Mục lục.
A. Đặt vấn đề......................................................................................................................2
B. Giải quyết vấn đề...........................................................................................................2
I. Thủ tục TTDS áp dụng trong trường hợp đường sự vắng mặt ở Tòa án cấp sơ thẩm,
phúc thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.........................................................3
1. Hoãn phiên tòa 3
2. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 5
2.1. Đình chỉ vụ án ở tòa sơ thẩm dân sự 5
2.2. Đình chỉ vụ án ở tòa phúc thẩm dân sự 6
3. Xét xử vắng mặt đương sự.........................................................................................6
3.1.Xét xử vắng mặt đương sự ở tòa sơ thẩm dân sự. 6
3.2. Xét xử vắng mặt đương sự ở tòa phúc thẩm dân sự. 7
II. Những hạn chế và một số giải pháp hoàn thiện các thủ tục áp dụng trong trương
hợp đương sự vắng mặt ở tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm khi giải quyết vụ án dân sự.7
1. Hạn chế.......................................................................................................................7
2. Giải pháp hoàn thiện..................................................................................................9
Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………………………...…11
Bài làm
1
A. Đặt vấn đề
Trong tố tụng dân sự (TTDS), yêu cầu khởi kiện hay kháng cáo của đương sự là
cơ sở làm phát sinh quá trình tố tụng và việc mở phiên tòa sơ thẩm hay phúc thẩm dân
sự. Vì vậy, mục đích của phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm dân sự là giải quyết tranh chấp
về lợi ích hoặc yêu cầu của các đương sự. Hơn nữa, phán quyết của Tòa án về vụ án dân
sự được dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm hay
phúc thẩm dân sự. Do đó, đương sự là chủ thể không thể thiếu trong các phiên tòa sơ
thẩm và phúc thẩm dân sự. Việc tham gia phiên tòa dân sự sẽ giúp cho đương sự chứng
minh và bảo vệ yêu cầu của mình, đồng thời giúp cho việc xác định sự thật khách quan
của vụ án được thực hiện nhanh chóng nhất. Tuy nhiên, trên thực tế xuất phát từ nhiều lý
do khác nhau, không phải lúc nào các đương sự cũng có mặt đầy đủ tại phiên tòa dân sự
theo giấy triệu tập của Tòa án. Trong những trường hợp này, yêu cầu đặt ra là làm thế
tòa”. Đồng thời NQ 02/2006/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 phần III
như sau: “khi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại
phiên toà lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 199, khoản 1 Điều 200 và khoản 1
Điều 201 của BLTTDS dù không có lý do chính đáng, thì Toà án vẫn hoãn phiên toà”.
Đồng thời, Điều 266 BLTTDS 2004 cũng quy định: “ người kháng cáo vắng mặt lần thứ
nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa” (khoản 2) và “người tham gia tố tụng
khác không phải là người kháng cáo thì việc hoãn phiên tòa...xét xử phúc thẩm được
thực hiện theo quy định tại Điều 199, 200, 201, 202...của Bộ luật này”. Và trường hợp
này được hướng dân cụ thể tại tiểu mục 2.1, 2.2 mục 3 phần III NQ 05/2006/NQ-HĐTP
như sau: “Người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng, thì Hội đồng xét
xử phúc thẩm phải hoãn phiên toà. Trường hợp không xác định được người kháng cáo
vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng hay không có lý do chính đáng, thì Hội đồng
xét xử phúc thẩm cũng hoãn phiên toà” và việc thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 266
sẽ được thực hiện như hướng dẫn tại các mục 1 và 2 Phần III NQ 02/2006/NQ-HĐTP.
Theo đó, sẽ phải hoãn phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp đương sự (là những người
phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm) vắng mặt tại phiên tòa khi đã được triệu tập hợp lệ
lần đầu dù đương sự đó có lý do chính đáng hay không.
Như vậy, theo quy định này của pháp luật thì khi đương sự đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt tại phiên tòa thì bất kể đương sự vắng mặt có lý do
chính đáng hay không cũng phải hoàn phiên tòa.
3
Việc pháp luật TTDS quy định hoãn phiên tòa trong trường hợp đương sự đã được
triệu tập hợp lệ lần một mà vắng mặt, dù có lý do chính đáng hay không là phù hợp với
thực tiễn xét xử của Tòa án hiện nay. Vì điều kiện thông tin liên lạc ở các vùng nông
thôn còn chưa thuận tiện, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế nên
trong nhiều trường hợp họ không thể đến tham gia phiên tòa nhưng cũng không thông
báo kịp cho tòa án. Nếu trường hợp này mà Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ thì
sau phiên tòa họ thường xuất cho Tòa án những chứng cứ chứng minh lý do họ vắng mặt
tại phiên tòa sơ thẩm là chính đáng (do tai nạn, ốm đau hoặc không nhận được giấy triệu
tập của Tòa án). Khi đó, phán quyết của Tòa án thường bị đương sự kháng cáo kháng
án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.
Như vậy, với quy định này của BLTTDS thì chỉ cần nguyên đơn đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bất kể nguyên đơn có lý do chính
đáng hay không Tòa án vẫn sẽ đình chỉ việc giải quyết vụ án.
2.1.2. Đình chỉ vụ án trong trường hợp vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn và bị đơn. Trong vụ án dân
sự, lợi ích pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập
luôn độc lạp với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị đơn. Thông thường người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án
dân sự nhưng do vụ án dân sự đã xuất hiện giữa nguyên đơn, bị đơn nên họ phải tham
gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của họ sau đó sẽ gặp khó khăn hơn. Chính bởi vậy, cũng giống như nguyên
đơn trong vụ án dân sự trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, thì cũng bị coi là
từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án ra sẽ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối
với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan này (khoản 3 Điều 201
BLTTDS 2004). Tuy nhiên, việc đình chỉ vụ án đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập này chỉ có thể được tiến hành nếu được cả nguyên đơn và
bị đơn đồng ý (Khoản 3 Điều 201 BLTTDS 2004).
2.2. Đình chỉ vụ án ở tòa phúc thẩm dân sự
Cũng theo quy định tại Điều 266 BLTTDS thì trong trường hợp “người kháng cáo
đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc kháng
5