ĐẠI HỌC QUỐC GIA HẢ NỘI
KHOA LUẬT
Đ À O B ÍC H M Ạ N H
GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ CÓ YẾU T ố NƯỚC NGOẢI
THEO PHÁP LUÂT VIÊT NAM
• •
C H U Y ÊN NGÀN H: LUẬT QUỐC TẾ
M Ả SỐ: 60.38.60
LUÂN VÃN THAC s! LUÂT HOC
• • »
NGUỜI HUỐNG DẲN KH OA HỌC: TS. N G U Y Ễ N TR U N G T ÍN
,AI HOC QUOC GIA HÁ NÒI
I/ÜNG ĨẢV thô ng tin thu VíỄN
V - L c / ' / K ^ - i L
*
- - f - ' ■ V J
HÀ NỘI - NAM 2007
M IC LUC
• •
MỎ ĐẦU
( ih o n í ; I. MIIĨNCỈ v á n dê lý luậ n c ơ bản v è g ia o d ịc h d iện t ù '
( Ỏ YÉU TÓ NƯỚC NGOÀI
1.1. Quá trình ra i!<Vi của pháp luật giao dịch điện tử trên thế giới
1.1.1. I loàn cánh ra dời
1.1.2. Cấu trúc luật giao dịch điện tư
1.1.3. Các vấn dề chú yếu trong Luật giao dịch điện từ cua các nước
1.2. Khái niệm giao dịch điện tử có yếu tố nước ngoài
1.3. V nghĩa của việc diều chỉnh pháp luật đối với giao dịch điện tứ
có vếu tố nước ngoài
1.4. Cơ sở pháp luật điều chỉnh quan hệ giao dịch điện tử có yếu tố
3.1.1.2. về quan hệ giữa Luật giao dịch điện từ với các luật 72
khác
3.1.1.3. Hợp dồng diện từ 72
3.1.2. Luật mầu ƯNCITRAL về Chừ kỷ điện từ 73
3.1.2.1. về các định nghĩa 73
3.1.2.2. về đối xử công bang đối với các công nghệ tạo chữ ký 77
3.1.2.3. về việc cho phép thay đối quv định cùa Luật mẫu bằng 78
thoa thuận
3.1.2.4. về tuân thủ các yêu cầu đối với một chừ ký 79
3.1.2.5. về tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực điện từ 79
3.1.3. Các quy định cùa ASEAN 80
3.1.3.1. về tạo thuận lợi cho việc thiết lập cư sờ hạ tầng thòng 80
tin liên lạc
3.1.3.2. về tạo thuận lợi cho sự phát triền cùa thương mại 80
3.1.3.3. Ve tự do hoá thương mại các sàn phàm, dịch vụ và đầu 81
tư. cònụ nuhệ thôn 11 tin và truyền thông được quv định trong các cam
kết quốc tế
3.1.3.4. Ve an ninh, an toàn và bảo mật 81
3.1.4. Các quy định cùa APEC’ 82
3.1.5. Các quy định cùa WTO 82
3.1.6. Các điều ước quốc tế song pturơnu mà Việt Nam dà ký kết 82
3.2. Hoàn thiện các văn bán pháp luật Việt Nam 83
3.2.1. Xảy dựng hệ ihong văn bàn pháp luật liên quan tới giao dịch 83
diện tứ cỏ yếu to nước ngoài
3.2.2. Xây dựng các văn bản hướng dần thi hành Luật giao dịch 84
diện tứ
3.2.3. Xây dựng Ban chi đạo Ọuốc gia vẽ Thirơnti mại diện tư 84
3.3. Một số yều cầu ilặt ra trong việc điều chỉnh pháp luật đổi với 86
ỊỊÌiio dịch điện tứ có yếu tố nước ngoài
3.3.1 .Các van đề về kỹ thuật và công nghệ thông tin 86
hoạt dộne cùa mình. Tuy nhiên, hoạt độne GDĐT ở nước ta về cơ bản mới ờ
giai đoạn xâv dựng các dịch vụ ứng dụng. Một trong những nguyên nhân
quan trọng là do chúng ta còn thiếu một khunu pháp lý cần thiết để điều chinh
các quan hệ tronạ GDĐT.
Trong tiến trinh hội nhập kinh tế quốc tể, Việt Nam vừa gia nhập WTO
(thána 11 năm 2006 và ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức là thành viên
Giao dịch diện lữ có yêu rò nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
cùa WTO) thì việc xây dựng các luật sở hữu trí tuệ, GDDT, công nghệ thôrm
tin là một trong những yêu cầu bẳt buộc dc dược gia nhập. Hơn nữa, với tư
cách là thành viên cùa APEC, nước ta cũng dang tích cực tham gia và ùng hộ
"Chương trinh hành dộng chung” cùa khối về thực hiện "thircme mại phi giấy
lờ” vào năm 2005 đối với các nước phát triển và 2010 với các nước dang phát
triển. Năm 2000. Thủ tướng Chính phủ đã ký kết Hiệp định khung ASEAN
điện tử với hai nội dung quan trọng là Thương mại điện tử và Chính phù điện
tử. Dể chù động hội nhập, luật pháp của nước ta cần phải hoàn thiện để phù
họp với các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc gia nhập.
Với những lý do này, Luật GDĐT đã được đưa vào chương trình xây
dựne luật, pháp lệnh năm 2005 cùa Quốc hội. Lần đẩu tiên ở nước ta, một Ưỷ
ban của Quốc hội - Uỳ ban Khoa học, Công nghệ và Mòi trườne chủ trì soạn
tháo một dự án luật. Luật GDĐT ra dời đà đáp ứng được những nhu cầu
khách quan và cấp thiết của chúng ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Trên thực tế, các GDĐT nói chung và GDĐT có yếu tố nước ngoài nói
riêng còn là điều mới mẻ với xã hội và đặc biệt là các doanh nghiệp. Trong
khi dó. tinh hình nghiên círu về GDĐT nói chung và GDĐT có yếu tố nước
ngoài nói riêng còn rất ít, chù yếu dừng lại ờ một sổ bài báo, tạp chí. Chính vì
vậy, chúng tôi chọn dề tài “GDĐT có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt
Nam” làin de tài luận văn thạc sì cùa mình.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nhàm tìm hiểu pháp luật về GDĐT có yểu tố nước ngoài trone hệ
toàn cầu hóa phái triển cùng với tốc độ phát triển vũ bão cùa khoa học kỹ
thuật. Nhừnii giao dịch "ào” qua mạng ngày càng tăng cả về số lượng và chất
lượng. Theo sổ liệu cùa Cơ quan Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc
(UNTACD), giá trị giao dịch thươnẹ mại điện tử trên thế aiới năm 2003 đạt
hơn 1.400 tỷ USD, tăng gần 1.8 lần so với năm 2002 (giá trị giao dịch thươna
mại điện từ năm 2002 là gần 825 tỷ USD). UNTACD còn dự kiến giá trị giao
dịch thương mại điện tử toàn cầu năm 2004 sẽ đạt khoảng 2.400 tỷ USD và
đạt gan 13.000 tỷ USD vào năm 2005. Thấy được tầm quan trọng của vấn đề
này, ủy ban về pháp luật thương mại quốc tế cùa Liên hiệp quốc (The United
Nations Commission on international Trade Law - ƯNCITRAL) đã ban hành
Luật mầu VC T hương mại điện tử năm 1996.
Các quốc gia đã nhanh chóne nội luật hóa luật mẫu này vào hệ thống
pháp luật quốc gia cùa mình. Trong số các quốc gia, sớm nhất là Dan Mạch.
Italia và Malaisia (1997), chi một năm sau khi luật mẫu ra đời, ba quốc gia
này đã ban hành luật về chữ ký điện tử. Cho đến nay đã có gần sáu mươi quốc
gia có luật liên quan đến GDĐT. Một số quốc gia đanu trong quá trình biên
soạn mới hoặc sửa đổi các luật hiện hành. Bắc MỸ và Châu Âu là các khu vực
có số nirớc ban hành cao nhất. Châu Phi là khu vực có số nước han hành thấp
nhất. Điều dó cho thấy mức độ phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia tỷ lộ
thuận với sự phát triển cùa GDĐT.
Tại da số các nước, cơ quan ban hành luật GDĐT là quốc hội. Tuy
nhiên ở một sổ nước, ở cấp quốc gia chì ban hành luật mầu và thưừnu do hiệp
4
Giao dịch điện tứ cỏ yếu tố nước ngoài iheo pháp luật Việt Nam
hội các luật gia ban hành. CÒI1 luật cụ thế. do cư quan lập pháp cùa thực thô
hành chính địa phưcmg (như các bane ở Mỹ, các tinh ờ Canada) trực tiếp ban
hành.
1.1.2. Cấu trúc luât giao dich điên tử
• o « •
cấu trúc luật GDDT của các nước bao gồm: cấu trúc chung và cấu trúc
chọn sử đụng hay không sử dụng GDĐT v.v.
- Phần về thông điệp dừ liệu: Đây là thành phần cơ bản nhất của luật ị!
Ị
GDĐT của tất cả các nước. Nội dung chù yếu cùa phần này là công nhận giá
trị pháp lý của thông điệp dừ liệu trên mọi khía cạnh: văn bản, chứng cử, lưu
trữ v.v. Phần này có thể được cấu trúc thành một hoặc nhiều chương khác
nhau và có các diều quy dịnh về: giá trị pháp lý của thône diệp dữ liệu, aiá trị
làm văn bản, giá trị làm chứng cứ; giá trị làm bản gốc, lưu giữ thông điệp dữ
liệu; trách nhiệm pháp lý cùa người gửi và người nhận thông diệp dừ liệu;
thời gian và địa điểm gửi, nhận thông điệp dừ liệu; gửi, nhận tự động thông
điệp dừ liệu v.v.
- Phần về chữ ký điện từ và chứng thực diện tử: Phần này cũng có thể
dược cấu trúc thành một hoặc hoặc nhiều chương. Nội dung chù yếu của phần
này là: công nhận giá trị pháp lý cùa chừ ký điện tử hoặc chừ ký sổ hoặc cả
hai; các quy định để chữ ký điện từ có giá trị pháp lý; các quy dịnh về chứng
tlnr điện tử; trách nhiệm của tồ chức chứng thực và các quy định về quản lý tổ
chức chứng thực. Trong phần này cũne thường có các điều dề cập đến việc
công nhận chứng thư được cấp bời tổ chức chứng thực nước ngoài. Ngoài ra
còn có thể có thêm các điều quy dịnh về quyền và trách nhiệm cùa người
dược cấp chứntỉ thư điện từ (còn gọi là thuê bao); quy định chi tiết về cơ cấu
tô chức, hoạt động cùa cơ quan quàn lý các tô chức chứne thực diện tử v.v.
- Phần về GDĐT irony các cơ quan nhà nước: thường nội dung của
phần này được dành riêng 1 chương, trong đó quy định các vấn dề: công nhận
giá trị pháp lý cùa GDĐT trorm giao dịch nội hộ cửa cơ quan nhà nước, trong
giao dịch giữa các cư quan nhà nước với nhau và giữa các cơ quan nhà nước
6
Giao dịch diện (ứ có yếu tồ nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
với các tổ chức, cá nhân bên ngoài (ví dụ như: kê khai diện tử và ban hành
vãn bản bằng phương tiện điện tử).
- Phần về các điểu khoán liên quan đến thi hành: Phần này là phần cuối
phạt v.v.
Ngoài các nội dutie được nêu ỡ trên, luật GDI) I cùa một so nước còn
có phần phụ lục dùng dế quy dịnh các nội dung cần sửa trong các luật khác
(Ví dụ: Pakistan) hoặc một sổ quy định khác có tính chất như một văn bản
hướne dần thực hiện một sổ quỵ dịnh cụ thể của luật.
1.1.3. Các vấn đề chủ yếu trong Luật giao dịch điện tử của các
nước
Trong việc xây dựnạ các văn bản pháp luật về GDĐT, có hai cách tiếp
cận (approach) khác nhau [33], đó là:
- Cách I (phổ biến hơn): rương dương chức năng (Functional
equivalence): kế thừa và mờ rộng các luật hiện hành dùng cho thế giới thực
bằng các quv định tương tự dùng cho thế giới ào. Thực chất của cách làm này
là cổ aẩng đưa thế giới “ảo” vào trong khuòn khổ pháp lý cùa thể giới thực.
- Cách 2 (ít phố biển hơn): chọn luật thích hợp nhất cùa thế giới thực,
đánh giá lại để xác dịnh các nguyên lý cơ bản cho thế giới ảo. Cách làm này
tạo sự chuẩn xác và tạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài cùa pháp luật cho thế
giới ảo. Tuy nhiên cách làm này cũng sẽ đòi hỏi tốn kém thời gian và công
sức hơn.
Các nước thường đi theo cách 1, ví dụ: Các Luật mẫu về thương mại
điện tứ (TMĐT) và chừ ký điện tử (CKĐT) của ƯNCiTRAL, Chi thị về
CKĐT cùa EU, Luật truyền thông điện tử (Electronic Communications Act)
của Anh. Nhỏm đặc nhiệm về E-ASEAN cùa các nước Đông Nam Ả cùng đã
ra tuyên bổ về việc các nước Đông Nam Ả sẽ xây dựng luật GDĐT cùa mình
dựa trên các Luật mẫu cùa UNCITRAL.
Các quan điểm cơ bàn trong Luật GDĐT của đa số các nước là:
- Quan điểm "tương đương về mặt chức năng" (Fucntional
Equivalence): luật không mô tà hay quy định công nghệ cụ thể đề đảm bảo sự
8
Giutì dịch điện tứ cỏ vếu tỏ nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
tương đương với văn hàn viết hoặc chữ ký tay, mà xác dịnh các chức năng
trong giao dịch. Việc chọn sir dụng phưong tiện điện tử trong giao dịch hoàn
toàn tùy thuộc vào sự thỏa thuận cùa các bên tham eia giao dịch, ngoại trừ
trường hợp giao dịch giữa cơ quan nhà nước với công dân hoặc giữa các cơ
quan nhà nước với nhau. Trong các trường hợp này, việc sừ dụng phương tiện
diện tử sẽ là bẳt buộc nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền quv định như vậy.
- Nguyên tắc thích ứng: chi thay đổi những aì cần thiết cho sự thích
ứng cùa luật đối với GDĐT.
- Nguyên tắc tmmg thích: luật GDĐT của quốc gia phải tưona thích với
luật quốc tế và luật cùa các đối tác thương mại chủ yếu.
- Nguyên tắc không hạn chế phạm vi áp dụng: Luật GDĐT sẽ được áp
đụng cho tất cả mọi giao dịch chứ không chỉ hạn chế trons các eiao dịch liên
quan dến thương mại. Tất nhiên sẽ có một số aiao dịch bị loại trừ (các trường
hợp loại trừ).
- Luật GDĐT là luật khung (overarching legislation), chì sứa đổi một
sổ yêu cầu (Ví dụ: vãn bản viết, chữ ký, lưu giữ bàn ehi v.v.) trong các luật và
văn hàn dưới luật khác.
Các nguyên tấc này được xây dựne dựa trên quan điểm "sự tirơne
đương ve chúc năng - Functional equivalence" cùa Luật mầu về TMĐT của
Liên hiệp quốc.
Quan điểm và nguyên tắc xây dựrm Luật GDĐT cùa một số nước dã
chứng minh điều đó. Cụ thể:
- Luật TMĐT ihống nhất cùa CANADA dược xây dựng theo nguyên
tắc "tối thiểu". Nguyên tắc căn bản trong Luật TMĐT cùa Canada là: hệ thống
điện tử không bát buộc phải ưu việt hơn (tốt hơn) hệ thống dựa trên giấy mà
nó thay thế.
- Luật GDDT của New Zealand được xây dựng dựa trên các luật mầu
về TMĐT và CKĐT của ƯNCITRAL và có tham khảo Luật GDĐT cùa
Australia (đối tác thương mại chù yếu của New Zealand).
- Luật GDDT của Thái Lan dược xây dựng dựa trên các luật mầu về
10
(ìiao dịch điện tir cỏ vén lồ nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
dịch, phương thức tiến hành giao dịch hav tinh chất cùa giao dịch.
Tuy nhiên, trong bối cảnh xây dựng khung pháp luật về GDĐT, chúng
ta vẫn cần phân loại các giao dịch đỏ để có thể thực hiện công việc hệ thống
hoá một cách dầy đù và chính xác hơn. Cụ thể là các giao dịch có thể dược
chia thành giao dịch thương mạì-dàn sự và giao dịch hành chính. Sự phân
chia này dựa trên một thực tế là trôn thế giới, các nước có hai xu hướnti khác
nhau liên quan tới điều chình pháp luật về ứng dụng công nghệ thôim tin
trone giao dịch: xu hướng thứ nhất chi ban hành pháp luật về thương mại điện
lừ có phạm vi điều chinh hẹp, bao gọn trong các hoạt động thương mại và xu
hướng thứ hai là han hành luật GDĐT điều chinh không chi các hoạt động
thương mại điện từ mà còn cả các giao dịch phi thương mại khác. Việt Nam
cũng dã bắt đầu quá trình xây dựng pháp luật bàng Luật GDĐT điều chinh
các GDĐT theo một phạm vi rộng.
Luật GDĐT chi dề cập đến các yếu tố điện tử trong giao dịch mà không
quy định các vấn đề liên quan đến giao dịch. Do GDĐT là giao dịch (vốn đã
tồn tại từ lâu trong xã hội loài người) có sir dụng còng cụ điện tứ. Hành vi
eiao dịch, từ giao dịch dân sự, lao động, hình sự, hành chính - Nhà nước dã
dược quv định trong các hộ luật khác, không dưa vào luật này. Các bèn tham
gia GDĐT trước hết phải tuân thủ các quy định của các bộ luật liên quan dcn
giao dịch và các quy định cùa luật GDĐT.
Theo khoản 3 Điều 4 Luật GDĐT 2005, GDĐT được định nghĩa là giao
dịch dược thực hiện hàng phương tiện điện tử. Nghĩa là những giao dịch được
thực hiện thông qua các phương tiện "hoạt động dựa trên công nghệ điện,
điện từ, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc
công nghệ tương tự".
Luật GDĐT cùa nhiều quốc gia trên thế giới không có khái niệm
GDD1 có yếu tố nước ngoài, vì mục đích chủ yếu của các luật này là nhàm
công nhận giá trị pháp lý của các GDĐT. Nghĩa là công nhận về mặt hình
thức giao dịch (các điều kiện, cách thức dế các giao dịch tiến hành bàng
ba (truyền eứi. chứng thực, ) là người nước ngoài.
13
Giao dịch điện lư có yếu to nước ngoải theo pháp luật Việt Nam
Các đối tượng áp dụng của I.uật GDD ỉ dược xác định như sau:
"Điều 2. Đối tirợng áp dụng
ị. Luật này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân Việt Nam tiến hành
GDĐT trên lành thô nước Cộ MỊ hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam và các tô
chức, cỏ nhân nước ngoài tiến hành GDĐT với cơ quan Nhà nước Việt Nam.
2. Luật này cũng áp dụng đổi với GDĐT có yếu tố nước ngoài nếu các
bên khônẹ có thoa thuận khác hoặc điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài
quy định áp dụng Luật này."
Theo chúng tôi, khái niệm GDĐT có yếu tổ nước ngoài cần được xác
định trên cơ sở phù hợp với Bộ luật Dân sự và nhừníĩ đặc trưng cùa GDĐT.
Đó là các eiao dịch "có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tô
chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ớ nước ngoài hoặc là các
quan hệ dân sự giữa các bên tham gia lờ công dân, tỏ chức Việt Nam nhưng
cân cừ đê xác lập, thay đối, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài,
phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sàn liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài”. Nhime khái niệm “điện từ” là không có biên giới, và việc giới hạn đối
tượng/phạm vi áp dụng bàng yếu tố "lãnh thổ” là khône hiện thực. CiDĐT là
giao dịch trên không gian ảo hay môi trường ảo, có thế vượt ra khỏi biên giới
hữu hình của quốc gia một cách dỗ dàne;. Vì thế, GDĐT có yếu tố nước ngoài
được xác định chù yếu qua yếu tố chủ thể, đổi tượng cùa quan hệ, cụ thể như
sau:
- Có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
- Các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ dc xác
lập. thay đổi. chấm dứt quan hộ dó theo pháp luật nước ngoài;
- Tài sản liên quan đến quan hệ đó ờ nước ngoài.
Mặt khác, do tính chất "mạng”, ■'■ảo" cùa các uiao dịch nên sẽ phải dựa
Chứng thư điện từ có yếu tố nước ngoài là chứng thư diện tử có một
tronc những yếu tố sau:
- Chứng thư diện tử được phát hành ở nước ngoài;
15
( licit! dịch điện tư cỏ vều tố nước nạoài theo pháp huit Việt Nam
- Trụ sở cùa tổ chức phát hành chứng thư điện từ nằm ờ nước ngoài.
Xuất phát từ những phân tích trên, chúng tôi dưa ra dịnh nghĩa sau:
quan hệ GDĐT có yếu tố nước ngoài là quan hệ GDĐT có ít nhất một trong
ba yếu tố nước ngoài sau: thử nhất, yếu tổ nước ngoài về mặt chù thể (dỏ là
trường hợp một bên giao dịch hoặc bcn cung cấp dịch vụ mạng có quốc tịch
hoặc trụ sở hoặc nơi cư trú ở nước ngoài); thứ hai, yếu tố nước ngoài về mặt
sự kiện pháp lý (dó là tarờne hợp, chữ ký điện tử được tạo ra ở nưóc ngoài
hoặc chứng thư điện từ được phát hành ờ nước ngoài); thứ ha, yếu tố nước
nuoài về mặt khách thể (đó là tnrờns hợp tài sản, đối tượng cùa GDĐT ở
nuoài lãnh thổ Việt Nam).
GDĐT có yếu tố nước ngoài có «lột số đặc tnrrm nhất định. Đe
xây dựnẹ khung pháp luật thống nhất cho GDĐT có yếu tố nước ngoài, chúng
ta cần nghiên cửu và tìm ra các dặc trưng của GDĐT. So với giao dịch truyền
thống, GDĐT có một số điểm khác biệt cơ bản sau:
- Các bên tiến hành giao dịch trône GDDT khôns tiếp xúc trực tiếp với
nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước;
- Các giao dịch thương mại truyền thống dược thực hiện với sự tồn tại
cùa khái niệm biên giới quốc gia, còn GDĐT được thực hiện troniỉ một thị
trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu). Chính vì vậy,
CÌDDT trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu. Giao dịch trcn
không gian ảo hay môi trường ảo này có thể vượt ra khòi biên giới hữu hình
của quốc aia một cách dễ dàng. Do đó, GDĐT có yếu tố nước ngoài được xác
định chù yếu qua yếu tổ chù thể, đối tượng cùa quan hệ;
- Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự thatỊi-ia của
ít nhất ba chú thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung
Thực ra, để có thể tham gia thirơntỉ mại điện tử, chính phù điện tử.
không chi doanh nghiệp cần một chồ dựa về mặt pháp lý cho các hoạt dộníỉ
giao dịch trên mạng, mà cả các cư quan hành chính, tổ chức chính trị xã hội
khác cũng cần một chế tài luật pháp để đảm bào cho các 2Íao dịch của mình
qua mạne.
17
OAI HOC Quốc GIA HA NO1
iíỤNG iÃM THÔNG TIN THƯ VIỆN
(Jiao dịch điện từ có véit tỏ nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Mặt khác một số luật đã ban hành như Luật Kẻ toán, Luật Sờ hữu trí
tuệ. Luật Hải quan cũng không khả thi được do chúng ta thiếu một khung
pháp lý trong GDDT liên quan đến các vấn đề về chừ ký điện từ, thanh toán
điện từ. luật bão hộ người tiêu dùng, luật về bảo mật thông tin và an toàn dữ
liệu
Từ các phân tích trên ta thấy việc điều chỉnh các quan hệ GDĐT có vếu
tố nước ngoài là một yêu cầu hức thiết và đến nay mới dặt vấn dồ này ra cũng
đã là muộn. Mục tiêu quan trọng của Luật GDĐT là thừa nhận giá trị pháp lv
của các giao dịch có sử dụng công cụ điện tử, hay là cùa GDĐT, tạo khuna
pháp lý cho các GDĐT, bào vệ quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp cùa các bên
eiao dịch. Trên cơ sờ cùa khung pháp lý này, GDĐT sẽ được áp dụng rộng rãi
và tạo ra hiệu ứng thúc đẩy sự phát triển của Thương mại điện tử, Chính phù
điện tử và cài cách hành chính. Tạo môi trườn a pháp lý cho việc ứng dụng
GDĐT ờ Việt Nam, góp phần phát triển kinh tể và hội nhập. Từ đó góp phần
thay đổi hiện trạng CNTT và truyền thông của Việt Nam và vị thế cùa Việt
Nam trên bản đồ thế giới.
Hạ tầng CNTT&TT cùa ta còn yếu, điều kiện kinh tế, dân trí và khả
năng truy nhập mạng của người dân còn hạn chế, do vậy khi diều chỉnh quan
hệ GDĐT cần cân nhắc và xét đến các yếu tố trên. Luật GDĐT ra đời sẽ tạo ra
khung pháp lý và khuyến khích các bên giao dịch dùne công cụ điện tử, song
không vì sự ra đời cùa luật mà bắt buộc các bên giao dịch phải sứ dụng cône
nhóm giải pháp. Thứ nhất là nâng cao nănc lực của toàn xà hội về nhận thức,
kinh tế xã hội và tồ chức triển khai. Tiếp đó là phát triển nguồn lực và nguồn
tài chính to lớn từ các dự án thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Cuối cùng là
tạo môi trường hoàn thiện cả về mặt pháp lý, hợp tác và cơ chế thị trường
lành mạnh.
Thứ ba, GDĐT góp phần đáp ừng các cam kết quốc tể.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam dã gia nhập WTO.
Việc xây dựng các luật sở hữu trí tuệ, GDĐT, công nghệ thông tin là một
tronc nhữne yêu cầu bẳt buộc đề thực hiện các cam kết tronu wTO. Hơn nữa,
19
Giao dịch điện từ cỏ yếu tồ nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
với tư cách là thành viên của APKC, nước ta cũng dang tích cực tham gia và
ùng hộ '“Chương trình hành dộng chung" của khối về thực hiện “thương mại
phi giấy tờ” vào năm 2005 đổi với các nước phát triển và 2010 với các nước
dang phát triển. Việt Nam cũng tích cực tham gia vào lộ trình tự do hoá của
Hiệp định khung e-ASEAN và thực hiện theo "Các nguyên tẩc chi dạo
Thương mại điện tử" mà các nước trong khối dã thông qua. Năm 2000. Thủ
tướng Chính phù đã ký kết Hiệp định khung ASEAN điện tứ với hai nội dung
quan trọng là Thương mại điện tir và Chính phù điện tử. í)ế chù độne hội
nhập và đáp ứng những đòi hỏi cùa pháp luật quốc tế, luật pháp của nước ta
cần phải hoàn thiện để có thể hoà nhập và theo kịp các nước trong khu vực và
trên thể giới. Chính vì vậy, việc điều chỉnh các GDĐT có yểu tố nước ngoài
theo một khunu pháp luật hoàn chinh chính là nhầm đàm hảo ycu cầu đổi với
các cam kết quốc tế của Việt Nam.
1.4. Cơ sở pháp luật điều chinh quan hệ giao dịch điện từ có yếu tố
nước ngoài
1.4.1. Các vản bản pháp luật Việt Nam
Sự ra đời cùa GDĐT là một bước phát triển mới trong hoạt động kinh
tế, thương mại. Do vậy, ờ góc dợ pháp lý thì các quy dịnh trong hoạt đụntì
kinh tế thương mại cũng phải có những điều chỉnh thích hợp. Một số nước
nhiều mức dộ khác nhau, những quy định về thương mại điện tử chưa được
phản ánh tương xứng trong Luật Thương mại.
Luật Hải quan (sửa đổi) 2005 so với Luật 2001 đã bổ sung một số quy
định về trinh tự khai hải quan điện tử, địa điểm khai, hồ sơ hài quan điện từ.
thú tục hài quan đổi với hàng hóa xuất nhập khẩu hang thirímg mại điện tử.
Trong điều kiện hiện nay thì việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ càng trở
nên quan trọrm hơn bao bao giờ hết. vẩn đề quyền sờ hữu trí tuệ và chuyển
giao cône nghệ dã dược pháp luật Việt Nam ghi nhận tại phần thứ sáu Bộ luật
dân sự 1995 và dược cụ thè hoá tronu nhiều văn bàn dưới luật như: Nahị định
số 63 - CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp, Nghị
dịnh số 76 - CP ngàv 29/11/1996 hướng dần thi hành một sổ quy định về
21