THỦ tục tố TỤNG dân sự áp DỤNG ở tòa án cấp sơ THẨM, PHÚC THẨM TRONG TRƯỜNG hợp các ĐƯƠNG sự THỎA THUẬN được với NHAU về các vấn đề cần GIẢI QUYẾT TRONG vụ án và KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT về vấn - Pdf 35

Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

§Ò sè 19
Thủ tục tố tụng dân sự áp dụng ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm trong trường
hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về các vấn đề cần giải quyết trong
vụ án và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................................................................1
I. Thủ tục tố tụng dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp các đương sự thỏa
thuận được với nhau về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.......................................................1
1. Thủ tục tại tòa án cấp sơ thẩm trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về
các vấn đề trong vụ án.................................................................................................................2
1.1.Các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề trong vụ án..............2
1.2.Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau thông qua thủ tục hòa giải tại Tòa án. . . .3

BÀI LÀM
Trong tố tụng dân sự, việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết các vấn đề của vụ án được pháp luật khuyến khích bởi nó góp phần làm
cho các tranh chấp dân sự được giải quyết nhanh chóng, ổn định các quan hệ xã
hội. Đồng thời khi các đương sự thỏa thuận được với nhau thì nguy cơ đổ vỡ các
mối quan hệ xã hội sẽ được giảm đi, lại có thể làm giảm những chi phí phát sinh từ
tố tụng dân sự cho các chủ thể trong hoạt động này.

I. Thủ tục tố tụng dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp
các đương sự thỏa thuận được với nhau về các vấn đề cần giải quyết trong
vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân, các đương sự có thể thỏa thuận với
nhau về việc giải quyết các vấn đề của vụ án và thỏa thuận này được pháp luật tôn
trọng. Cơ sở pháp lý để các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về các vấn đề cần
giải quyết trong vụ án là quyền tự định đoạt của đương sự quy định tại khoản 2

phiên tòa dân sự sơ thẩm thì trong trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết vụ án và sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật, đạo
đức xã hội thì Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc giải
quyết vụ án (điều 220 BLTTDS), quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay khi ban hành.
Đây là điểm mới quan trọng của BLTTDS so với các văn bản trước đây của Việt
Nam về thủ tục tiến hành phiên tòa dân sự sơ thẩm.

2


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

1.2.

Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau thông qua thủ tục hòa
giải tại Tòa án.
Nói tới vấn đề thỏa thuận của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ

thẩm vụ án dân sự, chúng ta không thể không nói đến thủ tục hòa giải tại tòa án
cấp sơ thẩm bởi đây là một hoạt động rất quan trọng trong giai đoạn này, đồng thời
hoạt động này có sự chủ động tham gia của tòa án trong việc giúp đỡ các bên thỏa
thuận với nhau.
1.2.1. Ý nghĩa của thủ tục hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Về mặt tố tụng: nếu việc hoà giải thành sẽ giúp Toà án không phải mở phiên
toà xét xử sơ thẩm, giảm bớt một giai đoạn trong quá trình tố tụng, tránh được việc
kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại và góp phần tiết kiệm thời gian, tiền bạc của Nhà
nước và các bên đương sự. Trong trường hợp hoà giải không thành thì công tác
hoà giải cũng giúp Thẩm phán nắm vững hơn về tình tiết vụ án và khúc mắc của
đương sự, từ đó có thể đưa ra hướng giải quyết đúng đắn hơn.
Về mặt kinh tế: việc hoà giải thành sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí cho đương

BLTTDS, những vụ án không tiến hành hòa giải được bao gồm các trường hợp: Bị đơn đã được
Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia
hoà giải được vì có lý do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất
năng lực hành vi dân sự.

1.2.3. Nguyên tắc tiến hành hòa giải.
Trong quá trình tiến hành hòa giải, tòa án phải tuân thủ chặt chẽ những
nguyên tắc mà pháp luật đã quy định. Theo khoản 2 Điều 180 BLTTDS, việc hòa giải
vụ án dân sự phải được tiến hành theo các nguyên tắc sau:

- Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ
lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù
hợp với ý chí của mình.
- Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái
đạo đức xã hội.
1.2.4. Thủ tục tiến hành phiên hòa giải.
Theo quy định tại Điều 184 BLTTDS, thành phần phiên hòa giải bao gồm:
Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải; thư ký tòa án ghi biên bản hòa giải; các đương
sự trong vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Trong một vụ án có nhiều
đương sự, mà có đương sự vắng mặt trong phiên hoà giải, nhưng các đương sự có
mặt vẫn đồng ý tiến hành hoà giải và việc hoà giải đó không ảnh hưởng đến quyền,
nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hoà giải giữa các đương

4


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hoà giải để có mặt tất cả các
đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hoà giải. Trong phiên hòa



Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

của vụ án, trong đó bao gồm cả vấn đề án phí sơ thẩm dân sự. Trong tr ường h ợp quy định
tại khoản 3 Điều 184 BLTTDS mà các đương sự có mặt thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết vụ án thì thỏa thuận này chỉ có giái trị đối với những người có mặt trong phiên hòa
giải và được thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không làm ảnh h ưởng đến quy ền,
nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Nếu thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, ngh ĩa
vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ được Tòa án công nhận nếu được đương
sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản.

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật
ngay sau khi được Tòa án ban hành và đương sự không có quyền kháng cáo, viện
kiểm sát không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định
này ( khoản 1 Điều 188 BLTTDS). Tuy nhiên quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận
đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (khoản 2 Điều 188

BLTTDS). Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã đóng lại quy trình tố
tụng đối với việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án c ấp sơ thẩm, Tòa án không ph ải m ở
phiên tòa để xét xử vụ án đó nữa.

Trong trường hợp các đương sự chỉ thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết một phần vụ án thì Tòa án ghi những vấn đề mà đương sự thỏa thuận được
và không thỏa thuận được vào biên bản hòa giải theo quy định tại khoản 1 Điều 186
BLTTDS và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, trừ trường hợp có căn cứ để tạm đình chỉ
hoặc đình chỉ giải quyết vụ án.

2. Thủ tục tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm trong trường hợp các đương

đức xã hội. Còn theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 122 BLDS thì một trong
những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật là “mục đích và nội
dung của giao dịch “không vi phạm điều cấm” của pháp luật và không trái đạo đức
xã hội. Như vậy, giữa “luật nội dung” và “luật hình thức” quy định không thống
nhất với nhau, dẫn tới khó khăn cho đương sự trong việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình cũng như việc ra quyết định của Tòa án.
Thứ hai, các quy định hòa giải đối với vụ án dân sự còn chưa thật hợp lý, dẫn
tới những khó khăn trong quá trình thực hiện.
Mâu thuẫn trong các quy định của pháp luật như tại khoản 3 Điều 64 BLTTDS
quy định về quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự được
tham gia vào phiên hòa giải, nhưng Điều 184 BLTTDS thì không quy định về sự có
7


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

mặt trong phiên hòa giải của đối tượng này. Vì vậy, trên thực tế đã xảy ra trường
hợp Tòa án không cho phép người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự tham gia
vào phiên hòa giải, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của đương sự.
Tại khoản 3 Điều 184 BLTTDS quy định nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên
hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên
hòa giải. Trường hợp này nên giải thích rõ chỉ cần một đương sự yêu cầu hoãn hay
phải tất cả các đương sự có mặt yêu cầu thì Thẩm phán mới hoãn phiên hòa giải.
Tại Điều 183 BLTTDS chỉ quy định trước khi tiến hành phiên hoà giải, Toà án phải
thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm
tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn đề cần hoà giải, mà không quy định cụ thể phải thông
báo trước một thời gian hợp lý để các đương sự chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho phiên hoà
giải, do đó trên thực tế có những trường hợp đương sự không được thông báo kịp thời.
2.


phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự.
4. Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một
số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố
tụng dân sự.
5. Bộ luật dân sự 2005.
6. Hoà giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam : Khoá luận tốt nghiệp /
Nguyễn Kiều Oanh; Người hướng dẫn: ThS. Trần Anh Tuấn . - Hà Nội,
2010
7. Lê Thu Hà, Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự
và thực tiễn áp dụng, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2006.

9




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status