Đề tài : Đánh giá thực trạng và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài kể từ khi Việt Nam tham gia Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả. - Pdf 42

1


VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI


BÀI TẬP NHÓM
TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Đề tài : Đánh giá thực trạng và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài kể từ khi Việt Nam tham
gia Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả.
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
NHÓM 2- LỚP K1B
Phan Quốc Nghiệp
Nguyễn Tuấn Anh
Bùi Đức Hiếu
Nguyễn Đình Tú
Nguyễn Lương Đức
Lê Mạnh Khởi

1)
2)
3)
4)
5)
6)

Hà Nội, 2016

2

A. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI KỂ TỪ KHI VIỆT NAM THAM GIA CÔNG ƯỚC BERNE
NĂM 1886 VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ.

I.

Khái quát chung về Công ước Berne.

1. Công ước Berne

- công ước quan trọng nhất về bảo hộ quyền tác giả

trên thế giới.
Công ước Berne được lấy ý tưởng về một thỏa thuận quốc tế đa phương
nhằm bảo hộ quyền tác giả trong phạm vi châu Âu. Sau một thời gian thương
lượng, đàm phán, ngày 9/9/1886 tại Berne, Thụy Sĩ, 10 nước châu Âu đã thông qua
thỏa thuận quốc tế đầu tiên về bảo hộ quyền tác giả : Công ước Berne - Công ước
về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Công ước Berne ra đời đã đánh dấu
một bước ngoặt lớn trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên thế giới với vai
trò tiên phong của các nước châu Âu, đồng thời cũng là những nước sáng lập ra Tổ
chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO).

2. Những lợi ích chủ yếu khi tham gia Công ước.
WIPO đã tổng kết kinh nghiệm thực tế của hơn 110 năm áp dụng, phát triển
Công ước và đã rút ra kết luận chung là quyết định gia nhập Công ước Berne của
một nước là một hành động vì lợi ích của chính nước đó.
Lợi ích chủ yếu đối với quốc gia nhập Công ước Berne là các tác phẩm của
tác giả quốc gia đó tự động được bảo hộ tại tất cả các quốc gia thành viên khác. Từ
đó, các tác giả có thể được hưởng những lợi ích kinh tế tại các thị trường rộng lớn
hơn nhiều so với thị trường trong nước. Mặt khác, việc gia nhập Công ước Berne

bản, phát thanh và truyền hình..., vì vậy, có hiện tượng các cơ quan, tổ chức kinh
doanh Nhà nước có thẩm quyền trên lĩnh vực này xâm phạm quyền tác giả của các
5


tổ chức, cá nhân nước ngoài, sao chép và phổ biến các bản sao tác phẩm nước
ngoài để sử dụng trong nước. Ngoài ra còn phải kể đến tình trạng nhiều tác phẩm
nước ngoài được nhập lậu vào Việt Nam để rồi lại được các cá nhân, tổ chức kinh
doanh tư nhân nhân bản và phổ biến trên quy mô thương mại với giá rất thấp, cạnh
tranh với các tổ chức kinh doanh văn hóa phẩm của Nhà nước và lấn át các tác
phẩm của tác giả trong nước.
Xét về khía cạnh kinh tế thì việc sử dụng không xin phép và không trả tiền
tác giả đã tạo ra nhiều lợi nhuận cho những tổ chức, cá nhân sản xuất và kinh doanh
văn hóa phẩm, bởi các đối tượng này giảm được rất nhiều chi phí đầu vào. Còn xét
về khía cạnh văn hóa nghệ thuật và khoa học - công nghệ thì việc tự do khai thác
các tác phẩm nước ngoài cũng đã góp phần đa dạng hóa các loại hình văn hóa
phẩm, kể cả về hình thức lẫn nội dung, nâng cao đời sống tinh thần trong nhân dân.
Do giá bán các tác phẩm nước ngoài được sao chép ở Việt Nam thấp hơn nhiều so
với các bản sao chính thức của nước ngoài, nhiều người dân bình thường vẫn có thể
mua được để nghiên cứu và thưởng thức. Phải thừa nhận rằng trong thời gian qua,
nếu không có hiện tượng vi phạm quyền tác giả nước ngoài một cách tích cực, thì
trình độ dân trí khó có thể đạt được như hiện nay.
Tuy nhiên, người sử dụng tác phẩm nước ngoài để kinh doanh không phải
xin phép và trả tiền cho tác giả, nên họ có thể đơn thuần chỉ chạy theo lợi nhuận mà
không lựa chọn tác phẩm cho phù hợp với điều kiện, lối sống, phong tục tập quán
của Việt Nam, vô tình họ còn góp phần tuyên truyền những loại văn hóa phẩm
thiếu lành mạnh hoặc làm phương hại đến lợi ích quốc gia. Hơn nữa, họ không chịu
ràng buộc với các điều kiện bảo đảm uy tín cho tác giả nên có thể đưa ra những bảo
sao kém chất lượng, gây thiệt hại cho tác giả và cho người tiêu dùng. Việc sử dụng
tràn lan các tác phẩm nước ngoài ở Việt Nam đang dẫn đến nguy cơ làm hạn chế,

II.
1.

ước Berne.
Thành tựu.

7


Kể từ ngày gia nhập Công ước Berne ( ngày 26 tháng 10 năm 2004), Việt
Nam đà đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận sau:
Gia nhập Công ước Berne, Việt Nam đã tạo cho mình những tiền đề đáng kể
từng bước hội nhập nền kinh tế quốc tế. Trong vòng chưa đầy 3 năm từ khi gia
nhập Công ước Berne, Việt Nam đã lần lượt tham gia hầu hết các điều ước quốc tế
về quyền tác gia như: Công ước Gieneva, Công ước Rome, Hiệp định TRIPs... Đây
là cơ hội đổ Việt Nam vận dụng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình về
quyền tác giả phù hợp với pháp luật quốc tế.
Cũng từ sau khi Việt Nam gia nhập Công ước Berne, hệ thống tổ chức quản
lý tập thể quyền tác giả đã được thành lập, góp phần tạo niềm tin cho các tác giả tập
trung sáng tác, cống hiến.
Đồng thời, số lượng giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả được cấp cho các
tác giả Việt Nam nói chung và các giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả có yếu tố
nước ngoài nói riêng tăng rất nhanh. Điều này cũng dễ hiểu, bởi việc bảo hộ quyền
tác giả ở Việt Nam đã khá phù hợp với pháp luật quốc tế, được pháp luật bảo vệ sẽ
tạo niềm tin, động lực cho các tác giả muốn bảo hộ các tác phẩm của chính mình.
Hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan
được tăng cường có hiệu quả. Từ năm 2001 đến năm 2010 đã có trên 100 chương
trinh hội nghị, tập huấn, hội thảo quốc gia và quốc tế được thực hiện với gần 10
nghìn lượt người tham dự. Website quyền tác giả Việt Nam ra đời từ năm 2004, đến
cuối năm 2010 đã có trên 40 triệu lượt truy cập. Điều đó cỏ nghĩa là công chúng đã

Tình trạng vi phạm chủ yếu xuất phát từ động cơ lợi nhuận. Khi xuất bản

hoặc sử dụng không xin phép tác giả sẽ giúp tiết kiệm được một chi phí đáng kể.
Ngoài ra, hệ thống pháp luật vẫn chưa thật sự chặt chẽ và đủ mạnh để trừng trị
những hành vi xâm hại.
Trong lĩnh vực xuất bản: Hiện nay, ở nhiều nơi trên thị trường, sách dịch vi
phạm bản quyền tràn lan với giá bán giảm 20-70% so với giá bán trên bìa sách gây
9


ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu và sự tồn tại của các nhà xuất bản. Phổ biến
nhất là truyện tranh thiếu nhi của nước ngoài. Truyện tranh in lậu, không có bản
quyền, thậm chí gắn thêm vào mác của các nhà xuất bản nổi tiếng, không được
kiểm soát nội dung, bán tràn lan ngoài thị trường. Những bản in lậu này đã gây
thiệt hại lớn cho các nhà xuất bản vì giá bán chỉ bằng 50% sách có bản quyền, thậm
chí cả thiệt hại về uy tín. Các nhà xuất bản cùng giẫm chân lên nhau. Sách của nhà
xuât bản này đã mua bản quyền thì đã bị nhà xuất bản khác in và tung ra thị trường
trước, tất nhiên là không có bản quyền
Trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh băng, đĩa: Hoạt động nhập lậu, in
lậu, lưu hành, kinh doanh băng, đĩa lậu thường xuyên diễn ra trên thị trường và tại
khu vực cửa khẩu, biên giới. Cũng giống như sách in lậu, băng đĩa in lậu được bán
với giá rất rẻ. Chỉ bằng 1/10 so với giá băng đĩa sản xuất họp pháp. Thị trường
băng đĩa hiện nay phát sinh, biến tướng nhiều hỉnh thức và kiểu cách mới tinh vi
khó lường. Vừa qua. cơ quan công an đã triệt phá tận gốc nhiều ổ băng đĩa phim
đồi trụy với số lượng hành nghìn đĩa và hàng nghìn tập tin trong máy tính.
Nghị định 75/2010/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong hoạt động văn hóa
(thay thế các quy định tại Chương II Nghị định 56/2006) đã có hiệu lực từ đầu
tháng 9/2010 nhưng tình trạng sao chép đĩa lậu vẫn tràn lan. Điểm mới là ngoài các
quy định xử phạt những người in. sao chép, bán và cho thuê băng đĩa lậu. Nghị
định này còn quy định xử phạt người mua băng đĩa lậu. Theo quy định, khi đi kiểm

chức biểu diễn thực hiện nghĩa vụ bản quyền tác giả âm nhạc.
+ Trong hoạt động kinh doanh du lịch: Hiện nay trên cả nước có 1447
khách sạn từ 1 sao đến 5 sao do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý và
cấp phép hoạt động, nhưng mới có 40 đơn vị đăng ký hợp đồng bản quyền tác giả
âm nhạc. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay trên cả nước có 78 khu vui chơi giải trí và

11


khu nghỉ mát lớn nhưng mới chi có 5 đơn vị xin phép bản quyền tác giả cho các tác
phẩm âm nhạc được sử dụng.
+ Trong lĩnh vực phát thanh và truyền hình: Trong năm 2010. hầu hết các
đài phát thanh và truyền hình trên cả nước đã nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ trả tiền
sừ dụng tác phàm âm nhạc cho các tác giả, chủ sở hừu tác phẩm. Tuy nhiên, vẫn
còn một số Đài vần định không thực hiện.
- Trong lĩnh vực mỹ thuật: Hiện tượng nổi bật nhất trong việc về vi phạm
bản quyền trong mỹ thuật là vấn đề sao chép tác phẩm để bán ở thị trường trong
nước và nước ngoài. Việc sao chép này chủ yếu đối với các tác giả nổi tiếng như
Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm,... Gần đây, có thể kể đến vụ vi phạm bản
quyền bức tranh của tác giả Nguyền Tấn Khới - tác phẩm tranh cổ động giải A duy
nhất trong cuộc thi sáng tác tranh với chủ đề phòng chống HIV/AIDS cho thanh
niên với tác phẩm của họa sĩ Rewais Hanna.
b)

Mức độ vi phạm quyền tác giả

Cùng với việc sao chép đơn thuần một tác phẩm, ngày nay những tác phẩm
này còn được cắt xén, bổ sung... nhiều sản phẩm băng đĩa cũng sử dụng hình thức
này đề sao chép, làm giả. Thậm chí. số lượng lớn băng đĩa mang nội dung xấu, đồi
trụy cũng tràn lan khắp trên thị trường khó có thể kiểm soát được. Những đầu sách

Hiện nay có nhiều loại cơ quan cùng có thẩm quyền quản lý hành chính
quyền tác giả: UBND các cấp. thanh tra văn hóa. cảnh sát kinh tế. quản lý thị
trường, hải quan... pháp luật chưa phân định rạch ròi thẩm quyền của từng cơ quan.
Cho nên, trong thực tế có vụ việc nhiều cơ quan cùng giải quyết, có vụ việc không
thuộc thẩm quyền của cơ quan nào. Sự phối hợp thiếu đồng bộ và chồng chéo,
nhiều cấp xử lý giữa các cơ quan dẫn đến việc còn gặp nhiều vướng mắc về thẩm
quyền trong thực tế việc xử lý vi phạm nhằm bảo đảm thực thi quyền tác giả.
3.

Thực trạng của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả có yếu tố
nước ngoài.
a) Sự tương thích của pháp luật Việt Nam hiện hành vói Công ước
Berne sau khi gia nhập Công ước.

13


Công ước Berne có hiệu lực ở Việt Nam từ 26/10/2004, từ đó trở về trước chỉ
có BLDS 1995 điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền tác giả. Đây là các quy định về bảo
hộ quyền tác giả nói chung, trong đó bao gồm cả quyền tác giả có yếu tố nước
ngoài. Sau khi gia nhập Công ước Berne, nhà nước ta đã ban hành một loạt văn bản
luật và dưới luật như BLDS 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005... nhằm đồng bộ hóa tới
mức tối đa hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền tác giả của nước ta với Công ước
Berne.
Về tiêu chuẩn bảo hộ: Điều 737 BLDS 2005 quy định Nhà nước bảo hộ các
tác phẩm thể hiện dưới bất kỳ hình thức và bằng bất kỳ phương tiện nào, không
phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào. Điều này phù
hợp với tinh thần cua Công ước Berne. Đương nhiên việc thể hiện dưới hình thức
và phương tiện nào đi nữa thì cũng đều là chất xám, trí tuệ của tác giả sáng tạo ra
và chúng xứng đáng được Nhà nước bảo hộ. Ngoài ra, nếu lấy chất lượng tác phẩm

Sự chưa tương thích của pháp luật Việt Nam hiện hành với Công ước
Berne sau khi gia nhập Công ước.

Về đối tượng bảo hộ: ở đây vẫn chưa có sự thống nhất, pháp luật Việt Nam
quy định những tác phẩm được nhà nước bảo hộ mang tính chất không linh hoạt,
khoa học như quy định trong Công ước. Điều này sẽ bất cập khi có sự xuất hiện của
một thể loại tác phẩm mới cần được bảo hộ trong pháp luật Việt Nam.
Thêm vào đó, điều kiện bảo hộ cũng có chút khác biệt, pháp luật Việt Nam
quy định nội dung các tác phẩm được bảo hộ (khoản 1 Điều 8 LSHTT sửa đổi, bổ
sung 2009), trong khi đó trong Công ước không hề có quy định này.
Quy định về quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm: Công ước Berne chỉ
quy định 2 loại quyền là quyền tinh thần và quyền kinh tế. Pháp luật Việt Nam lại
quy định tác giả, chủ sở hữu tác phẩm có quyền nhân thân và quyền tài sản (Điều
738 BLDS 2005). Sự khác biệt này không đơn thuần chỉ là sự khác biệt về cách gọi
tên mà còn khác biệt ở chính ý nghĩa về mặt thuật ngữ. Điều này làm cho quy định
15


về các loại quyền của tác giả và chủ sở hữu tác phẩm ở Việt Nam phức tạp hơn so
với Công ước Berne.
Ngoài ra, Việt Nam cũng chưa có quy định về quyền “droit de suit - The
right follow " ( quyền dành cho nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật thị giác) đối với tác
phẩm mỹ thuật và bán tháo viết tay.
Quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả: được quy định tại Điều 7
Công ước. Tuy nhiên, Công ước quy định thời hạn bảo hộ dựa trên đối tượng được
bảo hộ, trong khi đó, pháp luật Việt Nam lại quy định thời hạn bảo hộ là loại quyền
nào. Ngoài ra, Công ước chỉ quy định thời gian bảo hộ là có thời hạn, nhưng trong
pháp luật Việt Nam có cả quy định thời gian bảo hộ là vô thời hạn (Điều 27 LSHTT
sửa đổi, bổ sung 2009). Bên cạnh đó, pháp luật nước ta cũng chưa quy định thời
hạn bảo hộ đối với quyền của nghệ sĩ biểu diễn và nhà sản xuất băng ghi âm như

sửa đổi, bổ sung LSHTT năm 2009, nhưng như thế chưa đủ, mà cần có sự sửa đổi
đồng bộ giữa các luật có liên quan về vấn đề này trong pháp luật hình sự, pháp luật
hành chính, pháp luật dân sự... Trong đó các dự thảo về sửa đổi BLDS 2005 và một
số luật khác liên quan đến quyền tác giả cần đẩy nhanh tiến độ đổ sớm được Quốc
hội thông qua.
Ngoài ra, với các quy định chưa tương thích với Công ước cần nghiên cứu
kĩ, có những điều chưa thích hợp cần điều chỉnh, nhưng có những điều đã đảm bảo
với mức tối thiểu của Công ước và phù hợp với điều kiện nước ta thì chưa cần phải
thay đổi.
Mặt khác, các quy định về quyền tác giả chủ yếu được quy định trong
LSHTT và các điều luật khác nằm rải rác. Thêm vào đó, LSHTT lại quy định 3 đối
tượng với cơ chế bảo hộ khác nhau trong cùng một văn bản là không hợp lí. Nước

17


ta cũng nên có một luật riêng về quyền tác giả như Mỹ, Nhật... hoặc các quốc gia
khác trên thế giới.
Thứ hai, tăng cường tính hiệu quả của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thực thi quyền tác giả. Số lượng các cơ quan hiện nay đã tương đối nhiều, nhưng
thẩm quyền bị chồng chéo, cần làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan để
chúng hoạt động có hiệu quả hơn. Thêm vào đó, cần đào tạo một đội ngũ cán bộ có
ngoại ngữ và kiến thức về các vấn đề sở hửu trí tuệ có yếu tố nước ngoài góp phần
đáp ứng nhu cầu hiện nay.
Thứ ba, củng cố và tăng cường hoạt động của tổ chức quản lý tập thể quyền
tác giả. So với các nước trên thế giới, chúng ta chì mới có một số lượng khiêm tốn
các tổ chức này. Trong tương lai, cần khuyến khích sự phát triển thêm cả về chiều
rộng cũng như chiều sâu để các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả hoạt động tốt
hơn trong lĩnh vực bảo vệ quyền tác giả.
Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, giới thiệu Công ước Berne tới

KẾT LUẬN
Việc Việt Nam trở thành thành viên của Công ước có nghĩa là quyền tác giả
đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học của các tác giả Việt Nam
được bảo hộ tại các quốc gia thành viên của Công ước. Tham gia Công ước Berne
cũng mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam. Khi mà vừa đuợc bảo vệ quyền lợi tốt hơn,
vừa có thêm thị trường, các tác giả Việt Nam sẽ có thêm hứng khởi để sáng tác, tạo
ra động lực khuyến khích năng lực sáng tạo của các tác giả.
Tuy nhiên, cơ hội mở ra có lẽ là không lớn, do chính bản thân năng lực của
chúng ta chưa cao. Hiện nay các nhà đầu tư trong lĩnh vực bản quyền của Việt Nam
chưa đủ mạnh để có được một sức cạnh tranh đáng kể với các nhà đầu tư nước
ngoài. Chính thực trạng đó làm cho các nhà đầu tư Việt Nam rất dễ trở thành những
người làm thuê cho những chủ đầu tư nước ngoài.
Đồng thời, khi tham gia Công ước Việt Nam sẽ gặp một số thách thức lớn.
Trước hết là bửi tình trạng vi phạm bản quyền ở nước ta đang ở mức trầm trọng.
Nạn sao chép băng đĩa, sách lậu, nhạc nhái... đang ở mức báo động. Hệ thống thực
thi quyền tác giả, nhận thức của người dân, trình độ của cán bộ quàn lý,... về lĩnh
vực này còn nhiều hạn chế.
Do đó cần phải có những biện pháp phù hợp ngay tức thời để giải quyết các
vấn đề còn tồn tại và phát sinh khi tham gia Công ước, nhằm tạo một môi trường
hoàn hảo cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài.

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
-

Giáo trình Tư pháp quốc tế ( Đh Luật Hà Nội)
/>
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status