ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THU HƯỜNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2011
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THU HƯỜNG
tố nước ngoài
5
1.1.1.
Định nghĩa bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
5
1.1.2.
Định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu
tố nước ngoài
10
1.2.
Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có
yếu tố nước ngoài
14
1.2.1.
Chủ thể không cùng quốc tịch, nơi cư trú hay trụ sở
14
1.2.2.
Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại được thực hiện tại nước ngoài
17
1.2.3.
Thiệt hại của hành vi trái pháp luật xảy ra ở nước ngoài
17
1.2.4.
Đối tượng của hành vi trái pháp luật ở nước ngoài
18
1.3.
Xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng có yếu tố nước ngoài.
19
1.3.1.
BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
35
2.1.
Áp dụng quy phạm xung đột
35
2.1.1.
Điều ước quốc tế
35
2.1.1.1.
Điều ước quốc tế đa phương
35
2.1.1.2.
Điều ước quốc tế song phương
43
2.1.2.
Pháp luật một số quốc gia
47
2.1.2.1.
Pháp luật Nhật Bản
47
2.1.2.2.
Pháp luật Trung Quốc
53
2.1.2.3.
Pháp luật Thái Lan
62
2.1.3
Pháp luật Việt Nam
67
2.2.
Hoàn thiện các văn bản pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
94
KẾT LUẬN
103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (BTTHNHĐ) là một trong những chế
định quan trọng trong ngành luật dân sự của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều có những quy định không giống nhau về căn cứ bồi
thường, cách thức xác định việc bồi thường, các thiệt hại phải bồi thường hay
mức bồi thường cũng không giống nhau. Đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay khi các giao lưu dân sự đang diễn ra ngày càng đa dạng và
phức tạp giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau thì trách nhiệm BTTHNHĐ
có yếu tố nước ngoài đã trở thành một vấn đề mang tính pháp lý quốc tế, là một
trong những nội dung quan trọng của Tư pháp quốc tế.
Hiến pháp năm 1992 tại Điều 74 quy định
:
“Mọi hành vi xâm phạm lợi
ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải
được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường
về vật chất và phục hồi về danh dự”. Với căn cứ pháp lý cao nhất được quy định
tại Hiến pháp thì bất kỳ một chủ thể nào khi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe,
tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân thì chủ thể đó phải có trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại
Nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu cơ sở lý luận về trách nhiệm BTTHNHĐ có yếu tố nước
ngoài.
Đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế và
pháp luật một số quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc và Thái Lan trong việc
giải quyết xung đột pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ có yếu tố nước ngoài
từ đó rút ra những kinh nghiệm thực tiễn hữu ích cho pháp luật Việt Nam.
Phân tích và chỉ ra những bất cập trong quá trình thực thi các quy định về
BTTHNHĐ có yếu tố nước ngoài trong thực tiễn. Trên cơ sở đó, nêu một số
8
kiến nghị góp phần xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam
về trách nhiệm BTTHNHĐ có yếu tố nước ngoài.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quan hệ BTTHNHĐ có
yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và các nước.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào các quan hệ về BTTHNHĐ
có yếu tố nước ngoài theo các quy định của Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nhật
Bản, Trung Quốc, Thái Lan và một số điều ước quốc tế.
4. Phƣơng pháp tiếp cận vấn đề
Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và
phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: Phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh.
5. Tình hình nghiên cứu
Pháp luật về bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài là một chế định
quan trọng của pháp luật dân sự nói chung và của tư pháp quốc tế nói riêng nên
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều cuốn sách và
công trình khoa học đề cập đến vấn đề này như: Giáo trình luật dân sự – Trường
đại học Luật Hà nội, Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong
10
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố
nƣớc ngoài
1.1.1. Định nghĩa bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng
Trong các giao lưu dân sự nói chung thì BTTHNHĐ là một loại nghĩa vụ
dân sự đặc biệt phát sinh trong đời sống xã hội. Điểm đặc biệt này thể hiện
thông qua việc các chủ thể bị gây ra những thiệt hại nhất định. Thiệt hại đó có
thể xuất phát từ những lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của con người, của pháp nhân hay
nhà nước và bên gây thiệt hại phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý nhất định: Bồi
thường thiệt hại.
Theo Từ điển luật học của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thì thiệt
hại được định nghĩa là “tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản,
quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp
nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ” [29, tr.713]. Như vậy, thiệt hại ở
những hành vi xâm phạm những quyền lợi ích hợp pháp đó pháp luật các quốc
gia đều quy định các chủ thể gây thiệt hại đều phải chịu trách nhiệm pháp lý -
trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Điều 604 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc
lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,
quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín tài sản của
pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” [1].
Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Bộ luật Dân sự năm 2005 về BTTHNHĐ quy định: Thiệt hại bao gồm thiệt
hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất tinh thần.
12
- Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm hại, thiệt hại do
sức khỏe bị xâm hại, thiệt hại do tính mạng bị xâm hại và thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.
- Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính
mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau
thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè
xa lánh do bị hiểu nhầm… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp
tổn thất mà họ phải chịu.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác
không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín
bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất tín nhiệm, uy tín, lòng tin vì bị
hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ
chức đó phải chịu [22, tr.1].
Thiệt hại xảy ra, điều này có nghĩa là quyền và lợi ích hợp pháp của một
bên thậm chí có trường hợp là các bên đã bị tác động, bị ảnh hưởng tiêu cực từ
bên kia. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
những quy định tương tự. Theo quy định của Hiến pháp mọi hành vi xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức do bất cứ cơ quan nhà nước nào
gây ra thì về nguyên tắc người bị thiệt hại có quyền được bồi thường.
Trong
trường hợp các cán bộ, công chức nhà nước trong quá trình thi hành công vụ mà
gây thiệt hại thì cơ quan nhà nước có trách nhiệm bồi thường.
Bồi thường thiệt hại của nhà nước xét dưới góc độ pháp lý là BTTHNHĐ.
Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt là chủ thể gây ra thiệt hại lại là các cán bộ, công
chức - những người đại diện cho quyền lực nhà nước gây thiệt hại trong khi thi
hành công vụ, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ mà nhà nước giao phó nên
được điều chỉnh bằng văn bản pháp lý riêng - Luật trách nhiệm bồi thường nhà
nước. Luật đã được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009 và có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010,
gồm 8 chương với 67 điều. Luật quy
định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại
do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng,
14
thi hành án; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền, nghĩa vụ của cá nhân,
tổ chức bị thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi
hành công vụ đã gây ra thiệt hại.
Bên cạnh Luật trách nhiệm bồi thường của nhà
nước thì Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH 11 ngày
17 tháng 3 năm 2003
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
quy định về bồi thường thiệt hại cho người bị
oan do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Luật bồi
thường nhà nước do tính chất đặc thù của mình được nghiên cứu trong nhiều đề
tài nghiên cứu khoa học khác nên trong luận văn này, tác giả không đề cập tới
thực hiện việc bồi thường cũng như những biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ bồi thường.
BTTHNHĐ là một loại trách nhiệm dân sự của bên có lỗi (cố ý hoặc vô
ý), gây hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các
quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, gây hại đến danh dự, uy tín, tài sản
của pháp nhân hoặc các chủ thể khác [29, tr.85]. Đây là loại trách nhiệm pháp lý
phát sinh khi trước thời điểm xảy ra thiệt hại các bên không có thỏa thuận hay
không có giao kết hợp đồng hoặc trong các trường hợp các bên có giao kết hợp
đồng nhưng hành vi trái pháp luật làm phát sinh trách nhiệm bồi thường không
xuất phát từ việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu
bên vi phạm phải bồi thường cho những tổn thất đã xảy ra mà mình phải gánh
chịu. Như vậy, cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề BTTHNHĐ không dựa vào
hợp đồng dân sự như bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mà phát sinh ngay khi
có thiệt hại thực tế đã xảy ra do hành vi trái pháp luật.
Như vậy, “BTTTHNHĐ là một loại quan hệ dân sự phát sinh ngoài hợp
đồng trong đó bên xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm, uy
tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác mà gây ra thiệt hại
thì phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra”.
1.1.2. Định nghĩa trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố
nƣớc ngoài
Thiệt hại xảy ra, lợi ích của các bên đã bị xâm hại. Chính vì vậy, pháp luật
quy định bên có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi
16
thường thiệt hại do mình gây ra. Đối chiếu với quy định tại Điều 280 Bộ luật
Dân sự: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây
gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền
hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công
việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là
bên có quyền)”. Như vậy, trường hợp này, có thể đồng nhất trách nhiệm bồi
Khác với quan điểm về trách nhiệm BTTNNHĐ theo quan điểm của pháp
luật dân sự như đã trình bày trên đây, tư pháp quốc tế với tư cách là một ngành
luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam có đối tượng điều chỉnh là các
quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài lại điều chỉnh các quan hệ
trách nhiệm bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài đã
được Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 758 quy định rất cụ thể: “Quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là
cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam
nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước
ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài”. Như vậy, yếu tố nước ngoài trong quan hệ bồi thường được xác định khi
có ít nhất một trong các yếu tố sau:
Thứ nhất, các bên chủ thể tham gia trách nhiệm BTTHNHĐ bao gồm bên
gây hại và bên bị thiệt hại không cùng quốc tịch, không cùng nơi cư trú hoặc
không cùng trụ sở trên lãnh thổ một quốc gia.
Trách nhiệm BTTHNHĐ do luật dân sự điều chỉnh là các quan hệ bồi
thường không có yếu tố nước ngoài hay cụ thể là các chủ thể tham gia phải có
cùng quốc tịch hoặc cùng nơi cư trú trên lãnh thổ quốc gia. Trong khi đó, tư
pháp quốc tế lại điều chỉnh các quan hệ mà trong đó bên gây thiệt hại và bên bị
thiệt hại phải có quốc tịch khác nhau hay nơi cư trú khác nhau đối với cá nhân
hay trụ sở khác nhau đối với pháp nhân.
Thứ hai, hành vi gây ra thiệt hại hoặc hậu quả thực tế của hành vi gây ra
thiệt hại xảy ra ở nước ngoài.
18
Hành vi làm phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ phải là hành vi trái pháp
luật. Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện
thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.
Tính trái pháp luật của hành vi thể hiện thông qua việc xâm phạm đến tài sản,
ngoài là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phát sinh khi có thiệt hại xảy ra và
có ít nhất một trong ba yếu tố nước ngoài sau: Thứ nhất, các bên tham gia quan
hệ không cùng quốc tịch hoặc nơi cư trú; Thứ hai, sự kiện gây thiệt hại hoặc
hậu quả thiệt hại xảy ra ở nước ngoài; Thứ ba, đối tượng bị thiệt hại ở nước
ngoài”.
1.2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu
tố nƣớc ngoài.
1.2.1. Chủ thể không cùng quốc tịch, nơi cƣ trú hay trụ sở
Đặc điểm nổi bật đầu tiên của các quan hệ xã hội được Tư pháp quốc tế
điều chỉnh là yếu tố nước ngoài của các quan hệ này. Yếu tố nước ngoài đầu tiên
phải kể đến đó là điểm khác biệt về chủ thể. Chủ thể đó có thể là cá nhân, pháp
nhân, trường hợp cá biệt có thể là nhà nước. Trường hợp chủ thể của các quan
hệ này là cá nhân thì các cá nhân đó phải không cùng quốc tịch hoặc không cùng
nơi cư trú. Trường hợp chủ thể là pháp nhân thì các pháp nhân này phải không
cùng quốc tịch hay không được có trụ sở trên cùng lãnh thổ quốc gia.
Theo Luật quốc tịch Thái Lan (luật B.E. 2508) quy định tại Điều 4:
“Người nước ngoài là người không có quốc tịch Thái Lan”. Như vậy, theo cách
quy định này thì đối tượng được coi là người nước ngoài theo pháp luật Thái
Lan sẽ bao gồm những người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc
tịch. Cách hiểu này cũng tương tự như các quy định của pháp luật Việt Nam.
Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài Điều 3, khoản 2 quy định: “Người nước ngoài là người không có
quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không có
20
quốc tịch”[20]. Trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại khác quốc tịch
thì quan hệ bồi thường này sẽ chịu sự điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.
Tuy nhiên, cách thức xác định quốc tịch, nơi cư trú của cá nhân hay xác
định trụ sở của pháp nhân theo pháp luật các nước cũng có nhiều điểm khác
4, khoản 20]. Như vậy, có thể khẳng định pháp luật Việt Nam xác định quốc tịch
của pháp nhân theo quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi pháp nhân được thành
lập mà không phụ thuộc vào pháp nhân đó hoạt động ở đâu hay có trụ sở ở quốc
gia nào.
Bên cạnh sự khác biệt về quốc tịch, trường hợp các bên đều là pháp nhân
thì pháp nhân phải có trụ sở ở các nước khác nhau. Bộ các nguyên tắc pháp luật
dân sự Trung Hoa quy định tại Điều 36: “Một pháp nhân là một tổ chức có các
quyền dân sự và năng lực dân sự và độc lập hưởng các quyền dân sự và nghĩa vụ
dân sự theo quy định của pháp luật”. “Trụ sở của pháp nhân là nơi đặt văn
phòng hành chính” [35, Điều 39]. Như vậy, pháp luật Trung Quốc xác định trụ
sở pháp nhân căn cứ vào nơi đặt cơ quan quản lý, điều hành của pháp nhân.
Tương tự như pháp luật Trung Quốc, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan
Điều 71 quy định: “Nơi cư trú pháp lý của một pháp nhân là nơi mà pháp nhân
có trụ sở chính của mình hoặc là nơi được lựa chọn làm nơi cư trú pháp lý đặc
biệt trong điều lệ hoặc trong văn bản thành lập pháp nhân đó. Nơi mà pháp nhân
có trụ sở chi nhánh cũng có thể được coi là nơi cư trú pháp lý của nó đối với
những hành vi thực hiện tại đó”. Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định tại Điều 90:
“Trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân”. Như vậy,
pháp luật Việt Nam, Trung Quốc hay Thái Lan cũng đều quy định trụ sở của
pháp nhân theo nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân.
Như vậy, trong trách nhiệm BTTHNHĐ có yếu tố nước ngoài nếu các bên
chủ thể là cá nhân thì phải có quốc tịch khác nhau hoặc cư trú ở các quốc gia
khác nhau; đối với pháp nhân thì phải có trụ sở hay quốc tịch khác nhau. Trường
hợp các bên chủ thể có cùng quốc tịch, cùng nơi cư trú hay trụ sở, hành vi trái
pháp luật lại được thực hiện trong nước thì không chịu sự điều chỉnh của tư pháp
quốc tế mà sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự của mỗi quốc gia.
22
1.2.2. Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đƣợc thực hiện ở nƣớc ngoài
Hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại trong quan hệ BTTHNHĐ được
Một đặc điểm nữa BTTHNHĐ trong Tư pháp quốc tế đó là đối tượng của
hành vi gây thiệt hại ở nước ngoài. Cụ thể như tài sản trong quan hệ trách nhiệm
này đang hiện hữu tại nước ngoài. Trường hợp này, chủ thể của quan hệ có thể
có cùng quốc tịch, hành vi gây ra thiệt hại có thể được thực hiện ở trong nước
nhưng tài sản là đối tượng của hành vi xâm hại lại ở nước ngoài.
Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định tại Điều 99: “Tài sản
bao gồm những vật cũng như các đối tượng không cụ thể, có thể có một giá trị
và có thể chiếm dụng được”. Điều 163 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “Tài
sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Tài sản trong pháp
luật dân sự Việt Nam cũng được chia thành bất động sản và động sản. Bất động
sản là các loại tài sản bao gồm: đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất
đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác
gắn liền với đất đai và các tài sản khác do pháp luật quy định. Động sản là
những tài sản không phải là bất động sản [1, Điều 174]. Trường hợp tài sản là
đối tượng của hành vi gây thiệt hại ở nước ngoài thì trách nhiệm BTTHNHĐ
này cũng được coi là có yếu tố nước ngoài và trở thành đối tượng chịu sự điều
chỉnh của Tư pháp quốc tế.
Tóm lại, trường hợp quan hệ bồi thường có ít nhất một trong các căn cứ
như các chủ thể không cùng quốc tịch hay nơi cư trú, hành vi hay hậu quả của
hành vi trái pháp luật được thực hiện tại nước ngoài hoặc đối tượng của hành vi
trái pháp luật ở nước ngoài thì các quan hệ đó là BTTHNHĐ có yếu tố nước
ngoài. Chính yếu tố nước ngoài này đã dẫn tới những hệ lụy tất yếu của nó là
cần phải xác định pháp luật của quốc gia nào sẽ được áp dụng và tòa án của
quốc gia nào sẽ có thẩm quyền giải quyết trong các trường hợp này. Nếu không
giải quyết được hai vấn đề này thì quyền lợi của chủ thể bị xâm hại có thể không
được bảo vệ và có thể dẫn tới những bất đồng trong việc giải quyết vụ án giữa
các quốc gia. Nguyên nhân của điều này là do có sự khác nhau giữa pháp luật
của các quốc gia trong việc xác định một hành vi có bị coi là trái pháp luật hay
24
1.3.1. Định nghĩa xung đột pháp luật về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại
ngoài hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài
Các quan hệ dân sự khi có sự tham gia của yếu tố “nước ngoài” đã làm
cho tính chất phức tạp của các quan hệ này tăng lên rất nhiều lần. Lúc này, vấn
đề không phải chỉ đơn giản là áp dụng pháp luật của một quốc gia tùy thuộc vào
sự lựa chọn của các bên hay ý chỉ chủ quan của các cơ quan tư pháp mỗi nước
mà phải dựa vào các nguyên tắc chọn luật nhất định của từng quốc gia trong mối
tương quan với các quốc gia khác.
Xung đột pháp luật nói chung và xung đột pháp luật về trách nhiệm
BTTHNHĐ có yếu tố nước ngoài nói riêng là một vấn đề pháp lý lớn, một hiện
tượng pháp luật mang tính quốc gia và quốc tế, một trong những vấn đề cơ bản
và quan trọng của tư pháp quốc tế hiện đại. “Xung đột pháp luật là hiện tượng có
hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế
cụ thể, do có sự khác nhau giữa pháp luật của các quốc gia hoặc do tính chất đặc
thù của chính đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế” [29, tr.873].
Vậy, xung đột pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ là hiện tượng có hai
hay nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cùng có thể điều
chỉnh các quan hệ BTTHNHĐ có yếu tố nước ngoài.
Xung đột pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ có yếu tố nước ngoài là
một nội dung cụ thể của xung đột pháp luật trong Tư pháp quốc tế. Một vụ việc
BTTHNHĐ có yếu tố nước ngoài phát sinh thì việc lựa chọn hệ thống pháp luật
của quốc gia nào để áp dụng sẽ có thể dẫn đến những cách thức giải quyết không
giống nhau, thậm chí có những trường hợp có thể trái ngược hoàn toàn với nhau.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải lựa chọn luật của quốc gia nào để điều chỉnh, cơ
quan tư pháp của nước nào có thẩm quyền giải quyết các quan hệ bồi thường
này vừa đảm bảo lợi ích của các bên, vừa phải đảm bảo các nguyên tắc chung
của Tư pháp quốc tế. Giải quyết được vấn đề này có nghĩa là đã giải quyết được
xung đột pháp luật về BTTHNHĐ, thực hiện được một nhiệm vụ quan trọng của
Tư pháp quốc tế.