháp lý nào dẫn đến
tính bắt buộc thực hiện không cao. Mặt khác, hình thức giải quyết khép kín,
không
công khai có khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật.
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng
hoà giải:
Cũng giống như thương lượng, hoà giải là các bên tranh chấp cùng
nhau bàn bạc, thỏa thuận để giải quyết các vấn đề tranh chấp nhưng
khác là hoà giải có sự hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên. Người trung gian
có thể là cá nhân, tổ chức luật sư, tư vấn, hoặc các tổ chức khác do các bên
chấp có thể nói chuyện, trao đổi, đàm phán và thảo luận về các giải pháp
trong toàn bộ quá trình. Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ
quan điểm của mình về tranh chấp, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng
thua như quá trình kiện tụng tại tòa án, duy trì được mối quan hệ vốn có của
các bên. Do hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện tham gia và tự do thỏa thuận
của các bên, nên nội dung thỏa thuận luôn hướng tới lợi ích của tất cả các
bên. Mặt khác,
là khi giải quyết bằng con đường này các bên kiểm soát
được những bí mật của mình bởi phiên họp hòa giải được tổ chức kín, trong
khi giải quyết tại Tòa án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do tòa án
thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai.
Bên cạnh những ưa điểm trên, giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
bằng phương pháp hòa giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định: việc
hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên,
23
hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất
cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa thuận hòa giải, không có tính bắt
buộc thi hành như phán quyết của Trọng tài thương mại hay của Tòa án. Các
thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc
cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên. Vì
vậy, phương pháp này ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với
nhau.
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng
trọng tài thương mại:
Phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD bằng trọng tài thương mại
cũng bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện và được
quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thể hiện tính năng động, linh hoạt
và mềm dẻo, tạo quyền chủ động cho các bên về địa điểm, thời gian giải
quyết tranh chấp, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng
trọng tài trong khi tòa án khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm
ngặt các quy định có tính chất quy trình, thủ tục, trình tự được quy định trong
Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 và các văn bản
hướng dẫn liên quan. Thứ tư, giải quyết trọng tài không bị giới hạn về mặt
lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải
quyết tranh chấp cho mình.
Tuy nhiên, bên cạnh đó phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài có những nhược điểm đáng kể như là: Quyết định trọng tài thương mại
không có tính cưỡng chế cao như quyết định của toà án; việc thi hành quyết
định trọng tài thương mại không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như
việc thi hành bản án mà phụ thuộc chủ yếu vào thiện chí và sự hợp tác giải
quyết của các bên. Giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí
tương đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao.
25